|
1/ CÓ NÊN PHẪU THUẬT NHỮNG PHÌNH MẠCH NÃO KHÔNG BỊ VỠ KHÔNG ?
Một can thiệp phẫu thuật nội huyết quản (une
intervention endovasculaire) cho phép điều trị các « thoát vị »
(hernies) của thành động mạch trước khi bị vỡ. Nhưng kỹ thuật
này không phải là không có nguy cơ.
Có nên đề nghị một cuộc phẫu thuật cho một người với
phình mạch não (anévrisme cérébral) được khám phá tình cờ lúc
làm scanner hoặc IRM vì bị chóng mặt hoặc té ngã, nhằm tránh
nguy cơ bị vỡ sau này hay không ? Mặc dầu bản thân phẫu thuật
này có một tỷ lệ biến chứng nào đó. Thật là một thế lưỡng nan
bởi vì bọc máu bé nhỏ này có thể vỡ mặc dầu nguy cơ này rất
thấp. Phình mạch não (sự giãn khu trú của một động mạch não),
lớn dần ra dưới tác dụng của những đợt liên tiếp của áp lực máu,
liên quan đến 1- 5% đối với những thanh niên trên 18 tuổi. Nhưng
phần lớn các phình mạch não này sẽ không bao giờ vỡ (1% nguy cơ
mỗi năm).
Trước khi phình mạch não vỡ, trước đó bệnh nhân thường đau đầu
một cách bất bình thường, với cường độ cực kỳ không đáp ứng với
các thuốc chống đau cổ điển. Phình mạch não khi vỡ sẽ gây nên
xuất huyết não, là nguyên nhân của nhiều biến chứng. Cứ hai bệnh
nhân có phình mạch não vỡ thì một bệnh nhân sẽ tử vong. 3/4
những người sống sót bị những di chứng quan trọng : bại liệt,
rối loạn lời nói, thị lực, bước đi, trí nhớ. Chỉ một phần tư các
nạn nhân của một tai biến như thế là thoát nạn không bị di
chứng.
Đứng trước một mối hiểm nguy tiềm tàng như thế, phải đề nghị
giải pháp hay nhất nào đây ? Can thiệp phẫu thuật hoặc không làm
gì cả chỉ theo dõi mà thôi ? Các chuyên gia tự hỏi như vậy.
Giới chuyên gia càng ngày càng có khuynh hướng đề nghị
điều trị phẫu thuật nội huyết quản, bởi vì từ gần 15 năm nay,
nhờ những kỹ thuật quang tuyến thần kinh can thiệp
(neuroradiologie interventionnelle) được thiết lập vào đầu những
năm 1980 bởi các chuyên gia xuất sắc người Pháp, nên khả năng
điều trị mà « không cần phải mở » hộp sọ là có thể thực hiện
được. Việc đặt endoprothèse vasculaire đã chứng tỏ có hiệu quả
trên những phình mạch não đã vỡ so với những kỹ thuật ngoại khoa
thần kinh cổ điển hơn (đặt một clip nơi cổ (collet) nối phình
mạch với động mạch).
Kỹ thuật bít chỗ vỡ dưới sự kiểm tra của quang tuyến được thực
hiện bằng cách đưa một ống mềm (cathéter) vào động mạch đùi
(artère fémorale) nơi vùng bẹn, sau đó đẩy ống này lên đến động
mạch não bị phình. Các chuyên viên quang tuyến thần kinh sau đó
đưa xuyên qua cathéter nhiều cuộn xoắn kim loại nhỏ (petites
spirales métalliques, coils) bằng sợi platine cho đến tận trong
bọc phình mạch. Lúc mở ra, các cuộn xoắn kim loại này sẽ bít
lấp hoàn toàn bọc phình
mạch.
GIẢI PHẪU
PHÒNG NGỪA
“ Nhưng kỹ
thuật này cũng không phải là không có biến chứng : cứ một trăm
bệnh nhân sẽ có một tử vong và cứ 100 bệnh nhân sẽ có 2 bệnh
nhân sẽ bị những di chứng sau phẫu thuật (bại liệt, rối loạn thị
giác, rối loạn tâm lý thần kinh ”, GS Christophe Cognard, trưởng
khoa quang tuyến thần kinh ở Toulouse đã báo trước như vậy. “ Do
đó chúng ta cần phải chống lại áp lực của các bệnh nhân, khi
biết mình đang mang phải một phình mạch não, sẽ đòi hỏi chúng ta
phải giải phẫu phòng ngừa bằng mọi giá.”
