|
Để miêu tả sự đói nghèo cùng cực
của đại bộ phận người dân nông thôn thời Pháp thuộc, nhà văn Thạch Lam chưng ra
hình ảnh một gia đình – „nhà mẹ Lê“ với cái ổ rơm - trong đó… „chó mẹ chó con
lúc nhúc“ !
Ngỡ đấy chỉ là những thước phim
quay chậm về một quá khứ vốn đã xa xôi và ngậm ngùi. Nhưng không, giữa lòng một
thành phố lớn bậc nhất đất nước mà hơn một thập niên gần đây, mọi cư dân hầu như
đều được ăn ngon mặc đẹp này - đâu đấy, vẫn còn có những con người đành phải
sống dưới mức thậm khổ. Xót thay, những con người ấy lại là đám trẻ con, hoặc
vừa rời vú mẹ hoặc từ lâu không rõ bố mẹ là ai. Một số có bố mẹ, song đưa đón đi
về không chừng không đổi, nói gì chuyện cơm áo thất thường bữa đói bữa no.
Tựa những cây non, lũ trẻ hiếu
động luôn vươn tới nơi đâu giúp chúng nẩy nở. Than ôi, trên năm chục đứa trẻ con
nhà nghèo, bằng cách này hay cách khác được quy tụ về đây - ngôi chùa Từ Hạnh
đang xây dang dở, mỗi ngày đều có thói quen cúi lom khom trên sân chùa, nhặt
nhạnh từng thứ có thể chơi hoặc giúp các cháu hình dung ra đấy là thứ đồ chơi
dành riêng cho trẻ. Vài ba viên sỏi óng ánh, năm bảy con búp bê cụt tay rụng tóc
nào đấy… Đâu có nề chi, bởi trẻ… “vốn nghe được những điều vô thanh, thấy được
những điều vô hình“ nên chỉ bấy nhiêu thôi, cộng hưởng với trí tưởng tượng cũng
gíup chúng hội đủ một thế giới để đùa vui…
Nhưng với chúng ta, liệu có
tránh khỏi chạnh lòng và tự hỏi – „các cháu thực sự được sinh ra để sống hay
ngẫu nhiên có mặt trên đời chỉ do bố mẹ sau một… cơn vui ?“ … Bằng không, sự tồn
tại triền miên và vô vọng trong cảnh đói ăn đói mặc, đói cả niềm vui nho nhỏ của
chúng làm sao có thể giải thích được ?
Mọi sự có là duyên khởi chăng ?
Tiếc thay, sư cô Như Diệu trụ
trì chùa đồng thời là „khổ chủ“ của nhà nuôi trẻ tự phát này lại quá kiệm lời –
„có ngon cho ăn ngon, có dở cho ăn dở… nhiều ít không biết sao nữa.“ !
-Thế việc cứu khổ sẽ kéo dài
được bao lâu, thưa sư cô ?
- Không, không biết sao nữa !
Vâng… „không biết sao nữa“ ! Vẻ
nhẫn nại qua ánh mắt, sự trung thực trong câu nói khiến chúng tôi chỉ biết lặng
người. Một phụ nữ gốc chân quê mà cuộc đời qua một số người thân quen cho biết…
chỉ toàn những năm tháng khổ nhọc và bất dung - sư cô Như Diệu, khởi đầu sự
nghiệp một „bà mẹ Lê“ của lũ con trên năm mươi đứa không do mình đẻ ra, hơn mười
năm trước –„Nếu chờ đủ sức, đủ lực mới đứng ra làm thì biết bao giờ và sao gọi
là… cứu khổ…“ - sư cô ngập ngừng – „vả lại… có chi đâu“ !
