|
1/ CÁC THẦY THUỐC CHUYÊN KHOA THẦN KINH ĐỀ NGHỊ THAY ĐỔI CÁC
TIỂU CHUẨN CHẨN ĐOÁN BỆNH ALZHEIMER
Một nhóm nghiên
cứu quốc tế gồm các chuyên gia thần kinh đánh giá rằng đã đến
lúc cần xác định lại các tiêu chuẩn cho phép xác định chẩn đoán
bệnh Alzheimer, căn bệnh thường xảy ra nhất trong số các bệnh
thoái hóa thần kinh. Sáng kiến này, được chủ xướng bởi Bruno
Dubois (bệnh viên Pitié-Salpetrière, Paris) là kết quả của những
kiến thức mới về sinh lý bệnh lý của căn bệnh này thu nhận được
trong mười năm qua. Các kết quả này đã được công bố ngày 9/7
trên site Internet của tạp chí The Lancet Neurology.
Các tác giả của tài liệu xuất bản này cũng giải thích
rằng thang chẩn đoán mà họ đề nghị căn cứ trên các nghiên cứu về
các quá trình sinh thần kinh cũng như sự tương quan (được xác
nhận nhờ chụp hình thần kinh não bộ) giữa những đợt mất trí nhớ
đầu tiên và sự hiện diện của các biến đổi của những vùng biệt
hóa của não bộ. Họ cũng nhấn mạnh rằng phương pháp của họ có ưu
thế cho phép xác lập chẩn đoán ở một giai đoạn sớm hơn nhiều,
ngay những dấu hiệu đầu tiên nhất của bệnh.
Ngày nay nói chung
chẩn đoán bệnh Alzheimer chỉ được thực hiện vào giai đoạn bệnh
nhân đã mất hoàn toàn khả năng tự chủ, một tình trạng được các
thầy thuốc khoa thần kinh gọi là “sa sút trí tuệ” (démence).
Tài liệu xuất bản
này là kết quả của một công trình được phát khởi cách nay 2 năm
và quy tụ các chuyên gia của 6 nước khác nhau. Cần phải cập nhật
hoá các tiêu chuẩn chẩn đoán có từ năm 1984. Các tiêu chuẩn này
không tính đến các kết quả có được do các kỹ thuật chụp hình
bằng IRM (résonance nucléaire) hoặc bằng émissions de positons.
CHẨN ĐOÁN ĐIỀU TRỊ SỚM HƠN
Ngày nay có
nhiều bằng cớ cho thấy rằng sự xuất hiện những triệu chứng lâm
sàng đầu tiên chứng tỏ quá trình biến đổi của não bộ đang tiến
triển, đặc biệt là do sự lắng đọng các mãng protéine được gọi là
“beta amyloide”, Bruno Dubois đã giải thích như vậy.
“Như vậy khi
ta phát hiện nơi bệnh nhân các rối loạn chức năng trong lãnh vực
trí nhớ thì quá trình thoái hóa của tổ chức não bộ đã tiến triển
nhiều. Chúng tôi đang suy nghĩ để làm sao có thể nhận biết càng
sớm càng tốt những yếu tố đặc hiệu đầu tiên của bệnh về mặt sinh
học, lâm sàng và giải phẫu thần kinh; và điều này phải được nhận
biết ngay truớc khi các yếu tố đặc điểm của hợp chứng suy giảm
trí tuệ xuất hiện”.
Trên thực tế, có thể chẩn đoán khi một tiêu chuẩn quan
trọng (các rối loạn trí nhớ được nhận thấy bởi bệnh nhân hay các
người thân từ hơn 6 tháng qua, xác nhận tính chất của những rối
loạn này bởi các trắc nghiệm đặc hiệu) được liên kết với những
tiêu chuẩn phụ, trong đó có teo thùy hải mã (atrophie de
l’hippocampe) khi chụp IRM, nồng độ bất thường của vài chất chỉ
dấu sinh học (biomarqueur) trong nước não tủy, hoặc những bất
thường chuyển hoá trong các thùy thái dương (temporal) và đỉnh
(pariétal) của não bộ.