Đó là lý
do tại sao một công trình nghiên cứu quốc tế sâu rộng vừa được
phát động do sáng kiến của Canada cách nay một năm, với sự hỗ
trợ của Hội quang tuyến thần kinh của Pháp. Được mệnh danh là
TEAM, công trình này theo dự kiến tuyển mộ 2002 bệnh nhân (một
nhóm được điều trị bằng phẫu thuật so sánh với một nhóm chỉ được
theo dõi ) trong 60 trung tâm bệnh viện ( trong đó 24 của Pháp)
rất tiên tiến trong lãnh vực này. Cả hai nhóm sẽ được điều trị
chứng cao huyết áp nếu có và được khuyến khích giảm các yếu tố
nguy cơ (thuốc lá và ruợu). Công trình dài hạn 10 năm này sẽ
được tài trợ đến 5 triệu dollars (cho giai đoạn đầu 5 năm) bởi
các viện nghiên cứu về sức khỏe ở Canada. Công trình này hoàn
toàn độc lập với giới kỹ nghệ.
« Chúng ta cần nghiên cứu này bởi vì hiện tại chúng ta
không biết trả lời một cách khoa học các câu hỏi hay những yêu
cầu của các bệnh nhân của chúng ta ». Giáo sư Jacques Moret,
trưởng khoa quang tuyến thần kinh thuộc Tổ Chức
Rothschild ở Paris, một trong những cơ quan tiền phong của kỹ
thuật này, đã nhấn mạnh như vậy.
Trong vài trường hợp (phình mạch não có kích thước
lớn nơi một bệnh nhân trẻ ) quyết định điều trị phẫu thuật được
chỉ định dễ dàng. Trong những trường hợp khác ( phình mạch não
nhỏ nơi một người già ) thì quyết định theo dõi tỏ ra ưu thế
hơn. Bởi vì một phình mạch não càng nhỏ thì càng phức tạp nếu
điều trị bằng đường nội huyết quản. Nhưng có rất nhiều tình
huống trung gian khiến các nhà chuyên viên rất khó quyết định.(
LE FIGARO 9/9/2007)
2/ NHỮNG NIỀM HY VỌNG HẢO CỦA MỘT VACCIN CHỐNG SIDA
Hãng bào chế Merck đã loan báo từ bỏ những thử
nghiệm giai đoạn 2 của V520 vì không có kết quả.
Người ta nói rằng đó là một trong những ứng viên vaccin
chống bệnh sida hứa hẹn nhất. Nhưng sau 3 năm thực nghiệm trên
hàng ngàn người tình nguyện, các nhà nghiên cứu của hãng bào chế
dược phẩm Merck và của Viện Quốc Gia Hoa Kỳ về dị ứng và các
bệnh nhiễm khuẩn (Niaid) đã tiến hành phối hợp công trình
nghiên cứu này, cuối cùng buộc phải công nhận : vaccin ứng viên
không có hiệu quả..
« Thuốc chủng này đã được xem như là chiến lược đầy
hứa hẹn nhất và tôi nghĩ rằng thất bại này là mối thất vọng đối
với chúng tôi và đối với tất cả những ai nghiên cứu vaccin này
». BS Mark Feinberg, phó chủ tịch hãng bào chế Merck đã tuyên bố
như vậy, theo viện dẫn của tờ New York Times. Về phía mình,
Anthony Fauci, giám đốc của Viện Quốc Gia Hoa Kỳ về dị ứng và
các bệnh nhiễm khuẩn (Niaid), mặc dầu đánh giá rằng “các kết quả
của trắc nghiệm này rõ ràng là gây thất vọng” nhưng cho rằng còn
quá sớm để vứt bỏ loại vaccin mới chống sida này.
Bởi vì, trái
với các vaccin cổ điển chủ yếu làm hoạt hóa (doper) một cách
toàn diện tính miễn dịch của cơ thể để làm gia tăng sự sản xuất
kháng thể, vaccin của hãng bào chế Merck nhằm kích thích một
cách có trọng điểm một vài loại tế bào, các tế bào lympho T.
Thật vậy các nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ rằng những bệnh
nhân đề kháng tốt nhất với virus và với bệnh sida là những người
có tỷ lệ tế bào lympho T quan trọng nhất.
NHỮNG THÍ NGHIỆM KHÁC ĐANG ĐƯỢC TIẾN HÀNH
Do đó ứng viên vaccin được mệnh danh là V520 đã được
dự kiến. Đó là một virus của bệnh cảm cúm được làm giảm độc lực
và được thêm phụ vào 3 gènes tổng hợp của HIV (gag, pol và nef),
nhằm mang lại một đáp ứng mạnh của những tế bào lympho. Vào năm
2004, thử nghiệm lâm sàng của V520 được phát động trên 3000
người tình nguyện có huyết thanh âm tính (séronégatif), tuổi từ
18 đến 45, cư ngụ ở Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Pérou, Brésil, Porto
Rico và Nam Phi. Một nửa những người tình nguyện, những người
khỏe mạnh nhưng có cuộc sống có nhiều nguy cơ hơn những người
khác (những người đồng tính luyến ái, các gái mãi dâm...) đã
nhận 3 mũi chích V520 trong 6 tháng, trong khi đó một nửa kia đã
nhận 3 liều một thuốc chủng giả mà không hay biết.