Và vị sư cô sau tuổi 45 vẫn lần
lượt… „hạ sinh“ không biết bao nhiêu cô cậu đủ mọi trang lứa. Ban đầu do lòng
trắc ẩn, nhận giữ không công một vài trẻ trong thời kỳ sài đẹn mọc răng. Thêm
dăm ba cháu đang tuổi ăn cháo đái dầm, bị cha mẹ bỏ lăn bỏ lóc để chạy cơm từng
bữa. Dần dần, sư cô „bấm bụng“ nuôi ăn một số… „lên chín lên mười nhưng trông
tội nghiệp quá, nhận nuôi không thì quá liều mà làm ngơ cũng không được“.
Ai chẳng thương con, nhưng thân
phận tứ xứ đến thành phố ngụ cư, tiêu chuẩn vài ngàn tiền ăn mỗi ngày vượt quá
khả năng nên bố mẹ chúng thường xuyên“ phó mặc !
Tiếng lành đồn xa, địa chỉ nuôi
trẻ nghiệp dư của sư cô trở thành điểm hẹn cho từng cặp vợ chồng thuộc giới lao
động chân tay mang con đến, vô tình mấy ai thấu hiểu trái tim vàng từ lâu đã quá
tải. „Khách không mời“ mỗi ngày mỗi tăng, nhưng theo lời nói vui, mang tính cảm
kích của một „chuyên viên thiện nguyện“ - bác sĩ Hồ đắc Duy – „sự vụng về trong
khâu tổ chức của con người đầy hĩ xả ấy, thì trước sau… vẫn vậy“ !
Việc tắm rửa, giặt rũ cho các
cháu nếu thiếu sự trợ giúp của quý lão bà neo đơn tá túc quanh đấy, ắt chẳng
biết công tác từ thiện của sư cô sẽ đi về đâu. Chất lượng khẩu phần không thể
định trước, bởi phụ thuộc vào lòng hảo tâm của các chủ quán cơm trong khu vực,
các bà bán hàng rong, các sạp chợ sáng chiều đắc hay ế… Gạo nhận từ bá tánh,
soong chảo thiếu thì nấu làm nhiều xuất. Rau cải, gia vị, thịt cá thặng dư xin
từ các nhà hàng bất kể ươn héo hay tươi ngon. Nhận về lúc nào và bao nhiêu, sư
cô thường tính toán nhẩm và xác suất nhầm lẫn lại rất cao, cũng… „không biết sao
nữa“ !
Ấy thế, nhà trẻ của sư cô Như
Diệu vẫn tồn tại, phải chăng thánh nhân vốn đãi ngộ kẻ thiếu khả năng tính toán,
nhưng lại giàu từ tâm ?
Riêng đồ chơi cho các cháu là
một vấn đề vô cùng nan giải, không chỉ với sư cô mà còn với những ai có thiện ý.
Chị LH. từ nước ngoài về mua một số, cọng thêm một số quyên góp từ con em của
bạn bè khắp nơi : chó bông gấu nhựa, thỏ mẹ thỏ con bằng đất nung, gà gô vịt
bầu. Song gà-vịt-thỏ-gấu-chó-mèo tận hưởng „tuổi thọ“ cũng chẳng bao lâu. Mỗi
cuối ngày ra về, cháu nào cũng muốn giữ lấy làm của riêng cho mình, không cháu
nào chịu chia tay với bất cứ con vật yêu nào cả. Và dường như bố mẹ các cháu
cũng… đồng tình với khuynh hướng tư hữu bẩm sinh này của trẻ. Chẳng ai nỡ „ngọt
ngào đề nghị“ các cháu buông ra, nói gì… giựt lại đồ chơi khỏi tay chúng dẫu để
bào quản, tránh hư hao hay thất thoát.