Các nhà nghiên
cứu cho là có thể đề nghị một điều trị ở một giai đoạn sớm hơn
của bệnh : giai đoạn trước khi các triệu chứng suy giảm trí tuệ
xuất hiện (prédémence). Họ hy vọng rằng một chẩn đoán rất sớm
kết hợp với những điều trị bằng thuốc, hoặc miễn dịch trong
tương lai, sẽ cho phép làm chậm lại hoặc làm ngưng sự tiến triển
của các thương tổn não bộ, là nguồn gốc của bệnh Alzheimer.(LE
MONDE 10/7/2007)
2/ NGUY CƠ HUYẾT
KHỐI TĨNH MẠCH SÂU SAU MỘT CHUYẾN ĐI KÉO DÀI
Tổ Chức Y
Tế Thế Giới vừa công bố những kết quả của một dự án nghiên cứu
về các chuyến đi kéo dài và sự phát sinh các huyết khối
(thromboses). Theo những điều đã được chứng thực, nguy cơ mắc
phải huyết khối nghẽn tĩnh mạch (thrombo-embolie veineuse) được
nhân gấp hai lần, sau một hành trình kéo dài 4 giờ hoặc nhiều
hơn. Tuy nhiên dù cho nguy cơ này gia tăng nhưng nguy cơ tuyệt
đối của huyết khối nghẽn tĩnh mạch lại vẫn tương đối thấp.
OMS vừa
công bố các kết quả ở giai đoạn 1 của dự án nghiên cứu về các
mối hiểm nguy của các hành trình kéo dài trên thế giới. Hai biểu
hiện thường xảy ra nhất là huyết khối tĩnh mạch sâu (thrombose
veineuse profonde) và nghẽn mạch phối (embolie pulmonaire).
Công trình
nghiên cứu chứng tỏ rằng, các hành khách của các máy bay, tàu
hỏa, xe bus hoặc xe hơi chịu nguy cơ bị chứng huyết khối nghẽn
tĩnh mạch cao hơn khi họ phải ngồi không động đậy trong hơn 4
giờ. Tuy rằng nguy cơ này gia tăng, nhưng nguy cơ tuyệt đối của
huyết khối nghẽn tĩnh mạch vẫn tương đối thấp, khoảng 1/6000.
Một nghiên cứu đặc
biệt chú ý về các hành trình bằng đường hàng không đã khám phá
rằng các hành khách đi nhiều chuyến bay trong thời gian ngắn
cũng chịu một nguy cơ gia tăng. Thật vậy, nguy cơ bị huyết khối
nghẽn tĩnh mạch, không biến mất hoàn toàn, vào lúc cuối một
chuyến bay và sự gia tăng nguy cơ vẫn tồn tại trong khoảng 4
tuần sau đó.
Bảng báo cáo xác nhận rằng một số yếu tố khác làm tăng
nguy cơ mắc phải huyết khối tĩnh mạch sâu: chứng béo phì, tầm
vóc trên 1,9 m hoặc dưới 1,6m, dùng thuốc ngừa thai và các rối
loạn huyết học di truyền, dẫn đến khuynh hướng làm dễ sự tạo
thành huyết khối.
Nghiên cứu không đề
cập đến những biện pháp phòng ngừa có hiệu quả. Tuy nhiên các
chuyên gia công nhận rằng, chúng ta có thể cải thiện tuần hoàn
máu bằng cách kích động các cơ bắp chân bằng những cử động thẳng
đứng của chân ở khớp mắt cá. Các hành khách cũng phải tránh mang
những quần áo quá chật trong khi đi du lịch bởi vì chúng gây nên
sự ứ máu tĩnh mạch (stase veineuse).
