|
1/ THỂ NÀO LÀ CO GIẬT DO SỐT CAO ?
Để được gọi là co giật do sốt cao
phải thỏa mãn các điều kiện sau đây :
- Cơn
co giật xảy ra trong tiến trình của một bệnh gây sốt (febrile
illness).
- Nhiệt độ đạt đến hay vượt quá
38,5 độ.
- Cơn
sốt này không phải do nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương gây ra
(không phải là viêm não hay viêm màng não).
- Co giật phải xảy ra nơi trẻ
trước đây không có tiền sử về động kinh.
2/ TỶ LỆ MẮC PHẢI CỦA CO GIẬT DO SỐT CAO ? XẢY RA Ở LỨA TUỔI
NÀO ?
- Trong số tất cả các trẻ em bị sốt,
có khoảng 3-4% trẻ sẽ bị co giật.
- Hầu hết xảy ra trong lứa tuổi từ 3
tháng đến 5 năm, nhiều nhất là ở trẻ dưới 2 năm.
3/ CO GIẬT DO SỐT CAO THƯỜNG XẢY RA NHẤT :
(A) trong tháng đầu tiên sau sinh
.
(B) trong 6 tháng đầu tiên.
(C) giữa
6 tháng và 5 năm.
(D) giữa 5 năm và 10 năm.
(E) vào khoảng tuổi dậy thì.
Trả lời : C. Chủ yếu tất cả co giật
do sốt cao xảy ra ở các trẻ trong lứa tuổi giữa 6 tháng và 5
năm. Thật vậy, hầu hết các tác giả đưa lứa tuổi này vào trong
định nghĩa co giật do sốt cao, mặc dầu vài tác giả mở rộng định
nghĩa đối với những trẻ giữa 3 tháng và 6 năm. Lứa tuổi cao điểm
rõ ràng là giữa 6 tháng và 3 năm. Trong một công trình nghiên
cứu, tuổi trung bình là 23 tháng. Nên nghi ngờ chẩn đoán co giặt
do sốt cao nơi một trẻ dưới 6 tháng hay hơn 5 tuổi.
4/ CO GIẬT DO SỐT
CAO CÓ BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI YẾU TỐ DI TRUYỀN KHÔNG ?
- Trong 30% trường hợp, có tiền sử gia
đình về co giật hay động kinh.
5/ SỰ KHÁC NHAU GIỮA CO GIẬT DO SỐT CAO ĐƠN
GIẢN VÀ CO GIẬT DO SỐT CAO PHỨC TẠP ?
Co giật do sốt cao được chia làm hai loại :
- Co giật do sốt cao đơn giản (simple
febrile seizure) hay điển hình (convulsion fébrile typique) :
- là co giật toàn thân
(generalized), co cứng (tonic)-co giật (clonic)
- chỉ xảy ra một lần trong
24 giờ.
- kéo dài dưới 15 phút.
- nơi trẻ bị sốt không có
nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương hoặc
bệnh chuyển hóa nghiêm trọng.
- Co giật do sốt cao phức tạp (complex
febrile seizure) hay không điển hình (convulsion fébrile
apypique) :
- có tính cách khu trú (focal) : co giật một
bên, bại liệt nhẹ một nửa cơ thể.
- kéo dài hơn 15 phút
- xảy ra nhiều lần trong
vòng 24 giờ.
6/ TẠI SAO CO GIẬT DO SỐT CAO PHỨC TẠP ĐÁNG LO NGẠI HƠN CO
GIẬT DO SỐT CAO ĐƠN GIẢN ?
Co giật do sốt cao phức tạp (complex
febrile seizures) gợi ý vấn đề nghiêm trọng hơn.Thí dụ một co
giật khu trú (focal seizure) gây quan tâm về một rối loạn chức
năng khu trú hay một bên của hệ thần kinh trung ương. Một co
giật kéo dài bất thường (>15 phút) cũng làm nghi ngờ bệnh nhiễm
trùng, bệnh thực thể hay chuyển hóa của hệ thần kinh trung ương.
Những cơn co giật lập đi lập lại trong khoảng thời gian 24 giờ
cũng hàm ý một rối loạn nghiêm trọng hơn hay tình trạng động
kinh liên tục (status epilepticus) sắp xảy ra.
7/ NHỮNG THĂM DÒ GÌ CẦN ĐƯỢC THỰC HIỆN NƠI MỘT TRẺ BỊ CO GIẬT
DO SỐT CAO ĐƠN GIẢN ?
