|
Cánh cửa giao lưu
rộng mở nếu hứa hẹn một sự đổi thay nhanh chóng cho quê hương trên nhiều lãnh
vực, ắt sẽ nẩy sinh không ít những hiện tượng dị ứng có nguy cơ phân hủy mọi giá
trị cội nguồn.
Trong tinh thần ấy,
sự tái xuất hiện gần đây của bài thơ „ÔNG ĐỒ“ tưởng chừng là một lời nhắc nhở
dịu dàng và ý nghĩa. Rằng - lịch sử rất có thể sẽ được lặp lại, dưới hình thức
này hay hình thức khác - và bao nhiêu thế hệ „ông đồ“ nữa rồi sẽ tiếp tục chìm
khuất trong những cuộc bể dâu dâu bể bất tận ?
* * *
Chúng ta - nhất là
những ai ký ức còn sâu đậm về một thời xuân xa nào đó, hẳn chưa quên hình ảnh :
Mỗi năm hoa đào nở,
Lại thấy ông đồ già.
Bày mực tàu giấy đỏ,
Bên phố đông người qua.
Vâng, ông đồ - những
ông đồ bằng xương bằng thịt, áo the khăn xếp ! Bóng dáng có thật, đại diện một
lớp người đã đi qua trong cõi đời này vào thời kỳ Nho mạt mà khoa thi Hương cuối
cùng (1) vào giữa thập niên 20 là „nhát gươm ân huệ“ kết thúc nền tảng của một
hệ thống văn hóa trải dài tự ngàn năm trước.
Ông đồ, đấy là những
sĩ tử thành đạt hay chưa thành đạt - song nếu không sinh nhầm thế kỷ, hoạn lộ
hẳn còn đó chờ đợi họ một sự đổi đời. Ông đồ cũng có thể là những dật dân mỏi
mệt chốn quan trường, tự nguyện lui về sử dụng bút nghiên như là một phương tiện
truyền đời và tải đạo.
Ở đây, ông đồ của Vũ
đình Liên - đúng hơn, ông đồ của triều Nguyễn cận kim còn là chứng nhân chẳng
đặng đừng của một thế hệ những con người đang rơi dần vào sự bế tắc cùng với sự
bế tắc của đất nuớc. Sự bế tắc đã dẫn ông đồ đến việc mưu sinh bằng cách bán chữ
giữa màn trời chiếu đất.
Sau khi chiếm đóng và
toan tính đặt quyền bảo hộ lên toàn cõi Việt Nam bằng sức mạnh quân sự, khởi từ
hòa ước Nhâm Tuất (1862) buộc triều đình Huế phải cắt đất giao quyền - thực dân
Pháp dựa vào chữ Quốc Ngữ như một yếu tố chiến lược nhằm nhanh chóng triệt tiêu
vị trí độc tôn của Hán tự, quyết đẩy lùi ảnh hưởng của Trung Quốc.
Là kết quả của quá
trình tiếp cận Đông Tây, thứ sinh ngữ - „chữ Việt gốc La-tinh“ - được khai sinh
bởi một giáo sĩ Cơ đốc (Alexandre de Rhodes) do dễ đọc dễ viết đã thúc đẩy tinh
thần cầu học ở những ai nuôi tham vọng tiến thân trong một xã hội đang dần được
Âu hóa.
Không những thế, chữ
quốc ngữ còn thỏa mãn khát vọng thầm kín tự bao đời của một dân tộc vốn mặc cảm
lệ thuộc hệ thống văn tự phương Bắc. Từng cuộc cách mạng Hán Nôm hằng trăm năm
trước vào các triều đại Trần, Hồ hay Nguyễn (Quang Trung) chẳng là những thử
nghiệm chơi vơi đã nói lên nỗi niềm cay đắng đó ? Thêm nữa, bấy nhiêu tang tóc
cùng sự phân hóa trong các thập niên tiếp theo thừa đủ cho nhiều thế hệ ông đồ
Hán học rơi dần vào sự lãng quên ngay trên chính quê hương, không hiểu có còn là
quê hương của mình không ?