Giai đoạn 1 của dự án nghiên cứu kết luận về sự cần thiết
đối với giới hữu trách vận tải, các hãng hàng không và các giới
hữu trách y tế, cho hành khách những thông tin đầy đủ về nguy cơ
của bệnh huyết khối nghẽn mạch. Nhưng còn sẽ cần đến những công
trình nghiên cứu khác, để xác định những biện pháp phòng ngừa
hiệu quả. Những vấn đề này sẽ được đề cập đến trong giai đoạn 2.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 6/7/2007)
3/ CHẤT
LƯỢNG CUỘC SỐNG TỐT HƠN TRONG NHỮNG NHÀ DƯỠNG LÃO CỠ NHỎ
Trong một nghiên
cứu mới của Hoa Kỳ, Rosalie Cane và các cộng sự viên đã hỏi 40
người già cư trú trong các nhà dưỡng lão nhỏ (4 nhà dưỡng lão
với 10 người mỗi nhà) , và một số tương đương những người dưỡng
lão trong những nhà dưỡng lão có tầm cỡ lớn hơn. Các người già
sống trong những nhà dưỡng lão nhỏ có phòng và buồng tắm riêng.
Ngoài ra còn có các khoảng không gian chung được dành cho các
bữa ăn và thời gian rỗi rảnh. Chất lượng chăm sóc giống nhau,
trong nhiều nhà dưỡng lão khác nhau, cũng như phần hành cán bộ
(bác sĩ, y tá, chuyên viên về ăn uống, phụ tá xã hội). Trên cơ
sở các kết quả thu được, các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng,
những người già sống ở những nhà dưỡng lão nhỏ nhìn toàn bộ cảm
thấy thỏa mãn hơn và có chất lượng sống tốt hơn so với các người
già sống ở những nhà dưỡng lão to lớn hơn.(LE JOURNAL DU MEDECIN
20/7/2007)
4/
NGƯNG HÚT THUỐC LÁ KHÔNG PHẢI DỄ ĐÂU
Các tài liệu chứng
tỏ rằng hầu hết những người nghiện thuốc lá của các nước Tây Âu
như Vương Quốc Anh và Hoa Kỳ đều đã có dự định ngưng hút thuốc
vào một thời điểm nào đó. Tỷ suất ý định ngưng hút thuốc
(tentative d’arret du tabac) tăng cao: mỗi năm ở Vương Quốc Anh
có 78 người dự định bỏ thuốc trên 100 người hút thuốc. Nhiều
người hút thuốc đã có nhiều lần dự định bỏ hút trong năm. Khoảng
một nửa trong số những người hút thuốc tin chắc rằng họ có thể
ngưng hút thuốc lá trong vòng 1 năm. Trên thực tế các con số cho
thấy rằng chỉ khoảng 2-3% trong số những người này sẽ ngưng hút
thuốc lá vĩnh viễn mà thôi.
Các người hút thuốc
lá khẳng định họ cần thuốc lá để chống lại stress hoặc vì lạc
thú, nhưng trên thực tế, đó là sự phụ thuộc vào nicotine
(dépendance à la nicotine). (LE JOURNAL DU MEDECIN 20/7/2007)
5/ LỜI
KHUYÊN ĐỐI VỚI NHỮNG BỆNH NHÂN BỊ ĐAU NGỰC
Một bệnh nhân bị đau
ngực (douleur thoracique) phải còn chờ đợi một thời gian bao lâu
trước khi gọi Số Cấp Cứu (100/112/911).
Câu hỏi này đặc biệt liên quan
đến các bác sĩ thuốc tuyến đầu và những bác sĩ Khoa Cấp Cứu. Câu
trả lời có thể trở nên phức tạp khi bệnh nhân đã được cho ngậm
nitrates dưới lưỡi.