Nếu đó chỉ là một co giật do sốt
cao đơn giản (simple febrile seizure) và trạng thái thần kinh
của đứa trẻ đã trở lại bình thường, những thăm dò cần được thực
hiện không gì hơn là sự đánh giá căn bệnh gây sốt (febrile
illness).
8/ NGUY CƠ TÁI PHÁT SAU KHI TRẺ BỊ CO GIẬT DO SỐT CAO LẦN ĐẦU
TIÊN ?
-
Nguy cơ tái phát trung bình là 30%.
-
Tỷ lệ này sẽ tăng lên 50% nếu trẻ dưới 18 tháng hoặc nếu trẻ đã
bị một lần co giật do sốt cao.
-
Tỷ lệ càng cao nếu trẻ càng nhỏ (dưới 18 tháng : 50-60%), nếu có
tiền sử gia đình gần về co giật do sốt, về bệnh động kinh gia
đình (épilepsie familiale), nếu trẻ đã bị nhiều lần.
- Khả năng tái phát gia tăng khi bệnh nhi lúc
khởi đầu cơn càng nhỏ tuổi, với một tỷ lệ tái phát khoảng 1 trên
2 nếu bệnh nhân dưới 1 tuổi khi cơn co giật đầu tiên xảy ra và 1
trên 5 nếu bệnh nhân trên 3 năm vào lúc cơn đầu tiên. Khoảng một
nửa các tái phát sẽ xảy ra trong vòng 6 tháng sau cơn co giật
đầu tiên ; ¾ sẽ xảy ra trong vòng một năm, và 90% sẽ xảy ra
trong vòng 2 năm.
Trong nhóm nhỏ tuổi
hơn cũng có một tỷ lệ tái phát nhiều lần 30%, so với một tỷ lệ
11% nếu cơn co giật đầu tiên xảy ra sau 1 năm. Tính toàn bộ, tỷ
lệ tái phát nơi dân số nhi đồng là khoảng 30%.
-
Điều trị chống động kinh (traitement anti-épileptique) liên tục
chỉ được biện mình khi nguy cơ tái phát cao hay khi có nguy cơ
bị di chứng thần kinh : trước 18 tháng, trong trường hợp tiền sử
gia đình động kinh, cơn kéo dài với bại liệt sau cơn vật
(déficit post critique).
9/ PHẢI CHĂNG KHẢ
NĂNG TÁI PHÁT GIA TĂNG NẾU CƠN CO GIẬT DO SỐT CAO LẦN ĐẦU TIÊN
THUỘC LOẠI PHỨC TẠP (KHÔNG ĐIỂN HÌNH) ?
- Không !
10/ MỘT TRẺ NHỎ BỊ CO GIẬT DO SỐT CAO (FEBRILE SEIZURE) KHI
LỚN LÊN CÓ THỂ BỊ BỆNH ĐỘNG KINH (EPILEPSY) KHÔNG ?
- Chỉ một vài trẻ lúc nhỏ bị co giật
do sốt về sau sẽ phát triển thành bệnh động kinh. Những trẻ có
một tiền sử động kinh trong gia đình, có một bệnh sử bị bệnh
thần kinh có trước, hay có co giật do sốt cao phức tạp, có khả
năng phát triển bệnh động kinh sau này hơn. Không có những yếu
tố nguy cơ này, một trẻ co giật do sốt cao có xác suất 1% phát
triển bệnh động kinh, so với xác suất 0,4% đối với các trẻ đã
không bao giờ có một cơn co giật do sốt cao.
- Tỷ lệ trẻ bị bệnh động kinh trên
toàn bộ trẻ không bị co giật do sốt cao là 0,5%. Tỷ lệ này tăng
2-4% ở trẻ có tiền sử co giật do sốt cao.
Sau đây là các yếu tố thuận lợi
cho phép tiên lượng một co giật do sốt cao (febrile seizure) lúc
bé sẽ trở thành động kinh (epilepsy) lúc lớn lên :
- Những trẻ bị co giật do sốt
cao phức tạp (thời gian kéo dài trên 15', co giật nhiều lần
trong ngày, tính chất khu trú của co giật).
- Trước khi bị co giật do sốt cao đã có trạng
thái thần kinh bất bình thường, ví dụ liệt não (cerebral palsy).
