|
1/ CÚM A : KẾ HOẠCH ĐẠI
DỊCH ĐỨNG TRƯỚC THỬ THÁCH CỦA THỰC TẾ.
H1N1. Trong khi 7 trẻ em bị nhiễm bởi
virus đã được nhận diện trong một ngôi trường của quận XV Paris,
Tổng giám đốc y tế vừa gởi một thông điệp đến các tỉnh trưởng,
nhằm làm thích ứng việc điều trị những bệnh nhân đối với những
trường hợp nặng nhất.
Có nên đóng cửa trường ngay khi một
trường hợp cúm A (H1N1) xuất hiện trong một lớp học ?
Người ta có phải nhất thiết điện thoại gọi
Samu khi đứng trước một trường hợp cúm được nghi ngờ ? Những
người, nơi họ virus đã được chẩn đoán, có phải được nhập viện
một cách hệ thống hay không ? Hôm chủ nhật, trong khi 7 trường
hợp cúm do virus H1N1 đã được ghi nhận trong một trường học
thuộc quận XV, Paris, những câu hỏi được gia đình nêu lên này
không hẳn đã có được những câu trả lời rõ ràng nơi các thầy
thuốc của họ. Mặc dầu một kế hoạch đại dịch cúm đã được xác định
lần đầu tiên vào năm 2002 và đã được xét lại vào tháng hai vừa
qua, mặc dầu kế hoạch dự kiến một cách chi tiết thái độ xử trí,
nhưng kế hoạch này đã được soạn thảo nhằm đối phó với một virus
gia cầm, H5N1, rất độc lực, vì lẽ nó giết chết gần 60% những nạn
nhân mắc phải bệnh do nó gây ra. Thế mà, mối đe dọa đang hình
thành, là mối đe dọa của một trận dịch gây nên do một virus
khác, A (H1N1), nguồn gốc từ heo, ít hung hãn hơn nhiều (4
trường hợp tử vong đối với 1000 bệnh nhân), nhưng rất dễ lây
nhiễm và do đó có khả năng tấn công một số lượng cao các nạn
nhân. Sự chuyển kế hoạch này từ lý thuyết qua thực tế đã nêu rõ
những vấn đề hậu cần, vốn đã không được nghĩ đến trên giấy tờ.
Ngoài ra, kế hoạch cần phải được xét lại dưới ánh sáng của những
trường hợp đầu tiên của một trận đại dịch toàn cầu ít nghiêm
trọng hơn điều đã được dự kiến.
KHẢ NĂNG TIẾP
ĐÓN GIỚI HẠN
Để đương đầu với tình hình này, Tổng giám đốc
y tế đã gởi một thông tri cho tất cả các tỉnh trưởng, yêu cầu
những người bị cúm H1N1 không được nhập viện một cách hệ thống
nữa, mà chỉ những bệnh nhân có yếu tố nghiêm trọng mà thôi.
Một nhập viện như thế trong thực tiễn
có nguy cơ đụng phải các khả năng tiếp nhận hạn chế trong các
bệnh viện, cũng như ước muốn của các bệnh nhân không cảm thấy bị
bệnh nặng. Kế hoạch trước đây yêu cầu những người bị “ tình
nghi ” gọi điện thoại cho 15 để được lấy bệnh phẩm xét nghiệm ở
bệnh viện thông qua phòng cấp cứu.
Bảng thông tri của ông giám đốc y tế giờ đây yêu cầu “
thiết đặt trong những cơ sở y tế trụ sở Samu-centre 15, một
phòng khám dành để tiếp đón những trường hợp khả dĩ bị cúm H1N1.
Phòng khám này có sứ mạng thực hiện thăm khám các bệnh nhân, lấy
mẫu nghiệm mũi-họng nếu cần thiết, kê toa thuốc kháng virus,
cũng như các mặt nạ ngoại khoa và đưa ra những lời khuyến nghị
về vệ sinh trước khi cho bệnh nhân về nhà ” . Mục tiêu là tách
phòng tiếp đón những người có nguy cơ bị cúm A (H1N1) với những
bệnh nhân khác để tránh
làm khuếch tán virus
từ bệnh nhân này qua bệnh nhân khác. Hôm qua ở bệnh viện Necker,
ở phòng cấp cứu nhi, những bệnh nhi bị nghi ngờ vẫn còn nằm bên
cạnh những bệnh nhi bị một bệnh hoàn toàn khác. Một tình hình
như thế sẽ không còn có thể xảy ra được nữa. “ Tôi nghĩ rằng sự
việc cần phải được thúc bách hơn về phía các thầy thuốc thành
phố và các phòng xét nghiệm, như điều đó được thực hiện ở Hoa
Kỳ, là đất nước có số lượng các trường hợp hơn chúng ta nhiều,
G.S Antoine Flahault (chuyên viên dịch tễ học và bệnh cúm) đã
xác nhận như thế. Hiện nay, các thầy thuốc gia đình không cảm
thấy được chuẩn bị tốt trong khi họ phải là cơ sở trong tình
hình dịch hiện nay.”
Đối với G.S Patrick Berche
(trưởng khoa vi trùng học, bệnh viện Necker, Paris), còn phải đi
xa hơn : “ Bệnh nhân phải được phép ở tại nhà, kể cả để lấy bệnh
phẩm (có thể được thực hiện bởi Samu tại nhà). Nhưng điều đó chỉ
có thể với điều kiện các thầy thuốc gia đình có một kế hoạch
chính xác và rằng các thầy thuốc này phải giải thích một cách rõ
ràng các chiến lược cách ly được thiết lập để ngăn cản sự lây
nhiễm trong gia đình.”
(LE FIGARO 23/6/2009)
2/ CÚM A: ĐỨNG
TRƯỚC CÁC NGUY CƠ DỊCH BỆNH, CHÚNG TA HÃY ĐOÀN KẾT LẠI !
Alice Dautry, nữ tổng giám đốc của Viện
Pasteur (Paris), kêu gọi một sự cộng tác chặt chẽ hơn giữa những
người chủ chốt của nghành y tế, để chống lại những bệnh đang
phát khởi (maladies émergentes).