Thật vậy, thuốc này có thể
làm cơn đau biến mất nhanh chóng hoặc làm ổn định một cơn đau
thắt ngực. Lý tưởng là chính bệnh nhân phải có khả năng phân
biệt giữa một cơn đau thắt ngực ổn định (angor stable) và một
hợp chứng động mạch vành (syndrome coronarien) có tiềm năng gây
tử vong. Nhưng thực tế dạy cho chúng ta rằng không phải là như
thế. Do đó, cần tìm một con đường trung dung giữa thái độ của
một bệnh nhân mới đau ngực đã gọi ngay Số Cấp Cứu (điều này có
thể dẫn tới việc tràn ngập bệnh nhân ở khoa cấp cứu) và thái độ
của một bệnh nhân chậm gọi cấp cứu, điều này có thể gây nguy
hiểm cho sức khỏe, thậm chí cho tính mạng nữa.
Theo các tác giả của một
bài báo đăng trên BMJ, không phải là dễ dàng để tìm ra thỏa hiệp
này. Mặt khác, các chỉ thị quốc tế chứng tỏ rằng không có một sự
đồng nhất nào đã được thông qua, ngay cả trong các thầy thuốc
khoa tim. British Heart Foundation khuyên các bệnh nhân được
biết bị bệnh động mạch vành do thiếu máu cục bộ (coronaropathie
ischémique) phải biết nghi ngờ rằng, khi một cơn đau ngực kéo
dài trên 15 phút rất có thể là tình trạng nhồi máu cơ tim. (LE
JOURNAL DU MEDECIN 20/7/2007)
6/ VIỆC ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN BỆNH UNG THƯ
TUYẾN TIỀN LIỆT GÂY NÊN MỘT CUỘC TRANH CÃI
Đối với
những người đàn ông tuổi từ 50 đến 75, có nên hay không nên đề
nghị định lượng thường kỳ PSA, một chỉ dấu sinh học của ung thư
tuyến tiền liệt ? Từ nhiều năm nay, Hiệp Hội Niệu Học của Pháp
khuyên định lượng PSA để điều tra phát hiện ung thư tuyến tiền
liệt. Người ta đánh giá rằng ở Pháp mỗi năm có 2,7 triệu phân
tích này được thực hiện và bảo hiểm xã hội phải đảm nhận 65
triệu Euro tiền phí tổn..
Phải chăng sự thực hiện đại trà các định lượng PSA không
được biện minh về phương diện y học và kinh tế? Hai chuyên gia,
một về y tế công cộng, một về dịch tễ học, rất hoài nghi về việc
này. Giáo sư Gérard Dubois (CHU d’Amiens) vừa công bố trong
Canadian Journal of Public Health, một bài báo trong đó ông tố
cáo ở Pháp thiếu sự đánh giá về mặt y tế và kinh tế của phương
thức phát hiện ung thư này.
CHẨN ĐOÁN LẠM DỤNG
Trên quan điểm này
ông chia xẻ những kết luận được đưa ra bởi Catherine Hill (Viện
Gustave-Roussy) trong số vừa qua của tạp chí Presse Médicale.
“Điều bất lợi chủ
yếu của phương pháp phát hiện ung thư tiền liệt tuyến bằng định
lượng PSA là sự lạm dụng chẩn đoán, nghĩa là phát hiện những ung
thư sẽ không bao giờ trở thành triệu chứng mà việc điều trị
chúng thường dẫn tới hậu quả là gây cho bệnh nhân chứng bất lực
và són đái do điều trị”
Bà Catherine Hill đã nói
như vậy.
“ Phải dám nói rằng
tình hình hiện nay ở Pháp là nguồn gốc của một trận dịch các ung
thư tiền liệt tuyến giả(pseudo-cancers prostatiques) với những
hậu quả tai hại. Với tình hình kiến thức hiện nay thật là không
hợp lý khi cứ theo đuổi những lời khuyên của Hiệp Hội Niệu Học
của Pháp”. Đối với bà chuyên gia dịch tễ học nầy, phải đợi kết
quả những phân tích về tỷ lệ tử vong trong hai điều tra phát
hiện sẽ được thực hiện ở Châu Âu và Hoa Kỳ. Những phân tích này
theo dự kiến sẽ bắt đầu từ năm 2008. (LE MONDE 12/7/2007)
7/ THỜI SỰ ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG
Suốt trong những năm qua, các tiến bộ quan trọng đã được thực
hiện trong việc điều trị bằng thuốc chống lại bệnh đái đường.