- Co giật do sốt cao xảy ra
khi trẻ chưa được 1 tuổi.
- Có tiền sử bệnh động kinh
trong gia đình.
11/ NGUY CƠ MẮC BỆNH ĐỘNG KINH SAU MỘT CO GIẬT DO SỐT CAO ?
Nguy cơ tùy thuộc vào vài biến số.
Những trẻ bình thường với co giật do sốt cao đơn giản, nguy cơ
mắc phải bệnh động kinh về sau là khoảng 2%. Nguy cơ bị bệnh
động kinh cao hơn nếu hiện diện một trong những yếu tố sau đây :
- Có một tiền sử gia đình với
co giật không phải do sốt (nonfebrile seizures).
- Trước đây có những bất
thường thần kinh hay phát triển.
- Bệnh nhân đã có một cơn co giật do sốt cao
không điển hình hay phức tạp, được định nghĩa như là những co
giật khu trú, những co giật kéo dài = hoặc > 15 phút, và /hoặc
nhiều cơn co giật trong 24 giờ.
Một yếu tố nguy cơ trên đây làm gia
tang nguy cơ 3%. Nếu tất cả ba yếu tố hiện diện, khả năng bị
bệnh động kinh sau này tăng lên 10%.
12/ TIÊN LƯỢNG VỀ
LÂU VỀ DÀI ĐỐI VỚI NHỮNG TRẺ VỚI CO GIẬT DO SỐT CAO ?
Nơi một trẻ bình thường, nguy cơ tử vong, thương tổn
thần kinh, hay suy giảm năng lực nhận thức do một cơn co giật do
sốt cao duy nhất là zéro. Những biến chứng tiềm tàng này có khả
năng xảy ra hơn với co giật do sốt cao phức tạp, nhưng nguy cơ
vẫn còn quá thấp. Năng lực nhận thức bị giảm sút có khả năng xảy
hơn nếu co giật không phải do sốt xảy ra sau đó.Trong những năm
gần đây, tình trạng động kinh liên tục do sốt cao (febrile
status epilepticus) có một tý lệ tử vong rất thấp với điều trị
thích đáng, và sự phát triển xơ cứng thùy trán là 1/70.000.
13/ CÓ CÁCH GÌ ĐỂ
PHÒNG NGỪA CO GIẬT DO SỐT CAO KHÔNG ?
- Co giật do sốt cao loại đơn giản
thường xảy ra và lành tính.
- Mặc dầu có vài phương thức điều
trị có hiệu quả trong việc ngăn ngừa sự tái phát nhưng các tác
dụng phụ của thuốc sử dụng không tương xứng với lợi ích mong
chờ.
- Diazepam dùng bằng đường miệng,
vào lúc cơn sốt, với liều lượng 0,33 mg/kg mỗi 8 giờ, làm giảm
một cách hiệu quả cơn tái phát.
- Các biện pháp hạ nhiệt phải được nghiêm túc áp dụng
nơi các trẻ đã từng bị một cơn co giật do sốt cao, ở các trẻ đã
bị một thương tổn não bộ, ở các trẻ mà bố mẹ có một tiền sử về
co giật.
- Đối với hầu hết các trẻ em với co giật do sốt cao,
cho các thuốc hạ sốt với liều lượng mạnh như acetaminophen
(15mg/kg mỗi 4 giờ) và/hay ibuprofen (10mg/kg mỗi 6 giờ) thường
đủ để ngăn ngừa tái phát.
14/ KẾ CÁC BỆNH GÂY
SỐT (FEBRILE ILLNESS) DỄ ĐƯA ĐẾN CO GIẬT ?
- Các bệnh cấp tính về đường hô hấp
là nguyên nhân thông thường nhất
- Các nguyên nhân ít thông thường
hơn :
- Các bệnh viêm ruột cấp,
đặc biệt gây nên bởi Shigella hay Campylobacter.
-
Trong bệnh lý do Shigella, mê sảng và co giật thường đi kèm với
sốt cao.
- Nhiễm trùng đường tiểu : ở trẻ sơ sinh và nhũ
nhi, nhiễm trùng đường tiểu được thể hiện bởi sốt và các triệu
chứng không đặc hiệu như bỏ ăn, nôn mửa, ỉa chảy, cáu kỉnh, vàng
da và ngay cả co giật.
- Roseola infantum (exanthema
subitum) là một nguyên nhân cổ điển nhưng hiếm. Co giật do sốt
xảy ra nơi 10% bệnh nhân bị bệnh này.