Thay vì đã đến cận kề
với vai trò cầm cân nẩy mực, họ bị hất bắn ra khỏi giấc mộng Nam Kha, đối đầu
thực tế : kẻ sĩ sống không vì cơm áo, nhưng cơm áo vốn cần thiết để tồn tại.
Ông đồ dẫu muốn dẫu
không, đành… xuống núi !
Dạy học ư ? - Giữa
buổi giao thời lấy đâu ra môn đệ.
Quẳng bút lông đi,
giắt bút chì ư ? - Tuổi tác tàn phai cùng sĩ khí nhà nho không cho phép.
Trước áp lực của thời
thế, chỉ còn lại với ông đồ một khung cửa hẹp. Ở đấy ông đồ còn có cơ may gần
gũi với bút nghiên, tiếp tục rao giảng đạo thánh hiền : viết câu đối đỏ !
Một sự lựa chọn không
là tối ưu nhưng ý nghĩa của sự bám víu một cách vô vọng vào phẩm chất giai cấp,
dẫu sao cũng giúp ông đồ biện minh cho sự tồn tại đáng thương của mình. Sự tồn
tại của những giá trị được xem là tinh túy đông phương trước sức tấn công ồ ạt
của chủ nghĩa phương tây thực dụng.
Có chăng tấm lòng
trung trinh vị quốc của một thế hệ kẻ sĩ mà ông đồ đang là hiện thân mỉa mai và
đau đớn :
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi,
Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ ? (2)
May mắn xiết bao, vẫn
còn đó những kẻ chưa vội quên thú vui xuân thời thượng lúc bấy giờ qua câu liễn
đối. Một thiểu số thị dân kia vô tình nuôi sống ông đồ không chỉ bằng đồng tiền
thuê viết. Vượt lên trên những đồng tiền ấy là giá trị tinh thần của những lời
tán thưởng hào phóng :
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài.
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay.
Ai đã từng mục kích
hình ảnh những nhà nho xưa khi họ trầm ngâm bên trang giấy đỏ và nghiên mực tàu,
ắt sẽ khó quên sự khác biệt dị thường trong lối cầm bút cùng nét chữ tượng hình,
đậm nhạt chấm phá - viết cứ như vẽ, chữ tựa hồ tranh !
Dẫu chưa đạt đến
trình độ đưa “cái thần“ vào chữ viết như một tay tử tù (3) của thời vang bóng,
ít ra ông đồ cũng còn lại những ngón tay hoa. Trên bước đường cùng với chút tài
mọn tuy có lỡ làng chăng, ông đồ ngỡ vẫn còn một góc đời riêng nhằm an bần lạc
đạo hoặc thậm chí để ngậm ngùi !
Nhưng không, cuộc
sống dễ gì cho phép ai trong chúng ta ngâm mình quá lâu trong niềm vui, càng
không thể chôn chân mãi bên cạnh nỗi buồn. Huống gì, ông đồ vốn dĩ là cái „chứng
tích của môt thời tàn“ sao có thể giữ được những điều ông muốn giữ :
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu ?
Từ một hoạt cảnh đáng
lạc quan chợt dưng rớt xuống hai dòng thơ năm chữ, vẫn sân khấu ấy và vở diễn ấy
nhưng người nghệ sĩ già đã mất đi công chúng. Ánh đèn dọi xuống sàn hoa trở màu
và số phận nhân vật chuyển sang một tình huống mới, quạnh quẽ lẫn hắt hiu :
Giấy đỏ buồn không thắm,
Mực đọng trong
nghiên sầu.