Trong những tháng tới các thuốc mới được trông đợi tiếp nhận.
Các chất tương cận GLP-1 (analogues du GLP-1) và các chất cản
DPP-IV (inhibiteurs de la DPP-IV) sẽ cho phép làm chậm lại tiến
triển của bệnh đái đường loại 2 thành insulinorequérance (đòi
hỏi insuline), trong khi đó insuline hít (insuline inhalée) cho
phép thực hiện điều trị bằng insuline được dễ dàng hơn và sớm
hơn. Vị trí của các phép điều trị này còn cần phải được xác lập.
GLP-1
(Glucagon-like Peptide-1) là một hormone peptidique được tiết ra
bởi ruột non do sự hiện diện của glucose. Hormone này kích thích
tiết insuline (effet incrétine). Ngoài tác dụng incrétine, GLP-1
cản sự tiết glucagon, làm giảm năng lực vận động của ruột non và
làm gia tăng cảm giác no nê.
GLP-1 thiên nhiên
(naturel) bị thoái hóa và được thải rất nhanh in vivo. Vì vậy
đưa đến sự phát triển các chất tương cận GLP-1 và các chất có
khả năng làm chậm sự thoái hóa của GLP-1 thiên nhiên, đặc biệt
là các chất cản DPP-IV (inhibiteurs de la Dipetidyl
peptidase-IV).
Exenatide (Byetta) là chất tương cận của GLP-1 đầu tiên
được bào chế. Sitagliptin (Januvia) là chất cản DPP-IV đầu tiên
được phát triển. Hai dược phẩm này đã được thương mãi hóa ở Hoa
Kỳ và được sử dụng kết hợp với điều trị cổ điển bằng đường miệng
để điều trị chống bệnh đái đường. Trái với insuline, các thuốc
này gây tăng nhẹ thể trọng và không liên kết với biến chứng hạ
đường huyết. Các tác dụng phụ chính là về tiêu hóa. Exenatide
được chích dưới da 2 lần mỗi ngày trong khi Sitagliptin được cho
bằng đường miệng với liều độc nhất mỗi ngày. Exenatide dưới dạng
tác dụng chậm đã được bào chế để cho phép tiêm mỗi tháng một
lần.
Insuline hít
(insuline inhalée) sẽ được lưu hành ở Châu Âu trong thời gian
sắp đến. Đó là phương cách cho insuline mà không phải tiêm
chích. Các đường cho thuốc qua mũi, qua da (transdermique) và
miệng luôn luôn đang trong giai đoạn nghiên cứu. Exubera là
insuline hít đầu tiên được thương mãi hóa ở Hoa Kỳ. Insuline
được trình bày dưới dạng bột và bệnh nhân có thể hít vào nhờ một
hệ thống đặc biệt. Chống chỉ định dùng insuline hít là nghiện
thuốc lá và các bệnh lý về phổi. Mặc dầu insuline hít dường như
hiệu quả như insuline tiêm chích dưới da, tuy thế tính vô hại
của phương thức thuốc này trên phổi về lâu về dài chưa được xác
lập.
Rimonabant (Acomplia) sẽ được cho phép sử dụng ở Bỉ
trong năm 2007. Thuốc này được dùng để điều trị chứng béo phì
(obésité) và như vậy rất có ích trong điều trị bệnh đái đường
loại 2. Rimonabant là chất đối kháng những thụ thể CBI của hệ
endocannabinoide đầu tiên được bào chế. Hệ endocannabinoide can
dự vào trong việc kiểm soát ăn uống và cân bằng năng lượng.