- Tiêm chủng (immunization)
có thể là nguyên nhân của co giật.
- Một nghiên cứu chứng minh
rằng nguyên nhân virus chiếm 86% trường hợp.
15/ PHẢI CHĂNG SỐT CÀNG CAO CÀNG DỄ BỊ CO
GIẬT DO SỐT ?
- Co giật đôi khi xảy ra với nhiệt độ tương đối thấp
(ngay lúc mới 37,8 độ)
- Mặc khác
có trẻ sốt rất cao nhưng lại hoàn toàn bình thường.
16/ PHẢI CHĂNG SỐT
LÀM KHỞI ĐỘNG CO GIẬT ?
- Nếu không
có các yếu tố làm dễ (predisposing factors), thì bản thân sốt
không gây nên co giật.
- Đối với
trẻ đã có trạng thái thần kinh tiềm tàng bất bình thường thì sốt
làm giảm ngưỡng (threshold) khiến co giật dễ xảy ra hơn.
- Đối với
trẻ đã có một lần co giật do sốt cao loại đơn giản, thì sốt sẽ
làm co giật nhanh chóng xảy ra ở trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi.
17/ CẦN THỰC HIỆN
CÁC XÉT NGHIỆM NGOẠI LÂM SÁNG NÀO CHO TRẺ SAU CO GIẬT DO SỐT CAO
?
- Nếu đó là một co giật do sốt cao điển hình (đơn giản)
và trạng thái thần kinh của trẻ đã trở lại bình thường, thì
không cần một thăm dò nào khác ngoài các xét nghiệm cần thiết để
chẩn đoán và điều trị bệnh gây sốt (febrile illness).
- Không cần
thiết phải làm điện não đồ hay Scanner hoạc RMN nơi trẻ bình
thường bị co giật do sốt cao loại đơn giản.Trái lại, điện não đồ
cần thiết nơi trẻ bị co giật do sốt cao loại phức tạp hoặc co
giật do sốt cao tái phát nhiều lần.
18/ NHỮNG XÉT NGHIỆM PHỤ NÀO NÊN ĐƯỢC XÉT ĐẾN NƠI MỘT BỆNH
NHÂN VỚI CO GIẬT DO SỐT CAO PHỨC TẠP ?
Hầu hết
các trẻ em với cơn co giật do sốt cao không điển hình đầu tiên
nên chịu thăm khám dịch não tủy để loại bỏ nhiễm trùng trong sọ.
Những trẻ với co giật vận động khu trú hay bại liệt một bên sau
cơn vật (postictal lateralized deficits) (liệt nhẹ vận động, mất
cảm giác hay thị giác một bên, lệch mặt, hay mất ngôn ngữ
(aphasia), đòi hỏi chụp CT scan để tìm bất thường thực thể. Hiệu
năng tức thời của điện não đồ là hạn chế trong việc tìm hiểu về
căn bệnh của bệnh nhi.
19/ KHI NÀO CẦN PHẢI CHỌC NƯỚC NÃO TỦY
(LUMBAR PUNCTURE) NƠI TRẺ BỊ CO GIẬT DO SỐT CAO ?
- Đây là vấn đề tranh cãi gay gắt nhất.
- Nói chung một trẻ trên 18 tháng,
không có vẻ mặt nhiễm trùng, trạng thái tâm thần bình thường,
không có dấu hiệu đau đầu hay cứng cổ, thì không cần phải chọc
nước não tủy.
- Chọc nước não tủy cần được thực
hiện khi trẻ có dấu hiệu viêm màng não như cáu kỉnh, bực bội,
thóp phồng (bulging fontanelle), cứng cổ (stiffness), vẻ mặt
sững sờ (stupor).
- Trẻ càng nhỏ (thường dưới 18
tháng) thì việc chọc nước não tủy càng quan trọng, vì ở lứa tuổi
này các triệu chứng vật lý ít trung thực hơn trong việc chẩn
đoán bệnh viêm màng não.
- Cũng cần chọc nước não tủy nơi trẻ
bị co giật liên tiếp hoặc co giật kéo dài, đặc biệt là tình
trạng mê man, cấm khẩu sau cơn vật (postictal state) kéo dài.
- Ở trẻ co giật do sốt cao đã dùng kháng sinh trước đó,
cũng cần chọc nước não tủy.