Sân chùa vì thế chỉ một đôi ngày
là vắng hoe… loài thú. Trường hợp có con thú hoặc vật chơi nào… vô phúc còn sót
lại, cùng một lúc rơi vào mắt xanh của nhiều cháu. Rất dễ đau lòng cho những ai
nghe và thấy, từ từng đôi môi đỏ mọng ấy bung ra không thiếu những tràng chưởi
thề như ở các bến bãi. Từng vết cào cấu của những ngón tay búp măng vào mặt mũi
của nhau, hung hãn không thua thú dại tranh mồi…
Làm sao có thể trông chờ ở vị sư
cô một phép thuật trị an hữu hiệu, khi mà việc chạy ăn từng ngày cho bấy nhiêu
sinh linh đã „lực bất tòng tâm“ nếu không gọi là bi đát. Nhân sự vật lực, trình
độ quản lý, kinh nghiệm hòa giải trẻ, khả năng thuyết phục phu huynh mỗi khi sự
cố xẩy đến, sự tế nhị với từng con người có thể do… đói ăn nên cạn nghĩ. ?
Rồi với một nhân phẩm vẹn toàn
đến thế, sư cô không ít lần đã được „đền đáp“ khá phũ phàng, lắm lúc mang tính
phản giáo dục trước mắt các cháu, bắt nguồn từ thái độ vô tâm và vô ơn của bố mẹ
sinh ra các cháu. Họ thờ ơ lạnh nhạt, dẫu trước đó không lâu đã mang con đến van
nài gởi gắm. Thay vì hàm ơn, thì… sự túng quẫn hành hạ tâm trí từng ngày khiến
họ gần như trơ ra, quên hết cảm giác ứng xử sao cho phải nhẽ. Mỗi lần đón con dù
sớm hay muộn, mấy ai trong số bố mẹ các cháu chịu nói lời cám ơn hay nở một nụ
cười thân mật. Đôi lần có kẻ còn vung tay đánh đập con, kèm theo là từng tràng
chưởi đổng. Những tràng chưởi vốn đã giúp nhà văn Nam Cao cấu thành chất liệu,
nặn nên một gã Chí Phèo „lừng danh“ hơn năm mươi năm về trước.
Sự quả cảm nghiêng vai cất bớt
gánh nặng từ đồng loại cùng khổ khác, sự dấn thân quyết tìm cho ra lý do để sống
và để làm đầy trái tim vốn đã không đủ chứa bao nỗi đau thương của chính mình
của sư cô , bấy lâu được ai san sẻ ?
-„Nhưng thôi… cũng không biết nói sao nữa“
- sư cô lại cười, vui hay buồn chúng tôi nào dám hỏi. Đấy có là… „cái nghiệp“
của sư cô và nếu là „nghiệp“ thì thượng đế - sau khi trót nhỡ trao cái nghiệp ấy
cho người phụ nữ nhân hậu này, thượng đế ắt phải… thẹn thùng.
* * *
Viết bài này chúng tôi không chủ
ý mang đến cho người đọc man mác một nỗi buồn. Bởi điều đó không giúp chúng ta
phá vỡ được thành lũy của sự đói nghèo hiện vẫn tiếp tục vây bủa quanh một tầng
lớp lao động nào đó trong xã hội.
Nhưng, nói như vị sư cô trụ trì
chùa Như Diệu „không thể chờ đủ hãy làm“ - càng không thể đồng hoá mình với
những kẻ bàng quan và mộng mị, mong chờ phép lạ tự trời cao… thực chất nhẳm để
tránh né hoặc biện minh“
Đã qua rồi thời đại của những
phép màu và sư thụ động của những lời thuyết giảng.
Cần phải can thiệp tích cực dẫu
„vụng về“ nhưng đúng lúc, như vị sư cô cùng bao con người giàu thiện tâm khác
vào sự thăng trầm của cuộc sống. Nghiêm túc và thực tế cúi xuống với từng bi
kịch dẫu ở mức độ nào, góp phần lột xác những Chí Phèo cho xã hội hôm nay lẫn
ngày mai.
Bị chú:
* Chùa TỪ-HẠNH
392/1 Kinh-Dương Vương
Khu phố I - An Lạc, huyện Bình-Chánh Tp HCM .
ĐT. 8776178
NGUYỄN VĂN SA.
nguyennguyensa@hotmail.com
Trở về Trang Chính |