(LA REVUE DE LA
MEDECINE GENERALE 6/2007)
8/
PHÁT HIỆN UNG THƯ NHỜ “CHỮ KÝ” CỦA NÓ
Tiên đoán nguy cơ
di căn của các khối u, đó là một trong những tiến bộ mới nhất
được trình bày ở Hội Nghị Ung Thư Học Thế Giới vừa rồi.
Đối với 30.000
chuyên gia ung thư học của Hội Ung Thư Lâm Sàng Hoa Kỳ họp ở
Chicago từ ngày 1 đến ngày 5 tháng 6 năm nay, thì đây đúng là
lúc để xác nhận tính hiệu quả của cái mà người ta gọi là các
phép sinh điều trị (biothérapies). Khác với hoá học trị liệu cổ
điển, sinh trị liệu tác động chủ yếu lên các tế bào ung thư và
có một tác động ít hơn lên các tế bào lành mạnh, điều này cho
phép làm giảm các tác dụng phụ. Cũng được gọi là điều trị nhắm
đích (thérapie ciblée). Phép trị liệu này từ nay được sử dụng để
chống lại nhiều loại ung thư (vú, thận, ruột già, phổi, gan,
lymphome.. ). Bằng cớ sức sống của sinh điều trị: 600 loại
thuốc khác nhau đang được thực nghiệm !
Ngoài những tiến bộ này, hội nghị lần thứ 43 của Hội Ung
Thư Lâm Sàng Hoa Kỳ cũng đã quan tâm về những “chữ ký sinh học”
của ung thư: “Từ nay đến 10-15 năm nữa, nhiều công trình đang
được tiến hành sẽ cho phép tiên đoán các khối u có nguy cơ di
căn nhờ phân tích sinh học. Đó là mục tiêu chiến lược của ung
thư học ngày mai”, Giáo sư Xavier Pivot đã phấn khởi phát biểu
như vậy. Ông là chuyên gia ung thư học của CHU Jean-Minjoz ở
Besançon.
Ngày nay đứng trước một bệnh nhân bị ung thư, việc chọn
lựa điều trị tùy thuộc vào sự hiện diện của các di căn hay
không. Do đó, việc tổng kê sự lan rộng (bilan d’extension) có
tầm quan trọng, và nhằm truy tìm những di căn của những tế bào
bất thường từ khối u nguyên khởi ở gan, phổi, não hoặc xương.
Khi phép chụp ảnh cổ điển (Scanner, IRM..) chẩn đoán được các di
căn này thì việc điều trị trở nên khó khăn bởi vì lúc đó cần
phải loại bỏ hàng trăm triệu tế bào ung thư trong những thương
tổn chỉ vài mm. Ngày nay, khi không có những di căn mà mắt trần
có thể nhìn thấy, một phép điều trị nội khoa được gọi là
adjuvant (hoá học trị liệu, hormone trị liệu...) sẽ được đề nghị
sau khi đã giải phẫu để loại bỏ những vi di căn
(micrométastases). Ngày mai tình hình sẽ hoàn toàn khác.
Sau khi một khi khối u đã được phẫu thuật lấy đi, người ta
sẽ có thể phân tích các tổ chức mô bị bệnh và định lượng biểu
hiện (expression) của các gènes và protéines để xác lập điều mà
người ta gọi là một “chữ ký u di truyền hay protéine” (signature
tumorale génétique ou protéomique). Điều này sẽ cho phép biết
một cách chính xác là đã có nguy cơ các tế bào ung thư đã vào
trong tuần hoàn máu chưa. Đối với ung thư vú, điều đó cho phép
tránh những đợt điều trị vô ích, như đang xảy ra hiện nay trong
10 đến 15% trường hợp.” Giáo sư Pivot đã nói rõ như vậy.(SCIENCE
ET AVENIR 7/2007)
9/ TÁC DỤNG CHỐNG CẢM LẠNH CỦA VITAMIN C
BỊ PHỦ NHẬN
Một duyệt xét lai các thử
nghiệm về sử dụng vitamin C để phòng ngừa và điều trị cảm cúm đã
kết luận rằng vitamin C phần lớn không có hiệu quả.