- Mặc dầu hiệu năng thấp, việc chọc
nước não tủy cần được xét đến nơi trẻ dưới 18 tháng, có thời
gian hồi phục sau co giật chậm, nếu không tìm ra nguyên nhân gây
sốt nào khác hoặc nếu không thể theo dõi sát trẻ sau khi cho
xuất viện.
20/ CÓ CẦN THIẾT
PHÒNG NGỪA BẰNG THUỐC CHỐNG ĐỘNG KINH KHÔNG ?
- Điều trị duy trì bằng thuốc chống
động kinh (anticonvulsant) có thể ngừa được tái phát co giật do
sốt cao (febrile seizure), nhưng không làm giảm khả năng bị bệnh
động kinh (epilepsy) sau này.
- Điều trị mỗi ngày với phenobarbital hay valproate, có
hiệu quả trong việc ngăn ngừa các cơn tái phát, nhưng việc sử
dụng thường quy những thuốc này không được thích đáng vì độc
tính và các tác dụng phụ của chúng. Hơn nữa không có bằng cở cho
thấy rằng liệu pháp dự phòng có tác dụng lên tiên lượng về sau.
Valium được cho trong bệnh sốt có thể làm giảm tái phát, nhưng
nơi nhiều trẻ em thuốc kém được dung nạp.
- Phòng ngừa bằng thuốc chống động
kinh không được chỉ định sau cơn co giật do sốt cao đầu tiên hay
sau cơn co giật do sốt cao đơn giản.
- Trong trường hợp co giật do sốt cao
loại phức tạp, trẻ có phát triển thần kinh bất bình thường, tiền
sử gia đình có người bị động kinh hoặc sự trấn an không làm an
lòng bố mẹ, sự phòng ngừa bằng thuốc chống co giật có thể được
chỉ định và có thể làm giảm sự tái phát của các cơn co giật do
sốt cao hay không do sốt cao.
21/ NHỮNG TRẺ NÀO NÊN ĐƯỢC XÉT ĐẾN ĐỂ ĐIỀU TRỊ CHỐNG ĐỘNG
KINH ?
- Bởi vì chỉ dưới 50% các trẻ với
con co giật do sốt cao duy nhất, sẽ có một cơn co giật thứ hai,
nên việc điều trị dự phòng không được chỉ định ở phòng cấp cứu.
Điều trị dự phòng với thuốc chống động kinh nên được xét đến khi
có sự phát triển thần kinh bất bình thường hay những cơn co giật
kéo dài hay khu trú hay nơi những trẻ với liệt thần kinh tạm
thời.
- Điều trị dự phòng bằng thuốc chống động kinh
(phenobarbital hay valproate) chỉ được chỉ định nơi các bệnh
nhân vốn có bệnh bại liệt thần kinh (ví dụ liệt não), co
giật do sốt cao loại phức tạp (kéo dài hay khu trú), các cơn co
giật lập lại trong cùng bệnh gây sốt, khởi đầu dưới 6 tháng, hay
có hơn 3 cơn co giật do sốt cao trong 6 tháng. Một liều diazepam
0,2-05 mg/kg, bằng đường miệng hay trực tràng, vào lúc khởi đầu
bệnh sốt, cũng có thể hiệu quả nơi những bệnh nhân này.
22/ THUỐC CHỐNG ĐỘNG
KINH NÀO ĐƯỢC SỬ DỤNG THÍCH HỢP NHẤT TRONG TRƯỜNG HỢP NÀY ?
- PHENOBARBIAL :
- Phénobarbital (Gardénal) còn
được sử dụng cách nay không lâu.
- liều lượng duy trì từ 3-5
mg/kg/ngày, với liều duy nhất cho trước khi đi ngủ.
- để giảm thiểu tác dụng phụ và để bệnh nhân tiếp
tục theo đuổi điều trị, cần gia tăng từ từ liều lượng (ví dụ
tuần lễ thứ nhất bắt đầu với liều lượng 2mg/kg/ngày, sau đó
3mg/kg/ngày cho tuần lễ thứ hai và cứ thế cho đến khi đạt liều
lượng duy trì 5mg/kg/ngày).
- nồng độ điều trị của
phenobarbiatal là 15-40 mg/ml.
- các tác dụng phụ của thuốc thay
đổi từ sự thụ động quá mức (passivité excessive) đến hoạt động
quá độ (hyperactivité). Chính các tác dụng này khiến bệnh nhân
dừng thuốc sớm.