Sự lan tràn nhanh chóng khắp thế
giới của dịch bệnh cúm A (H1N1) từ Mễ Tây Cơ thể hiện một cách
hiển nhiên những nguy cơ xuất hiện những bệnh mới.
Mỗi ngày, trên thế giới, nảy sinh
những nguy cơ y tế mới. Sự đô thị hóa, sự lưu thông của các động
sản và người, những cuộc di trú, những thay đổi khí hậu : những
hiện tượng này làm dễ sự tăng sinh của các bệnh tật, cũ hoặc
mới,
có thể đột ngột biến đổi thành dịch bệnh thế
giới, có thể làm cho hàng ngàn người chết và ít nhất cũng làm tê
liệt các xã hội của chúng ta trong nhiều tuần dài.
Sự huy động mạnh mẽ của các nhà
cầm quyền Mễ Tây Cơ, của những nước bị ảnh hưởng bởi virus của
cúm A (H1N1) và của OMS, đã cho phép phản ứng nhanh. May mắn
thay, hôm nay, đó là một virus mà để chống lại chúng, chúng ta
biết cách tự bảo vệ. Tuy nhiên, có nguy cơ của một đại dịch toàn
cầu, gây nên bởi một tác nhân gây nhiễm mà chúng ta biết rất ít,
thậm chí không biết gì cả, gieo rắc bệnh tật trên bước đường đi
của nó, tạo nên những cuộc khủng hoảng kinh tế, thậm chí chính
trị.
Chúng
ta hãy nhớ đến trận dịch bệnh Chikungunya, đã giáng vào đảo La
Réunion và hôm nay lan tràn khắp mọi miền của thế giới, trong đó
có Ấn Độ.
Giải Nobel y học năm 2008, được
trao cho hai nhà nghiên cứu, G.S Françoise Barré-Sinoussi và Luc
Montagnier, vì đã khám phá ra virus của bệnh Sida, nhắc nhở cho
chúng ta rằng những căn bệnh mới, trong vòng vài năm, có thể gây
nên những trận đại dịch khủng khiếp. Ví dụ bệnh sida giết chết
hàng năm khoảng 3 triệu người trên thế giới.
Chúng ta cũng đừng quên
những bệnh nhiễm trùng đã được biết đến từ lâu.
Trận dịch cúm A (H1N1) tiếc thay đã làm lu mờ
việc tổ chức của ngày quốc tế chống bệnh sốt rét (350 triệu nạn
nhân mỗi năm và 3,3 tỷ người bị đe dọa). Cũng vậy, bệnh lao giết
chết hai triệu người mỗi năm, chủ yếu là trong những nước ít
được ưu đãi nhất.
Từ nhiều năm nay, chúng ta chứng
kiến một tinh thần liên đới thật sự, huy động những phương tiện
tài chánh và cho phép thiết đặt những chiến dịch ngăn ngừa và
những biện pháp y tế cộng đồng. Những cố gắng của những tổ chức
tư nhân tiến triển, cũng như những cố gắng của các quốc gia. Thí
dụ, Unitaid, được thành lập theo sáng kiến của nước Pháp, cho
phép mua các thuốc men để điều trị VIH/SIDA, bệnh sốt rét và
bệnh lao, nhờ đánh thuế lên các vé máy bay.
Quỹ thế giới chống bệnh sida, bệnh
lao và bệnh sốt rét, mà Pháp là nước đóng góp thứ hai, cũng nhằm
mở rộng sự tiếp cận thuốc men cho những dân chúng cần đến nhất.
Tuy vậy những đáp ứng với các dịch bệnh trong những nước nghèo
khổ nhất vẫn còn quá phụ thuộc vào sự can thiệp hậu nghiệm và
vẫn thường bị phân tán.
Vượt qua một giai đoạn mới là điều
khẩn cấp : giai đoạn dự kiến những nguy cơ đại dịch mới, dựa vào
một sự hợp tác của toàn bộ các nhà hữu trách chủ chốt. Nói một
cách khác, đó là cho phép các nước đang phát triển tự trang bị
cho mình những khả năng riêng, để chống lại bằng sự can thiệp,
nhưng cũng bằng sự nghiên cứu, sát với thực địa và các bệnh tật
nhất.
Đó chính
là tinh thần của phương pháp mà Viện Pasteur đang tiến hành, đầu
tư cho một đáp ứng ngang và được điều phối ở quy mô thế giới.
Tính chất liên ngành và sự chia sẻ kinh nghiệm, sự kết hợp của
những phương tiện tài chánh, nghiên cứu, phòng ngừa và đào tạo
trên thực địa, là chiếc chìa khóa để đảm bảo sự kiểm soát, thậm
chí sự loại bỏ của những mối đe dọa không biên giới này, và điều
này một cách dài lâu. Chương trình mà chúng tôi đang tiến hành ở
Cambodge với nhiều cơ quan, là một thí dụ đẹp của sự liên kết
quốc tế, liên kết sự nghiên cứu đa nghành, đào tạo và các hoạt
động, để phục vụ y tế cộng đồng trong một quốc gia có những
phương tiện tài chánh bị giới hạn.
Những sáng kiến hợp tác, đã được phát động,
giữa những người hữu trách chủ chốt quốc tế hay sở tại, là một
bước đầu tiên. Ngoài cuộc đấu tranh
chống lại bệnh sida, bệnh lao và bệnh sốt rét, mà chúng ta đang
tập trung phần lớn cố gắng, một phong trào chung cũng sẽ cho
phép chống lại những bệnh mới phát khởi (maladies émergentes) và
những bệnh được gọi là bị lãng quên (maladies négligées), bởi vì
ít được nghiên cứu, như bệnh gây ngủ (maladie du sommeil) hay
leshmanioses, nhưng tuy vậy ảnh hưởng sâu đậm rất nhiều dân
chúng bị bệnh.
Chúng tôi kêu gọi một sự huy động
của tất cả các người hữu trách quốc tế, tư nhân và nhà nước.
Những cơ quan nghiên cứu, đào tạo, phòng ngừa, tài trợ và giúp
đỡ phát triển, ngay từ bây giờ, phải hợp tác một cách chặt chẽ
hơn để giải quyết những vấn đề y tế đang ảnh hưởng một cách dài
lâu lên các nước nghèo hoặc đang phát triển.
