HUẾ ƠI, ĐỪNG TỰ HỦY MÌNH !



Nguyễn Văn Sa

 

Chuyện kể :

„Một du khách nước ngoài bước vào một cửa hàng tranh. Đảo ngược đảo xuôi, cuối cùng khi ngoái nhìn vào một góc phòng mắt ông sáng hẳn lên : một bức tranh !

Vâng, một bức trắng đen ít nhiều đã… ngã màu sương khói !

Nét vẽ còn rất ngượng nghịu và thứ bột thô được sử dụng không những nói lên sự nghèo khó, còn phản ánh một nỗi đam mê hội họa tràn ngập của tác giả. Nhưng bộ dạng nhân vật trong tranh, nhất là „ánh mắt“ mới khiến ông thực sự rung cảm – „Trên con đường mòn và dưới bầu trời đầy mây, một lão tiều ốm yếu khom người nửa muốn đặt gánh xuống, nửa phân vân hướng về phía khu rừng xa“ -  và… chỉ thế thôi !

Khách bập bẹ đôi câu tiếng Việt, gởi trước tiền và hứa trở lại trao đủ sẽ mang tranh đi.

Hẳn bán được giá hời một món hàng ngỡ đã xanh rêu, chủ hàng tranh toan đóng cửa sớm. Song anh ta chợt phát hiện một chi tiết „thiếu“ trầm trọng : chiếc rìu ! Sẵn cọ sẵn bột và khá khéo tay, anh „phết“ vào vị trí đằng sau đòn quang một chiếc rìu nhẵn bóng – „thế chứ, tiều phu sao không mang rìu“ rồi lẩm nhẩm ra chiều đắc ý. Nhưng bà vợ - một thiếu phụ trẻ đẹp đứng cạnh, chừng như cố nén một tiếng thở dài.

Hôm sau khách đến, đăm đăm nhìn chiếc rìu như nhìn một vật thể lạ.

Anh chủ hàng tranh vô tình không hiểu, nhưng người vợ chết lặng cho đến khi vị khách tay không ra về. Một sự đồng cảm gây thổn thức bởi tác giả của bức tranh không ai khác hơn chính bà, cựu sinh viên trường Mỹ thuật. Bà vẽ bức tranh khi chưa vào trường, ký ức về một chuyến chạy loạn lên vùng trung du ngày còn bé. Nhân vật trong tranh là có thật, lão tiều dọc đường gánh củi về sực nhớ đã bỏ quên chiếc rìu trong rừng. Rừng đã quá xa và đường về thôn đâu phải gần, chiếc rìu là phương tiện mưu sinh duy nhất nếu không quay lại sẽ mất. Nhưng chiều đang xuống, mưa lại sắp rơi… lão tiều tội nghiệp tiến thối lưỡng nan.

Giờ đây sống dậy giấc mơ xưa, bà đứng khuất trong góc tối một mình khóc lặng lẽ.

                                                                              * * *

Huế của hôm nay chính là bức tranh được phết thêm „chiếc rìu -  thiện chí và thực dụng“ ấy !

Tiếc thay, cái „thiếu - tạo hồn“ thể hiện qua ánh mắt phân vân của nhân vật lão tiều trong tranh, do sự hiện hữu sau đó của chiếc rìu đã khiến bức tranh mất đi ý nghĩa đích thực của nó.

Thiện chí mang vung vãi cùng tính thực dụng của kinh tế thị trường chẳng khác gì chiếc rìu được thêm vào kia, lắm lúc giết hại dần mòn nghệ thuật hay nói đúng hơn là làm tiêu hao mà không hề hay biết những gì được gọi là di sản văn hóa.

Vốn hữu tình và trầm mặc (sông núi, cung điện, lăng tẩm, nhà vườn, truyền thống sinh hoạt…) nhưng thời tiết thì thường xuyên dỗi hờn và không gian hạn hẹp, vậy mà Huế đang phát triển thừa những thứ lẽ ra nên… thiếu. Có thể có những thứ nơi khác rất cần như Hội An với mô hình phố cổ, Nam Bộ với hệ thống xa lộ dọc ngang… Nhưng với Huế, thử hình dung một chi tiết rất nhỏ thôi : Huế sẽ ra sao nếu trên dòng Hương Giang có sự hiện diện của các con phà công nghiệp thay cho từng chiếc thuyền neo trầm tư bên những bến đá ?

Không chỉ Huế mà mỗi vùng đất phải chấp nhận một số „cái thiếu“ hoặc „cái thừa“ bổ sung cho nhau như chấp nhận sự đầy vơi đặc trưng mang tính triết lý, nhân sinh lẫn thời thượng của nó. Cái „thiếu“ núi đồi trùng điệp (nhưng thừa dư sông nước cùng ruộng lúa thẳng cánh cò bay) của Miền Đồng Bằng Sông Cửu Long chẳng đã nuôi sống bao vùng đất cheo leo, biển bờ muối mặn với những danh thắng dọc suốt từ Nam chí Bắc (Lang-Biang, Phong Nha, Đồ Sơn, Sapa, Hạ Long, Yên Tử…) hay sao ?

 Chính những “cái thiếu“ khiến Huế đáng được nâng niu, tăng sức quyến rũ và gây xao xuyến : thiếu khách sạn cao tầng, thiếu nhà hàng xanh xanh đỏ đỏ… Biết dừng lại ở „những cái thiếu không đâu có được“ cũng là một phương thức bảo tồn di sản hơn là cố nâng Huế lên ngang tầm hiện đại và tân kỳ một cách vô nghĩa và vô vọng về mặt tiện nghi cũng như kiến trúc. Khai thác mặt bằng du lịch nếu đánh mất sự cân đối về tổng thể và lãng quên yếu tố tâm linh, mời gọi sự hội nhập của những phương tiện vãng lai hiện đại nếu để làm biến dạng hay xé nhỏ cảnh quan, phá vỡ nếp sống của cư dân cùng phong hóa bản địa… liệu có là phương sách đầu tư Huế bền lâu và hữu hiệu ?

Giữa một chùm kiến trúc cổ kính đậm dấu văn vật, Huế sẽ còn bao nhiêu khoảng trống màu xanh, từng con đường nhỏ, những bến sông trăng và giọng hò đưa lơi lả trong đêm yên bình ?

Huế có còn là cõi mơ để những ai trên đường xa xứ trót nhỡ vong thân tìm về… „nhìn nắng hàng cau nắng mới lên“ ? Những ai sau một lần đến sẽ nhiều lần trở lại… „đập cổ kính ra tìm lấy bóng“ ? Những ai hằng muốn trốn chạy cảnh ngựa xe mắc cửi và sự vây phủ thường xuyên của hàng hàng lớp lớp những siêu đô thị thiếu vắng linh hồn nhằm đánh thức „cái tâm“ và trấn an „cái tôi“  vốn dễ dị ứng ?

Với tốc độ tăng trưởng hoành tráng lẫn tự phát như hiện nay trên nhiều bình diện, Huế có còn là cố đô nhỏ xíu để mà nhớ để mà thương, để mà vương vấn : Huế ơi, đừng tự hủy mình !

                                   

    NGUYỄN VĂN SA.

   nguyennguyensa@hotmail.com

                                                                                  

 

 

 Trở về Trang Chính