Nền học cũ nặng tính từ chương, con đường tiến thân bằng khoa bảng, giấc mơ công
hầu võng lọng và hoài bão vẫy vùng kinh bang tế thế… phút chốc tan biến. Đâu nữa
bến bờ phân cách giữa hư và thực, giữa động và tĩnh trong cái thế giới khói
sương mờ nhân ảnh đang vây phủ ông đồ ngày đó :
Ông đồ vẫn còn đấy
Qua đường không ai
hay !
Lá vàng rơi
trên giấy,
Ngoài đường
mưa bụi bay.
Màu sắc tàn úa của những chiếc lá vàng hiếm hoi còn sót lại từ mùa thu cũ hay
nỗi niềm ẩn dấu của một con người thất thời lỡ vận ? Ông đồ vẫn ngồi đấy, nhẩm
đếm từng nhịp chân qua hay rình rập bước đi của thời gian trong nỗi lạnh lùng và
tuyệt vọng ?
Hình ảnh những chiếc lá rơi rơi và từng hạt mưa bay bay có là biểu tượng của một
thời đại, một đất nước nặng mang thân phận nhược tiểu và đang trong một bối cảnh
tang thương biến hải ?
Người thuê viết nay đâu hay còn đó, ông đồ vẫn còn đấy hay đã đi rồi ? Trên con
phố cũ, mạch đời vẫn tuôn chảy nhưng lòng người do đâu đã dửng dưng và hóa đá ?
Phải chăng, rơi đến tận cùng của sự xuống cấp hay bị hút sâu vào cỗ máy thực
dụng - cả hai, ông đồ lẫn người thuê viết do bản năng tự tồn đã trở nên vô cảm
và băng giá ?
Không, ông đồ không thể là những “thương nữ bất tri” cách giang do xướng… đành
rằng từ thuở cắp sách học đạo, ông đồ tất đã thừa hiểu lẽ biến dịch của đất trời
và muôn vật ?
Nhưng sao giờ đây ông đồ chừng như có chiều buông lơi và phó mặc, hóa thân và
miễn nhiễm trước sự thăng trầm ? Có thật ông đồ muốn khơi động mối thương tâm ở
chúng ta hay toan tính xoay lại cảnh đời song thất bại (4) - “nghiêng cánh
nhạn tách mái rừng Nhan Khổng - vẫy đuôi kình toan vượt bể Trình Chu” ? (5)
Chúng ta nhiệt tình quá chăng, khi trao gởi cho con người lạc điệu và khiêm tốn
ấy sứ mệnh lệch trời của một Cao Chu Thần tài hoa và khí phách ? Hay vốn nặng
lòng tiếc thương và trân trọng, vô tình chúng ta đã trùm phủ “cái tôi” chủ quan
và hiện đại lên pho tượng cổ vô giá do đã xanh rêu ?
Vẫn biết đồng cảm là thái độ nhân bản, nhưng đem sự xót thương vô cố gởi đến các
bậc tiền bối - vốn không hề tỏ dấu sẵn lòng tiếp nhận - là một xúc phạm gây buồn
tủi. Là gián tiếp hạ thấp phẩm cách của một lớp sĩ phu từng là bình phong che
chắn phần hồn của cả dân tộc. Nhất là vào giai đoạn đất nước đang đối diện với
mối hiểm họa bị xâm thực bởi một hệ tư tưởng ngoại nhập chưa qua quá trình thử
thách và gạn lọc ?
Đồng hóa ông đồ với “những kẻ thân tàn ma dại” (6) cũng thế, có là cách nhìn
thấu suốt hay chỉ là sự cường điệu đầy ngụy tín về thân phận của những nhà nho
trong buổi hoàng hôn Hán học ?
Mỉa mai thay đối tượng bị cường điệu đã không một lần phản bác hoặc cơ hội để
vong thân : “ông đồ” không còn nữa. Ít ra với những ai, vốn chỉ quen với sự tồn
tại qua thứ hình hài cát bụi trên con phố ấy :
Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông
đồ xưa.