Những nhà nghiên cứu, dầu phòng thí nghiệm của họ ở
nơi đâu chăng nữa, mỗi ngày đều làm việc cật lực để mang lại cho
toàn thể nhân loại những lợi ích của công cuộc khám phá.
Hôm nay
đúng là lúc hãy hợp nhất lại những cố gắng của chúng ta, liên
kết chúng với những cố gắng của toàn thể những nhà hữu trách chủ
chốt, đang ra sức để cải thiện nền y tế cộng đồng của toàn thế
giới.
(LE FIGARO 23/6/2009)
3/ CÚM A
(H1N1) : CUỘC CHẠY ĐUA GIÀNH VACCIN.
SANTE. Trong khi hầu hết các nước phương Tây đã
đặt hàng các vaccin và thông qua những thỏa thuận với các phòng
bào chế, thì các nước ở Nam bán cầu vẫn bị ảnh hưởng nhất bởi
đại dịch. Các nước này phải chăng rồi sẽ cũng được phục dịch ?
Các phòng
bào chế dược phẩm không thống nhất trước thử thách của dịch bệnh
cúm A trong các nước ở Nam bán cầu. Các nhà sản xuất vaccin
không phải tất cả đều nghe lời kêu gọi lòng hào phóng và tình
liên đới của OMS.
Làm sao cho
phép các nước nghèo đương đầu với đại dịch cúm A. Từ khi virus
mới H1N1 xuất hiện, vào tháng tư, ở Mễ Tây Cơ, vấn đề này là đối
tượng của những cuộc thảo luận gay gắt giữa OMS và các phòng bào
chế dược phẩm.
Khẩn cấp : Các nước của Nam bán cầu sắp bước vào mùa
đông, một mùa thuận lợi cho sự lan tràn của virus, trong khi
những nước này hết sức thiếu các phương tiện và hạ tầng cơ sở để
đương đầu với một trận đại dịch toàn cầu. Khoảng 85% những người
bị bệnh mãn tính ở trong những nước đang phát triển, điều này có
nghĩa là người ta sẽ tìm thấy trong những vùng này số lượng lớn
nhất những người bị nguy cơ nhiễm trùng nghiêm trọng hay chết
người bởi virus H1N1.
Tình hình
của các quốc gia này tương phản với các nước Tây phương, ở đây
những biện pháp nhanh chóng được thực hiện để bảo vệ dân chúng
của nước họ. Vào tháng năm, Hoa Kỳ đã thông qua các đơn đặt hàng
vaccin với các hãng bào chế Novartis, Sanofi-Aventis và
GlaxoSmithKline (GSK), với tổng phí 660 triệu dollars (474 triệu
Euro). Ở Pháp, một trong những nước được chuẩn bị tốt nhất, Bộ y
tế đã dành quyền ưu tiên mua 100 triệu liều vaccin nơi 3 hãng
bào chế này, với một tổng phí có thể đạt đến 1 tỷ Euro.
OMS đánh giá rằng 4,9 tỷ liều vaccin chống
bệnh cúm A sẽ có thể được chế tạo trong 12 tháng đến. Mỗi liều
phí tổn 7 đến 11 Euro, theo Daniel Vasela (hãng Novartis). Nhưng
cái giá của một điều trị hoàn chỉnh có thể cao hơn : chỉ những
thử nghiệm lâm sàng (vừa mới bắt đầu và sẽ chấm dứt không trước
tháng chín) mới cho phép xác định xem một hay hai liều sẽ cần
thiết để đảm bảo một bảo vệ đầy đủ. Dầu cho kết luận của các thử
nghiệm này như thế nào đi nữa, tổn phí của một chiến dịch chủng
ngừa là quá đắt đối với hầu hết các nước đang phát triển.
Sự lan tràn nhanh chóng của virus
mới H1N1 tạo một áp lực mạnh lên các nhà chế tạo thuốc. Margaret
Chan, nữ tổng giám đốc OMS, hôm 1/6, đã kêu gọi những nhà sản
xuất, tỏ ra hào phóng đối với những nước nghèo. “ Đây là lúc
(...) tập hợp lại nhân danh tinh thần liên đới thế giới để đảm
bảo rằng không có một nước nào sẽ bị bỏ rơi ”, bà đã tuyên bố
như vậy.
Câu trả lời của các hãng bào chế
dược phẩm hạng nặng đã không luôn luôn nhất trí. Novartis đã
tuyên bố rằng hãng không có dự kiến tặng quà vaccin chống cúm A.
Nhóm Thụy Sĩ thì bảo sẽ sẵn sàng, nhiều nhất, thỏa thuận hạ
giá. “ Để làm cho sự sản xuất có thể đứng vững được, phải
tạo nên những khuyến khích tài chánh ”, Daniel Vasella, hôm
14/6, đã biện minh như vậy trong một cuộc phỏng vấn trên site
Internet của Financial Times.
Một lập trường tương phản với lập trường cửa hãng
Sanofi-Aventis. Hôm thứ tư, 17/6, Chris Viebbacher đã tuyên bố
sẽ tặng 100 triệu liều vaccin chống cúm A và cúm gia cầm cho các
nước đang phát triển. Quà tặng này chiếm 10% tổng số liều vaccin
được sản xuất của hãng, theo những mong muốn của OMS. “ Chúng
ta đứng trước cuộc khủng hoảng toàn cầu biện minh cho những biện
pháp đặc biệt ”, Wayne Pisanon Sanofi Pasteur, phân bộ vaccin
của nhóm dược phẩm Pháp đã tuyên bố như vậy.
Trong trường hợp đại dịch trở nên nghiêm trọng, nhóm
dược phẩm này không loại bỏ việc gia tăng sự trợ giúp. “ Chúng
tôi đã ký kết những thỏa thuận dài hạn để giao các vaccin với 4
nước : Pháp, Hoa Kỳ, Úc và Ý. Các nước này sẽ được ưu tiên nhận
vaccin, Albert Garcia, phát ngôn viên của Sanofi-Pasteur đã giải
thích như vậy. Nhưng không có vấn đề cung ứng toàn bộ các vaccin
mà chúng tôi đã sản xuất. Một phần sẽ được dành cho các nước cần
đến nhất, theo thỏa thuận với OMS.”