Trong 30 thử nghiệm với 11.350
người tham gia được cho uống ít nhất 200 mg vitamin C mỗi ngày,
các nhà nghiên cứu đã không nhận thấy có sự giảm tỷ lệ mắc bệnh
cảm lạnh do việc sử dụng vitamine C. Vitamin C đúng là có làm
hơi giảm thời gian và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng
cảm lạnh nhưng hiệu quả bé nhỏ không đáng kể trên mặt lâm sàng.
Nhưng vitamin C
có hiệu quả rõ ràng trong vài trường hợp. Trong 6 thử nghiệm
trên những người chịu stress vật lý cùng cực, bao gồm những
người chạy marathon, những vận động viên chạy đua, những người
trượt tuyết và những người lính Canada trong lúc tập dược vào
mùa đông ở Bắc cực, thì vitamin C đã làm giảm ½ tỷ lệ mắc phải
cảm lạnh.
«Chúng tôi quả đã nhận thấy thời gian bị cảm lạnh giảm 8%
nơi người trưởng thành và giảm 13% nơi trẻ em», BS Harry Hemila,
phó giáo sư của khoa y tế công cộng ở Đạị Học Helsinki đã phát
biều như thế, «Vậy thì, có thể sẽ có hiệu quả hơn với liều lượng
lớn hơn»
Ngay cả với những liều
lượng rất lớn, vitamin C có vẻ ít gây độc hại. Trên 2400 người
uống 1000 mg mỗi ngày, chỉ có 5,8% ghi nhận có tác dụng phụ, so
với 6% những người uống placebo. Nhưng không có triệu chứng nào
là nghiêm trọng cả. (INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 26/7/2007)
10/ LÝ THUYẾT
VỀ CÀ CHUA BỊ XÉT LẠI
Trong khi
duyệt xét lại các dữ kiện khoa học, Cơ quan Quản Trị Thực Phẩm
và Dược phẩm Hoa Kỳ đã nhận thấy hầu như không có bằng chứng cho
thấy rằng cà chua hoặc chất chống oxi hóa lycopene đã có hiệu
quả trong việc phòng ngừa chống lại ung thư.
Công trình duyệt
xét này, được công bố online ngày 10/7 trên tờ Journal of the
National Cancer Institute, đã xem xét lại 81 công trình nghiên
cứu về lycopene và đã kết luận rằng không có một nghiên cứu nào
đã được thực hiện đưa ra bằng chứng đáng tin cậy để chứng minh
mối liên hệ giữa việc tiêu thụ chất chống oxi hoá (trong thực
phẩm hoặc trong các thuốc bổ sung) và nguy cơ bị ung thư tiền
liệt tuyến, phổi, đại trực tràng, nội mạc tử cung hoặc tụy tạng.
Các tác giả cũng đã xem xét 64 công trình quan sát về
sự tiêu thụ cà chua hoặc các sản phẩm của cà chua và nguy cơ mắc
bệnh ung thư. Các tác giả đã không tìm thấy bằng cớ chứng tỏ
rằng sự tiêu thụ cà chua đã làm giảm nguy cơ bị ung thư phổi,
vú, đại trực tràng, nội mạc tử cung hoặc cổ tử cung. Các tác giả
kết luận rằng, việc ăn cà chua không thể có một tác dụng nào lên
nguy cơ bị ung thư tụy tạng, tiền liệt tuyến, dạ dày hoặc buồng
trứng.
Một nghiên cứu khác
được công bố tuần qua trên tờ Journal of the American Medical
Associattion đã nhận thấy rằng một chế độ ăn uống ít mỡ nhiều
trái cây và rau xanh đã không có lợi ích trong việc ngăn ngừa sự
tái phát của ung thư vú. (INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE
26/7/2007)
B.S NGUYỄN VĂN
THỊNH
(
27/7/2007)
Trở về Trang Chính
|