Ấy
thế, hoa lá vẫn reo vui chào đón xuân về - “đình thụ bất tri nhân khứ tận -
xuân lai hoàn phát cựu thời hoa” - vâng, hoa lá nào của riêng ai nên chúng
màng chi việc người đi đâu về đâu…
Song giữa con người với con người, chúng ta làm sao có thể tĩnh tâm trước sự ra
đi vĩnh viễn của ai đó vốn rất gần gũi. Sự ra đi ấy thường dễ đánh thức tự tâm
khảm những kẻ ở lại nỗi dằn vặt về một sự thất thố lắm lúc không có thật. Hơn
thế, tính cách đến và đi quá đỗi âm thầm của hạt bụi vô ưu ấy càng khiến chúng
ta thêm day dứt để rồi thảng thốt hỏi nhau như đã tự hỏi mình :
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu
bây giờ ?
Điều chờ đợi không nhất thiết phải là một câu trả lời cụ thể, bởi đấy có thể là
sự cảm thán xuất phát tự đáy lòng người thuê viết năm xưa trở lại, của khách
vãng lai ba trăm năm sau nữa ? Cũng có thể là âm hưởng vọng tự hư vô, là tiếng
chuông gọi hồn dội ngược vào trái tim những ai hơn một lần dừng chân bên thơ và
nhớ lại ?
Nhưng thôi - tất cả sự vọng động sẽ trở nên thừa thãi, chỉ khiến lòng chúng ta
thêm đau và rơi nước mắt.
Đâu có nghĩa gì thứ xác thân bọt bèo trôi giạt, mỗi khi ông đồ tự thuở bút
nghiên vốn đã chín muồi quan niệm sống gởi thác về. Điều khiến chúng ta tưởng
nhớ và ngậm ngùi chính là những gì ông đồ để lại : một phong cách kẻ sĩ, một ý
thức công dân cùng lối ứng xử cao nhã của một con người dẫu bị thời thế dập vùi
không thương không tiếc.
Thử hình dung ông đồ trong một nhân cách trái lại “tối rượu sâm banh sáng sữa
bò” hoặc một ông đồ nặng lời nguyền rủa mọi sự đổi thay chỉ vì cá nhân mất đi
những quyền lợi. Thử hỏi sự tồn tại của một ông đồ vuột mất linh hồn đến thế
liệu còn gì đáng gọi là dư âm, dư ảnh đánh động lương tâm trót nhỡ mỏi mòn tự
lâu lắm rồi của mỗi chúng ta ?
Cũng cảnh cũng người nhưng người và cảnh đâu dễ thành thơ, nếu nhà thơ không là
kẻ tri âm hay đồng điệu.
Vũ
đình Liên đã thổi linh hồn vào cảnh vật qua sự vận dụng ngôn ngữ khiến hằn lên
phần hồn của nhân vật, thơ từ đấy hóa thân cùng người trở nên bất tử !
Một trăm từ gói trọn trong năm khổ thơ ngắn của bài thơ năm chữ, tưởng như một
đoạn văn xuôi miêu tả hiện thực. Dẫu rằng việc chọn mùa xuân thấm thoắt tạo nền
tương phản để khắc họa mối cảm hoài, xưa nay là điều không hiếm. Tâm trạng hoài
cổ cũng vậy là xu hướng triền miên, muôn nơi và muôn thuở. Tuy nhiên, phối hợp
mùa hoa đào nở với cảnh nhộn nhịp trên đường phố nhằm chuyển tải một nội dung
đầy tính bi kịch của một thời đại, qua một nhân vật trầm tư hơn tượng đá là một
sự lựa chọn không đơn giản.
Lạ
lùng thay “ÔNG ĐỒ” là một bài thơ mới, càng ngạc nhiên thay trên chiếu thơ dành
riêng cho những nhà thơ mới lại có sự hiện diện nghiêm túc của một nhà thơ tưởng
rằng… rất cũ : tác giả bài thơ “ÔNG ĐỒ” !