Baxter, hãng bào chế của Hoa Kỳ,
cũng có một bài diễn văn tương tự : hãng đã cam kết “ dành một
phần sản xuất cho những nước dễ bị thương tổn nhất ”. Ngay vào
tháng đến, Baxter hy vọng sẽ giao những liều đầu tiên của một
vaccin được hiệu chính từ một giống gốc “ hoang dã ” của virus,
do CDC cung cấp, chứ không phải do OMS. Những hãng dược phẩm
khác sẽ sẵn sàng vào cuối tháng 9, thậm chí tháng 10.
Sáng kiến khác : GSK đã tái xác nhận ý định của hãng
biến đổi quà biếu 50 triệu vaccin chống cúm gia cầm cho các nước
nghèo khó nhất, thành món quà vaccin chống cúm H1N1. “ Những cử
chỉ đáng ca ngợi, một chuyên gia đã đánh giá như vậy, nhưng sẽ
không cho phép tránh được một lò thiêu sinh trong trường hợp lan
tràn nhanh chóng trong các nước nghèo, nhất là nếu virus trở
thành độc lực. Tuy vậy, điều quan tâm của chúng ta là chận đứng
đại dịch xảy ra ở Nam bán cầu, bởi vì các nước phía bắc đến lượt
mình sẽ bị tấn công vài tháng sau đó.”
Vẫn còn được tha miễn bởi virus
H1N1 (những trường hợp lẻ tẻ đã được ghi nhận ở Nam Phi và ở
Ethiopie), Châu Phi dưới Sahara có 800 triệu dân và tập trung
60% những người có huyết thanh dương tính trên thế giới. Để dập
tắt một trận đại dịch cúm, các chuyên gia cho rằng phải cần tiêm
chủng 70 đến 75% dân chúng. Điều này sẽ hàm ý huy động ít nhất
560 triệu liều vaccin, chỉ dành riêng cho vùng này của thế giới
không thôi.
(LE
MONDE 23/6/2009)
4/ VITAMINE D :
CHỐNG LẠI CÁC BỆNH TIM MẠCH ?
BS Jean-Marie Bourre, thầy
thuốc chuyên khoa dinh dưỡng học, ủy viên của Viện hàn lâm y
khoa, bình luận về công trình nghiên cứu mới đây, phát hiện vai
trò của vitamine D chống lại các nguy cơ tim
mạch.
Hỏi : Vitamine D được chế tạo bởi
cơ thể như thế nào ?
BS Jean-Marie Bourre :
Vitamine D được tổng hợp ở da, dưới tác dụng của các tia cực
tím, nhưng sự sản xuất này không đủ...nhất là sự sản xuất giảm
càng nhiều khi tuổi tác càng cao. Giữa năm 20 và 80 tuổi, sự
tổng hợp này được chia cho 7 ! Vậy hoàn toàn cần thiết phải bổ
sung vitamine D bằng một chế độ ăn uống thích hợp.
Hỏi :
Lợi ích được biết đến nhất của vitamine D là gì ?
BS
Jean-Marie Bourre : Vitamine D can thiệp trong sự khoáng hóa
xương (minéralisation osseuse), bằng cách gắn calcium lên xương
(sau khi đã đảm bảo bắt được nó trong ruột). Vitamine D cũng cho
phép tránh không cho quá nhiều calcium được thải ra trong nước
tiểu. Hàng trăm công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng
minh vai trò căn bản của yếu tố hiệu quả nhất của vitamine này :
chất dẫn xuất của nó có tên gọi hơi phức tạp :
1,25-dihydroxy-vitamine D. Chất dẫn xuất này được sinh tổng hợp
(bio-synthétisé) thành 2 giai đoạn : trước hết ở gan, rồi sau đó
ở thận. Vì vào lúc lão hóa, chức năng của thận giảm, do đó sự
sản xuất của dẫn xuất này cũng bị giảm theo.
Hỏi : Một công trình nghiên cứu rộng lớn vừa phát hiện một
tác dụng có lợi khác, lần này lên những nguy cơ tim mạch. Ông có
thể bình luận cho chúng tôi những kết quả này
BS Jean-Marie Bourre : Thử nghiệm này đã được
thực hiện ở Trung Quốc bởi các nhà nghiên cứu cộng tác với những
người Anh và đã công bố trong tạp chí khoa học xuất sắc “
Diabetes Care ”. Công trình nghiên cứu được tiến hành trên 3262
người, tuổi từ 50 đến 70 và sống ở Bắc Kinh hay Thượng Hải.
Trong máu của của họ, người ta đã đo nồng độ vitamine D, được
chế tạo và tích trữ ở gan. Kết quả : các nhà nghiên cứu đã chứng
thực rằng những người có nồng độ vitamine D thấp nhất có một sự
gia tăng các rối loạn làm dễ sự xuất hiện những bệnh tim mạch
như cao huyết áp, tăng cholestérol-huyết, nhưng cũng bệnh đái
đường và những bệnh lý khác, được tập hợp dưới tên hội chứng
chuyển hóa (syndrome métabolique). Vậy có một mối liên kết giữa
việc thiếu vitamine D và những nguy cơ tim mạch. Từ đó nảy ra ý
tưởng cho rằng, việc cho vitamine D bổ sung có thể giúp làm giảm
những nguy cơ này. Đó là những kết quả xác nhận những kết quả
của những công trình nghiên cứu khác, nhưng với quy mô ít quan
trọng hơn và mở ra những triển vọng trên bình diện ngăn ngừa.
Hỏi :
Làm sao đối phó với những nhu cầu về vitamine D của chúng ta ?