- VALPROATE :
- hiện nay valproate (Dépakine)
càng ngày càng được sử dụng để ngăn ngừa co giật do sốt cao.
- liều lượng là 15-60 mg/kg/ngày chia làm 3 liều.
- có thể có tác dụng phụ như tăng
hoạt động quá mức, nhưng tác dụng đáng sợ nhất là độc tính
nghiêm trọng lên gan (cần theo dõi bằng xét nghiệm máu thường
kỳ).
- DIAZEPAM :
- để tránh dùng các thuốc có khả
năng tiềm tàng gây nguy hiểm nêu trên, vài thầy thuốc đã cho
Diazepam dưới dạng sirop một cách gián đoạn.
- PHENYTOIN và CARBAMAZEPINE :
không có hiệu quả trong phòng ngừa co giật do sốt cao.
23/ THUỐC ĐƯỢC CHỌN LỰA ĐỂ ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG LIÊN TỤC CO GIẬT
DO SỐT CAO LÀ :
A. Carbamazepine.
B. Diazepam
C. Phenobarbital.
D. Phenytoin
E. Valproic acid.
Trả lời : C. Hiện nay phenobarbital là thuốc được chọn
lựa để điều trị dự phòng liên tục (continous prophylactic
therapy) chống lại co giật do sốt cao, nơi những trẻ có chỉ định
một điều trị như thế. Phenytoin đã không được chứng tỏ là có
hiệu quả. Mặc dầu valproic acid (Dépakine) có hiệu quả, nhưng
độc tính tiềm tàng nặng hơn lợi ích và ngăn cản sự sử dụng
thường quy. Điều trị gián đoạn (intermittent therapy) với
phenobarbital không có hiệu quả, nhưng diazepam, cho bằng đường
miệng hay trực tràng, vào lúc có dấu hiệu đầu tiên của sốt hay
bệnh gây sốt, đã được chứng tỏ là có hứa hẹn trong việc ngăn
ngừa co giật do sốt cao.
24/ Một bệnh nhi 22 tháng được mang đến phòng cấp cứu để được
đánh giá sốt và co giật toàn thể. Thời gian co giật là dưới 10
phút, với sự biến mất ngẫu nhiên. Lúc đi đến, đứa trẻ có nhiệt
độ 103, 5 F. Đứa trẻ hoạt động và không có vẻ mặt nhiễm độc.
Những yếu tố nào là thích đáng nhất để điều trị và cho nhập viện
hay xuất viện ?
A. Chọc nước não tủy, kháng
sinh, và cho nhập viện để theo dõi.
B.
Trấn an bố mẹ.
C. CT scan não.
D. Kháng sinh và cho nhập viện
theo dõi.
E. Kéo dài thời gian theo dõi ở
phòng cấp cứu và cho nhập viện.
Trả lời : B. Co giật do sốt cao thường xảy ra ở lứa tuổi
từ 6 tháng đến 5 năm. Hầu hết các co giật được tự giới hạn, toàn
thể, và kéo dài dưới 15 phút. Đối với co giật do sốt cao đơn
giản, không đòi hỏi phải xét nghiệm. Nơi một đứa trẻ 18 tháng,
vẻ mặt không nhiễm độc, với một trạng thái tâm thần bình thường,
và không có bằng cớ đau đầu hay cứng cổ, thì không cần phải chọc
nước não tủy. Những bệnh nhân với co giật do sốt cao có thể
được cho xuất viện và theo dõi. Cần trấn an bố mẹ về tính chất
hiền tính của chứng co giật do sốt cao.
25/ Một trẻ 9 tháng đến phòng cấp cứu với bệnh sử bị cảm 2
ngày. Hôm nay bắt đầu sốt. Khám vật lý cho thấy một nhũ nhi lanh
lợi, không khó thở và không có một ổ nhiễm trùng rõ rệt nào cả.
Nhiệt độ 40 độ C, Nhịp tim 160, Nhịp thở 22. Trong khi đang được
thăm khám, đứa trẻ đột nhiên cứng người, đôi mắt trợn lên, và có
những cử động co cứng-co giật 4 chi.
1. Người
thầy thuốc khám bệnh trước hết phải :
A. Thực hiện chọc nước não tủy.
B. Kiểm tra và duy trì
sự thông suốt của đường hô hấp bệnh nhân.
C. Hoàn tất bệnh sử và thăm khám vật lý.
D. Tiêm tĩnh mạch một
thuốc chống co giật.