Phảng phất tứ thơ Đường thi, một “hoa đào chốn cũ” của Thôi Hộ se thắt và lãng
mạn :
Nhân diện bất tri hà xứ
khứ,
Đào hoa y cựu tiếu đông phong (7)
hay như tiếng thở dài “khuê oán” gợi nhớ một Vương Xương Linh :
Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,
Xuân nhật ngưng trang
thượng thúy lâu.
Hốt kiến mạch đầu dương
liễu sắc,
Hối giao phu tế mịch
phong hầu (8)
Nên còn đó ít nhiều ở “ÔNG ĐỒ” thứ âm hưởng cô đọng và hàm súc.
Nhân vật của thơ - ông đồ, bên trong cái vỏ bọc vô vi là một cõi lòng : buồn
riêng chưa đủ, buồn nỗi buồn chung đất nước.
Nền học cũ đã lỗi thời nhưng phủ nhận là phủ nhận chính mình, điều ông đồ không
thể ? Tiếp nhận một nguồn văn hóa đổ bộ cùng lúc với sự chà đạp quyền tự chủ của
nước nhà, liệu có bất tri ?
Xót thay, nguồn văn hóa này lại mang đến chất liệu hình thành ước mơ chung của
cả một dân tộc : ước mơ sở hữu một thứ chữ viết, Quốc Ngữ !
Với tư cách công dân, ông đồ không thể gạt mình ra khỏi mơ ước đó. Điều này khả
dĩ giúp chúng ta giải thích được thái độ trầm tĩnh của ông đồ trước sự thờ ơ của
nhân tình thế thái ?
Thay vì là nhà nho cực đoan và vị kỷ, ông đồ lại là một kẻ sĩ luôn giữ trọn đạo
tâm vừa thức thời theo vận nước. Xót mình nhưng không ai oán, ông đồ chấp nhận
lui về giữ lấy đạo lý hạ tầng để bên cạnh niềm tủi nhục vong quốc, dân tộc sẽ có
cơ hội hoàn chỉnh nền độc lập non trẻ của “chữ viết” !
Và
biết đâu sẽ có một sự phục sinh dựa vào chân lý “có chữ viết còn chữ viết,
nước ta còn dân ta còn” - sự lui về ấy không có nghĩa là cởi giáp quy hàng :
ông đồ không là kẻ chiến bại.
Sự
im lặng của ông đồ, lắm lúc còn sáng giá hơn cả những lời biện minh hay giải
thích.
Chú thích:
(1) về khoa thi Hương cuối cùng vào năm 1915 hay 1918 ? Theo luật định từ
năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) thì cứ 3 năm thi một khoa, thi Hương vào các năm Tí,
Ngọ, Mão, Dậu và thi Hội vào các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Từ khi thực dân Pháp
có mặt tại Việt Nam, chế độ thi cử đã ít nhiều thay đổi như 1909 có thi thêm chữ
Việt (quốc ngữ) và đến 1915 thì khoa thi Hương cuối bị xóa bỏ ứng với năm Mão
(Ất Mão) thì hợp lý hơn thay vì năm Mậu Ngọ (1918).
(2) thơ Nguyễn
Khuyến
(3) nhân vật Huấn
Cao có tài thư pháp trong tập Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân.
(4) Nguyễn tấn Long
- Nguyễn hữu Trọng (bình luận)
(5) Cao Bá Quát
(phú)
(6) Hoài Chân - Hoài
Thanh
(7) thơ Thôi Hộ (diễn
ý: người xưa chẳng hiểu trôi giạt phương nào, nhưng hoa đào trong vườn cũ vẫn
còn đó cười cợt với gió xuân)
(8) Xuân về người
thiếu phụ ngưng trang điểm, thanh thản rời phòng khuê bước lên lầu, chợt thấy
sắc cây liễu đổi mới đâm ra hối tiếc đã xui chồng đi tìm công
danh.
NGUYỄN VĂN SA.
nguyennguyensa@hotmail.com
Trở về Trang Chính |