BS
Jean-Marie Bourre : Bằng cách tiêu thụ những thức ăn hiếm,
chứa vitamie D : cá (ít nhất hai lần mỗi tuần), tôm ốc ngao sò
và trứng (4 hay 5 lần mỗi ngày). Cá có nhiều vitamine D nhất là
cá trích (hareng), cá hồi (saumon), cá sardine, cá thu
(maquereau), cá hồi sông (truite). Trong số các tôm ốc ngao sò,
nổi bật là sò hến. Các công trình nghiên cứu mới đây nhất,
Suvimax, đã cho thấy rằng 65% những người Pháp đã không được
cung cấp đủ vitamine D bởi vì họ tiêu thụ không đủ cá và các hải
sản.
Hỏi : Trong những trường hợp nào ông khuyên
cho bổ sung vitamine D ?
BS
Jean-Marie Bourre : Cần cho bổ sung vitamine D một cách hệ
thống các trẻ em, những thiếu niên và những lão niên. Hoặc dưới
dạng ampoule (1/2 ampoule hai lần mỗi năm), hoặc cho mỗi ngày
với những viên thuốc liên kết calcium với vitamine D. Còn có một
khả năng khác : sự tiêu thụ các thức ăn trong đó vitamine D được
cho bổ sung một cách công nghiệp, như vài loại sữa và dầu.
Hỏi :
Những lợi ích nào khác ta có thể chờ đợi từ vitamine này ?
BS
Jean-Marie Bourre : Bằng cách tạo một nồng độ calcium trong
máu tốt, vitamine D đảm bảo sự hiện diện của calcium trong các
mô thần kinh và cơ, như vậy làm cho sự dẫn truyền của các luồng
thần kinh và sự co thắt của các cơ được tốt hơn. Mặt khác, sự
hấp thụ tốt vitamine D mang lại một tính miễn dịch tốt hơn.
(Paris-Match 11/6-17/6/2009)
5/ THAI NGHÉN
BẢO VỆ CHỐNG LẠI UNG THƯ VÚ.
Hai công trình nghiên cứu đã xác nhận giả thuyết theo đó sự sinh
đẻ có lợi cho sức khỏe. Nhóm nghiên cứu của BS Eleanor (đại học
Pittsburgh) đã chứng minh rằng các phụ nữ, đã từng cho con bú
trong ít nhất một năm, về lâu về dài đã có một nguy cơ bị bệnh
đái đuờng, cao huyết áp, tăng cholestérol-huyết ít hơn những phụ
nữ khác. Các phụ nữ này cũng có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim và
tai biến mạch máu não được giảm 10%.
Một công trình nghiên cứu khác, được thực hiện nơi
động vật, bởi BS Johana Venegas (Chase Center Philadelphia), đã
chứng minh rằng việc cho hormone bêta-HCG (duy trì sự sản xuất
progestérone) có một tác dụng mạnh chống khối u. Những con chuột
cái còn trinh đã được điều trị trong 15 ngày với hormone này,
trước khi nhận một tác nhân gây cảm ứng ung thư vú. Kết quả :
người ta đã đếm được hơn 90% các khối u nơi các động vật đã
không từng nhận hormone so với chỉ 15% nơi các động vật được
điều trị. Nếu tác dụng chống ung thư này được tìm thấy nơi
người, thì có thể được khuyên với tính cách phòng ngừa
( Paris-Match 11/6-17/6/2009)
6/ GENE GÂY BỆNH THỐNG PHONG
(GOUTTE) ĐƯỢC KHÁM PHÁ.
GENETIQUE.
Đại đa
số những người bị bệnh khớp này đều mang biến dị của một gène có
liên quan trong chuyển hóa của acide urique.
Bệnh
thống phong (goutte), được biết từ hơn 2000 năm nay, nhưng nguồn
gốc của nó vẫn còn bí ẩn. Lần đầu tiên, một biến dị chịu trách
nhiệm căn bệnh vừa được nhận diện bởi các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ
ở Baltimore. Biến dị này cho phép giải thích nguyên nhân của
bệnh thống phong, được biết từ thế kỷ XIX, đó là một nồng độ quá
mức của acide urique trong máu. Hợp chất acide urique này là một
chất bã của chuyển hóa, nhiên hậu tích tụ dưới dạng các tinh thể
trong các khớp và thận, gây nên sau đó những cơn đau khớp đáng
sợ và các sỏi thận.
Nhiều chỉ dấu cho thấy nguồn gốc một phần do di
truyền, nhất là với sự kiện là trong gần 20% các trường hợp,
bệnh thống phong đã hiện diện trong gia đình, và những thể bệnh
sớm xảy ra có thể phát khởi vào lúc đầu của thời kỳ trưởng
thành. Để tách riêng sự biến dị như là nguyên nhân của bệnh
thống phong, các nhà di truyền học của Hopkins Medical
Institution đã sử dụng những phương tiện hiện đại nhất. Các nhà
nghiên cứu đã sàng lọc bộ gène (génome) của hàng ngàn người để
phát hiện một mối liên hệ giữa những thay đổi rất nhỏ được phân
bố trên ADN và những nồng độ cao của acide urique trong máu.
Công trình nghiên cứu sự liên kết di truyền trên toàn thể bộ
gène đã mang lại kết quả : nó đã cho phép nhóm nghiên cứu của
Baltimore nhận diện một gène được gọi là ABCG2 trên nhiễm sắc
thể 4, mang một biến dị thường được thấy hơn nơi những người bị
bệnh thống phong.
Các nhà nghiên cứu sau đó đã tiêm gène này vào trong
các tế bào để nghiên cứu chức năng của protéine mà nó mã hóa.
Phương pháp đã cho phép họ không những xác định rằng protéine
này là một chất vận chuyển của acide urique trong thận mà còn
xác định rằng sự biến dị được nhận biết trong gène làm giảm đi
một nửa tính hiệu quả của chất vận chuyển này. “ Trong công
trình này, Frédéric Lioté, giáo sư tại bệnh viện Lariboisière,
Paris đã nhấn mạnh như vậy, yếu tố gây ấn tượng là chức năng của
gène và chức năng của biến thể của nó được chứng minh một cách
hoàn hảo.”