E. Kiểm tra đường huyết
bằng phương pháp chích ngón tay.
Trả lời : B. Ưu tiên thứ nhất trong việc xử trí
một cơn co giật là đảm bảo rằng đường hô hấp thông suốt và bệnh
nhân đang thông khí một cách thích đáng hoặc đảm bảo an toàn
đường hô hấp (thông nội khí quản) và thiết lập thông khí hữu
hiệu. Hãy chuẩn bị để hút đường hô hấp nếu bệnh nhân mửa. Chỉ
điều trị co giật sau khi đã thực hiện A (airway), B (breathing)
và C (circulation).
2. Cơn co giật dừng lại một cách ngẫu
nhiên, trước khi được điều trị. Đứa trẻ không phản ứng, nhưng
thăm khám thần kinh lại không có gì đáng chú ý. Khám đáy mắt
bình thường. Glucose-huyết bằng phương pháp chích ngón tay trong
giới hạn bình thường. Thuốc đạn trực tràng acetaminophen được
cho. Vào thời điểm này, thầy thuốc nên cho y lệnh :
A. CT scan đầu.
B. Điện não đồ
C. Chọc nước não tủy
D. Chụp phim sọ.
E. Xét nghiệm nước tiểu
và điện giải đồ.
Trả lời : C. Bệnh cảnh lâm sàng và các dấu hiệu xét
nghiệm hoàn toàn tương hợp với cơn co giật do sốt cao (febrile
seizure), chẩn đoán khả dĩ nhất nơi bệnh nhi này. Bệnh nhi này ở
đúng lứa tuổi(hầu hết các co giật do sốt cao xảy ra giữa 6 tháng
và 2 năm) và có sốt cao. Tuy nhiên, nhu cầu khẩn thiết nhất, là
phải loại bỏ viêm màng não. Nếu không có dấu hiệu thần kinh khu
trú hay bằng cớ gia tăng áp lực nội sọ, thì trước khi chọc nước
não tủy, không cần phải chụp CT Scan hay làm những trắc nghiệm
chẩn đoán nào khác. Mặc dầu không được nhất trí chấp nhận rằng
tất cả các trẻ với co giật do sốt cao phải được chọc nước não
tủy để lọai trừ viêm màng não, nhưng thủ thuật này thường được
khuyến nghị. Trong trường hợp này, chắc chắn việc chọc dò là
thích đáng vì đứa trẻ dưới 1 tuổi, sốt nguyên nhân không rõ ràng
và ở trong tình trạng không phản ứng.
3. Tất cả các xét nghiệm chẩn đoán bình thường. Bệnh
nhân thức dậy, và thăm khám thần kinh bình thường. Vào thời điểm
này, việc làm thích đáng là :
A. Một đợt điều trị 10 ngày với
amoxicillin.
B. Cho amoxicillin mỗi ngày
trong 1-2 năm đến
C. Một đợt điều trị 14 ngày với
phenobarbital.
D. Cho phenobarbital mỗi ngày
trong 1-2 năm đến
E. Cho acetaminophen mỗi ngày
trong 1-2 năm đến.
Trả lời : D. Mặc dầu tất cả các trẻ với co giật do sốt
cao không cần điều trị dự phòng lâu dài với phenobarbital, nhưng
vài yếu tố chỉ rõ một nguy cơ cao tái phát và thường được chấp
nhận như là những chỉ định tương đối để điều trị dự phòng liên
tục với phenobarbital trong 1-2 năm. Những chỉ định này gồm có
tuổi dưới 12 tháng vào lúc cơn co giật do sốt cao đầu tiên, một
thăm khám thần kinh bất thường, một co giật khu trú hay kéo dài,
và một tiền sử gia đình có bệnh động kinh. Bệnh nhi trong trường
hợp này đáp ứng tiêu chuẩn đầu tiên (9 tháng) trong số những
tiêu chuẩn này.
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(22/6/2009)
References :
- Emergency Medicine Secrets.
- Pediatric Emergency Medicine Secrets.
- Pediatric Secrets
- Urgences Pédiatriques
- Manual of Clinical Problems in Pediatrics.
- Pediatric Emergency Medicine, just the facts
- Pédiatrie : Questions et Réponses
- Appleton and Lange’s Review of Pediatrics.
- Clinical Manual of Emergency Pediatrics
Trở về Trang Chính
|