Sự biến dị cũng gây nên sự giảm
bài tiết acide urique bởi thận, triệu chứng được tìm thấy trong
90% các trường hợp của bệnh thống phong và làm gia tăng mạnh
những nguy cơ phát triển nó. Ngoài ra các tác giả đã khám phá ra
rằng, so sánh với dân gốc châu Âu, những người gốc châu Á thường
mang biến dị 3 lần nhiều hơn. Sự trùng hợp gây ngạc nhiên, khi
ta biết rằng ở Hoa Kỳ những người châu Á cũng thường bị bệnh này
3 lần nhiều hơn. Theo tính toán, các tác giả ước tính rằng sự
biến dị trực tiếp chịu trách nhiệm ít nhất 10% những trường hợp
bệnh thống phong nơi những người Mỹ gốc châu Âu.
CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG THÍCH NGHI.
Khám phá này không vì thế sẽ làm biến đổi, trong một
tương lai gần, sự điều trị các bệnh nhân, bởi vì đã có những
thuốc có hiệu quả để hủy bỏ các triệu chứng của bệnh thống phong
. “ Vấn đề đúng hơn là ở chỗ sự tuân thủ các điều trị phải được
duy trì suốt đời và đôi khi có những hạn chế khi chúng ít tương
hợp với những bệnh lý khác mà các bệnh nhân có ”, G.S Lioté đã
ghi nhận như vậy.
Điều trị hiệu quả của bệnh thống
phong nhằm theo dõi một chế độ ăn uống được thích ứng. Cần phải
tránh những món ăn giàu acide nucléique, được thải ra dưới dạng
acide urique, như thịt hay bia. Việc tiêu thụ fructose, một loại
đường thường hiện diện trong soda, cản sự bài tiết acide urique,
cũng phải được theo dõi.
(LE
FIGARO 11/6/2009)
7/ CÁC VIÊN THUỐC VITAMIN KHÔNG PHẢI LÀ NHỮNG “ VIÊN ĐẠN DIỆU
KỲ ”
Kể từ
khi Linus Pauling, nhà sinh hóa được giải thưởng Nobel, cách nay
40 năm, lần đầu tiên chủ trương dùng những liều lượng lớn
(“megadoses”) các chất dinh dưỡng thiết yếu (essential
nutrients), nhiều người đã nhiệt tình với các vitamin.
Ngày nay, khoảng ½ những người trưởng thành ở Hoa Kỳ
vẫn tiếp tục sử dụng các chất bổ sung dinh dưỡng, với tốn phí 23
tỷ dollar mỗi năm.
Nhưng các
vitamin có đáng được như vậy hay không ? Trong vài năm qua, vài
công trình nghiên cứu có chất lượng cao đã không chứng tỏ được
rằng các vitamin, khi cho thừa, ít nhất dưới dạng thuốc viên,
giúp ngăn ngừa bệnh mãn tính hay kéo dài cuộc sống.
Những tin mới nhất nhận được, sau
khi các nhà nghiên cứu, trong công trình Women’s Health
Initiative Study, đã theo dõi trong 8 năm việc sử dụng đa sinh
tố (multivitamin), trong số hơn 160.000 phụ nữ lớn tuổi. Mặc dầu
những kết quả trước đây gợi ý rằng đa sinh tố làm giảm nguy cơ
bị bệnh tim và vài loại ung thư, nhưng công trình nghiên cứu,
được công bố trong The Archives of Internal Medicine, đã không
nhận thấy lợi ích như thế.
Năm vừa qua, một công trình nghiên
cứu, trong một thập niên, đã theo dõi khoảng 15.000 thầy thuốc
nam, không ghi nhận những khác nhau về tỷ lệ ung thư hay bệnh
tim trong số những người dùng vitamine E hay C, so với những
người dùng placebo. Và vào tháng mười, kết quả của một công
trình nghiên cứu, được tiến hành trên 35.000 người đàn ông, đã
làm tiêu tan hy vọng cho rằng những liều lượng cao vitamine E và
selenium có thể hạ thấp nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt.
Dĩ nhiên, những người tiêu thụ
thường chịu những báo cáo và những lời xác nhận mâu thuẫn về
những lợi ích của các vitamin và dường như họ bị lung lạc bởi
các tin tức, khiến các chuyên gia phải rụng rời.
“ Tôi phân vân không biết tại sao
công chúng, nói chung, không biết đến những kết quả của những
thử nghiệm được làm tốt. ” Eric Klein, người điều hành công
trình nghiên cứu quốc gia cho thử nghiệm ung thư tuyến tiền
liệt, đã nói như vậy. Niềm tin của công chúng vào những lợi ích
của các vitamin và các chất dinh dưỡng không được xác minh bởi
những dữ kiện khoa học hiện có.”
Mọi người đều cần vitamin, những
chất dinh dưỡng thiết yếu mà cơ thể không thể tự sản xuất được.
Thí dụ, sự thiếu hụt vitamin C dẫn đến bệnh scorbut (scurvy), và
sự thiếu vitamin D có thể gây nên còi xương (rickets).
Nhưng một chế độ ăn uống cân bằng
cung cấp một mức đầy đủ những chất dinh dưỡng này, và ngày nay
nhiều thức ăn ưa chuộng được làm bổ thêm bởi những vitamine và
các chất khoáng dư thừa. Do đó, những bệnh gây nên do sự thiếu
hụt dinh dưỡng là hiếm xảy ra trong những nước phát triển.
Dẫu sao đi nữa, hầu hết những công
trình nghiên cứu quan trọng mới đây đã không tập trung vào những
thiếu hụt mà tìm hiểu xem những nồng độ cao vitamin có thể ngăn
ngừa hay điều trị một số bệnh mãn tính hay không. Mặc dầu từ lâu
người ta đã biết rằng những người ăn nhiều trái cây và rau giàu
chất dinh dưỡng, có những tỷ lệ mắc bệnh tim và ung thư thấp,
nhưng người ta không biết rõ là nếu uống những liều cao cùng
những chất dinh dưỡng này dưới dạng thuốc viên có đưa đến cùng
lợi ích hay không.
Vào tháng giêng, một bài báo
trong The Journal of the National Cancer Institute đã ghi nhận
rằng hầu hết các thử nghiệm đã không chứng tỏ lợi ích ung thư
của các vitamin.
Nhưng vài công trình nghiên cứu về vitamin cũng đã
cho thấy mối hại bất ngờ, như tỷ lệ ung thư phổi cao hơn trong
hai công trình nghiên cứu về sự sử dụng bêta carotene. Một công
trình nghiên cứu khác đã gợi ý một nguy cơ cao hơn bị những
polype tiền ung thư trong số những người tiêu thụ acide folique,
so với những người trong nhóm placebo.
Vào năm 2007, The Journal of the
American Medical Association đã duyệt xét lại các tỷ lệ tử vong
trong những thử nghiệm, trong đó các chất kháng oxy hóa
(antioxydants) được cho bổ sung. Trong 47 thử nghiệm với 181.000
người tham gia, tỷ lệ tử vong là 5% cao hơn nơi những người dùng
các chất chống oxy hóa. Những thủ phạm chính là vitamin A, bêta
carotene và vitamin E ; vitamin C và selenium dường như không có
tác dụng đáng kể.
( INTERNATIONAL
HERALD TRIBUNE 18/2/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr74.htm
(TSYH 74, bài số 1).
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr63.htm
( TSYH 63, bài số 2)
8/ ACIDE FOLIQUE VÀ VITAMINE B
VÀ SỰ THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG.
Cho bổ sung hàng ngày acide
folique, pyridoxine và cyanocobalamine có thể làm giảm nguy cơ
bị thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégérérescence
maculaire liée à l’âge).
Ngoài việc ngưng thuốc lá, người
thầy thuốc đến nay ít có lời khuyên để cho bệnh nhân nhằm ngăn
ngừa chứng thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA). Những dữ
kiện dịch tễ học đã cho thấy một mối liên hệ trực tiếp giữa
những nồng độ homocystéine và nguy cơ bị DMLA, tuy nhiên không
chứng minh được rằng sự giảm của nồng độ của homocystéine có thể
có một tác dụng thuận lợi.
William G.
Christen và các cộng sự viên (Brigham và Women’s Hospital,
Boston) đã thực hiện, về chủ đề này, một công trình nghiên cứu
nơi những phụ nữ có nguy cơ tim mạch cao. 5.205 người tham dự,
có tuổi 45 hoặc hơn, và bị một bệnh tim mạch vốn đã có trước đây
hay mang hai hoặc ba yếu tố nguy cơ.
Sự theo dõi đã kéo dài 7,3 năm. Trong suốt thời kỳ
này, 55 trường hợp DMLA đã được chẩn đoán trong nhóm can thiệp
(nhận các vitamine), so với 82 trong nhóm placebo. Vậy, việc sử
dụng những chất bổ sung dường như mang lại một bảo vệ chống lại
sự xuất hiện của căn bệnh có liên quan với tuổi tác này. Tuy
nhiên, người ta chưa thể xác nhận rằng khả năng bảo vệ này đúng
là do sự hạ của các nồng độ homocystéine.
(LE GENERALISTE
16/4/2009)
9/ NHỮNG NHIỄM TRÙNG BỊ LÂY TRUYỀN
BỞI CÁC NHA SĨ.
HEPATITE. Một báo cáo ở Pháp chỉ rõ nguy cơ, tuy rất thấp,
nhưng không phải là ít, của sự lây nhiễm bởi virus của viêm gan
B hay C, thậm chí của Sida, nơi các phòng khám của các nha sĩ.
Những
trường hợp chữa răng bình thường phải chăng có thể là nguồn gốc
của những nhiễm trùng nặng bởi virus ? Đối với một cá thể, nguy
cơ mắc phải HIV, virus của viêm gan B (VHB) hay virus của viêm
gan C (VHC) nơi một phòng mạch nha sĩ là rất thấp, một báo cáo
của Viện theo dõi y tế (IVS : Institut de veille sanitaire), vừa
được công bố, đã đánh giá như vậy. Tuy nhiên nguy cơ này không
hẳn là không đáng kể ở quy mô đại chúng, nếu xét đến số lượng
cao của các động tác giải phẫu răng và những khiếm khuyết trong
sự khử trùng dụng cụ, được chứng thực nơi các nha sĩ hành nghề.
Ở Pháp, theo những tính toán của IVS, mỗi năm khoảng
200 trường hợp bị lây nhiễm bởi virus của viêm gan B, có thể là
do sự khử trùng không được đầy đủ của các các giá mang dụng cụ
quay (PIR : porte-instruments rotatifs : toàn bộ các turbines và
những pièces à mains khác, truyền một chuyển động quay đến các
dụng cụ, như fraises, tiếp xúc trực tiếp với các răng được điều
trị), được sử dụng rộng rãi bởi các nha sĩ để điều trị bảo tồn
và làm răng giả. Như thế, những khiếm khuyết vệ sinh trong lãnh
vực này, trên lý thuyết, có thể gây nên những lây nhiễm bởi
virus của viêm gan C (dưới 2 trường hợp mỗi năm) hay bởi HIV
(dưới 1 mỗi năm).
Trên thực
tế, rất ít các trường hợp được chứng minh trong tư liệu y học.
Trong hầu hết các trường hợp, những virus có thể được lây truyền
bằng đường máu này, bị nhiễm phải trong những bối cảnh khác
(giao hợp, nghiện ma túy, những tai nạn do tiếp xúc với máu...).
Trường hợp đầu tiên được xác nhận của sự truyền virus của viêm
gan B từ bệnh nhân này đến bệnh nhân khác vào lúc chữa răng, đã
được báo cáo ở Hoa Kỳ vào năm 2007. “ Ở Pháp một trường hợp đang
trong vòng điều tra, nhưng chưa có gì được chứng minh, BS Bruno
Poignard của IVS đã xác nhận như vậy. Thường khó chứng minh
trách nhiệm của việc chữa răng (là những động tác rất thông
thường) trong sự lan truyền của một bệnh sida hay viêm gan. Nói
chung, đó là giả thuyết cuối cùng được thăm dò và đó là một chẩn
đoán loại trừ.”
Cách nay vài năm, Tổng giám đốc y tế đã phân phát một
hướng dẫn các khuyến nghị dành cho những nhà chuyên nghiệp, nhằm
tăng cường sự phòng ngừa những nhiễm trùng do việc chữa răng.
Nhưng mới đây, giới hữu trách y tế đã được báo động bởi các cuộc
thanh tra trong các phòng mạch của các nha sĩ trong môi trường
nhà tù. Những khuyến nghị tiệt trùng các giá mang dụng cụ quay
(PIR : porte-instruments rotatif) giữa mỗi bệnh nhân vẫn không
hẳn luôn luôn được tôn trọng. Điều chứng nhận này cũng tương tự
đối với các phòng khám tư. “ Mặc dầu những tiến bộ quan trọng đã
được chứng thực trong việc tôn trọng những quy tắc vệ sinh bởi
các nha sĩ trong những năm qua, nhưng nhiều cuộc điều tra cũng
cho thấy rằng những khiếm khuyết có thể tồn tại về vấn đề này
nơi vài nha sĩ ”, bảng tường trình của IVS đã ghi nhận như vậy.
Theo IVS, nguy cơ cá nhân mắc phải một virus do khiếm
khuyết trong khử trùng các giá mang dụng cụ quay (PIR) là thấp
nhất đối với HIV, 1/420 triệu, và cao nhất đối với virus của
viêm gan B, 1/516.000. Xác suất là 1/67 triệu đối với viêm gan
C. Các nguy cơ sẽ là 8 lần cao hơi trong môi trường nhà tù.
Thật vậy, sự mang virus sida và viêm gan đúng là thường xảy ra
hơn trong nhóm dân này, do những hành vi có nguy cơ như nghiện
ma túy.
Tổng cộng, theo đánh giá của IVS, việc chữa răng có
thể chịu trách nhiệm 200 trường hợp nhiễm virus viêm gan B mỗi
năm.
(LE FIGARO 29/5/2009)
10/
HUYẾT ÁP CAO : HUỶ BỎ CÀ PHÊ ?
Một công trình nghiên cứu vừa chứng
minh một cách rõ ràng rằng cà phê, một ít lâu sau khi được uống,
gây nên một sự tăng cao nhanh của huyết áp. Vậy không phải là vô
ích khi kiểm chứng xem cà phê có thể gây nên cao huyết áp về lâu
về dài hay không ?
Những yếu tố dinh dưỡng được biết rõ
làm gia tăng nguy cơ cao huyết áp là sự thừa sodium, sự thiếu
hụt tương đối potassium, và uống rượu quá độ. Những mối tương
quan này đã được xác lập rõ. Nhưng thế đối với cà phê thì sao ?
NHỮNG HẬU QUẢ VỀ SAU.
Thay vì
hướng vào huyết áp động mạch, chúng ta cũng có thể quan tâm đến
phần cuối của chuỗi bệnh lý : cà phê có gây nên một sự gia tăng
số các sự cố hay những bệnh tật hay không ? Câu trả lời là
không, nhưng cần nói thêm rằng về chủ đề này chúng ta chỉ có
những công trình nghiên cứu thuộc loại dịch tễ học chứ không
phải can thiệp (interventionnel). Vậy ta có thể ghi nhận rằng
vào giai đoạn kiến thức dịch tễ học của chúng ta hiện nay, cà
phê không làm gia tăng nguy cơ bị bệnh động mạch vành và không
có một ảnh hưởng nào lên tiên lượng sau nhồi máu cơ tim.
Vài công trình nghiên cứu cho
thấy một mối liên hệ nghịch giữa việc tiêu thụ cà phê và mức độ
mắc phải những vấn đề động mạch vành ; mặt khác cùng nhận xét đã
được thực hiện về mối liên quan giữa cà phê và bệnh đái đường.
Nhưng một lần nữa, những công trình nghiên cứu dịch tễ học này
không cho phép chứng minh một mối liên hệ nhân quả : dầu sao
cũng có thể rằng những người bị những vấn đề tim hay đái đường,
uống ít cà phê hơn vì lý do này hay lý do khác, điều này được
thể hiện bởi mối quan hệ nghịch trong các công trình nghiên cứu.
Một cách
tổng quát, có những chỉ dẫn khiến nghĩ rằng cà phê ảnh hưởng lên
nguy cơ bị cao huyết áp theo một đường cong hình chữ U : những
người không uống cà phê cũng như những người uống nhiều ( >4-6
ly mỗi ngày) đều có một nguy cơ thấp, trong khi nguy cơ này cao
hơn giữa hai tình huống.Những công trình nghiên cứu can thiệp
(études interventionnelles) cho thấy rằng cà phê có thể gây nên
một sự tăng nhẹ của huyết áp. Nhưng như đã nói trên đây, những
nghiên cứu này chỉ được thực hiện trong một thời gian hạn chế,
với tối đa là 12 tuần. Sự gia tăng là khá thấp : khoảng 2mmHg
đối với huyết áp tâm thu và 1mmHg đối với huyết áp trương tâm
với những liều lượng mỗi ngày từ 300 đến 800mg (hoặc khoảng 3-8
tách cà phê mỗi ngày). Những người trẻ nhạy cảm hơn đối với tác
dụng cao huyết áp. Một công trình nghiên cứu khác xác lập sự
khác nhau rõ ràng giữa cà phê dùng nguyên như vậy và caféine,
được cho chịu trách nhiệm tác dụng lên huyết áp. Nơi những người
đã uống những viên thuốc chứa caféine, sự gia tăng được quan sát
của huyết áp là 4 lần cao hơn so với những người uống những tách
cà phê với một liều lượng caféine tương tự.
Như
vậy có cái gì khác với caféine trong cà phê đã ảnh hưởng lên
huyết áp. Cà phê đặc biệt chứa potassium, magnésium, manganèse
và một lượng cao polyphénols. Trong các chất này, chỉ có
potassium đã chứng tỏ có một tác dụng thuận lợi lên huyết áp,
nhưng cũng không loại trừ những thành phần khác cũng bù lại tác
dụng của caféine.
Tóm
lại, có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rằng cà phê không
có tác dụng thật sự lên huyết áp. Vậy hiện nay không có một luận
cứ thuyết phục nào cho rằng nếu ta muốn ngăn ngừa cao huyết áp
thì cần phải tránh cà phê.
(LE GENERALISTE 23/4/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(27/6/2009)
Trở về Trang Chính
|