Sau khi trở lại với cuộc sống bình thường, các người
tình nguyện được theo dõi đều đặn để biết xem họ có bị nhiễm
trùng bởi HIV trong suốt thời gian hoạt động của họ hay không.
Đó là một tổng kết trung gian đầu tiên của 1500 người tình
nguyện đã quyết định gián đoạn cuộc thực nghiệm. Thật vậy trên
741 người đã nhận ít nhất một liều V520, 24 trường hợp nhiễm
trùng HIV đã được xác nhận. Và trên 762 người đã chỉ nhận một
vaccin placebo, 21 trường hợp nhiễm trùng đã được nêu lên. Kết
luận : ứng viên vaccin đã không có tác dụng bảo vệ. Ngoài ra,
người ta hy vọng rằng V520 ít nhất sẽ có một tác dụng làm giảm
lượng virus (charge virale) nhưng điều này cũng đã không xảy ra.
Đối với các chuyên gia, hai nỗi thất vọng này sẽ không
vì thế mà sẽ làm họ khoanh tay. Nếu kết luận xác nhận rằng virus
của bệnh Sida là rất khác với tất cả các tác nhân sinh bệnh khác
mà để chống lại chúng y học đã có thể phát triển vaccin, thì
không phải vì vậy mà chấm dứt các công trình nghiên cứu. “ Đối
với chúng tôi thì thật là não lòng, nhưng chúng tôi phải tiếp
tục tiến lên ». Glenda Gray, người giám sát thực nghiệm ở Nam
Phi và điều khiển đơn vị nghiên cứu về Sida ở bệnh viện
Chris-Hani ở Soweto, Johannesbourg đã nhấn mạnh như thế.
Do đó, 30 thử nghiệm vaccin chống Sida khác còn đang được tiến
hành mặc dầu ở những giai đoạn tiến triển khác nhau. Niaid đang
tiến hành một thử nghiệm được bắt đầu từ đầu năm với một dạng
cải thiện của V520 trong đó những cấu chất di truyền khác của
HIV được thêm vào. Niaid theo dự kiến cũng khởi đầu một trắc
nghiệm với một vaccin kép : một mũi tiêm đầu với các gènes của
HIV, theo sau là một mũi tiêm của một chất tương tự với V520.
Từ khi HIV được nhận diện vào năm 1981, số người mang
virus không ngừng gia tăng. Hiện nay có gần 40 triệu người trên
thế giới mang virus, trong đó hơn 4 triệu nhiễm trùng mới xảy
mỗi năm ( 90% trong các nước đang phát triển). Trong vòng 25
năm, bệnh Sida đã gây nên hơn 25 triệu người chết mà hầu hết ở
châu Phi Sahara. ( LE FIGARO 24/9/2007)
3/ CAFE PHÒNG NGỪA BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 2
Một phân tích méta xác nhận rằng việc tiêu thụ đều đặn
café làm giảm nguy cơ mắc phải bệnh đái đường loại 2.
Nhiều công trình nghiên cứu ngang (études
transversales) đã chứng tỏ một hiệu quả bảo vệ của café trên
nguy cơ phát triển bệnh đái đường loại 2. GS André Scheen,
trưởng khoa đái đường thuộc CHU Sart (Liège) đã thực hiện một
tổng hợp các công trình nghiên cứu dọc (études longitudinales)
về vấn đề này.
Tại sao phải quan tâm vấn đề này đến thế ? Là bởi vì sự
khẩn cấp được đặt ra do trận dịch đái đường loại 2 đã được loan
báo sẽ xảy ra trong những năm sắp đến và bởi vì café là một loại
nước uống phổ biến khắp nơi trên thế giới, vì vậy café sẽ là một
công cụ phòng ngừa thực tiễn.
Theo kết quả của những công trình nghiên cứu viễn cảnh
(prospective study) thì hiệu quả bảo vệ của café lên sự phát
triển của bệnh đái đường loại 2 được xác nhận. “ Tầm quan trọng
của tác dụng bảo vệ được quan sát không phải là không đáng kể
(giảm nguy cơ từ 30 đến 60 %) và mức độ hiệu quả có thể so sánh
với các điều trị bằng dược liệu. Phần lớn các công trình này
được thực hiện trên quảng đại quần chúng và sẽ là lý thú khi
biết được các tác dụng đặc hiệu hơn của café lên những người có
nguy cơ cao ”. Các tác giả đã xác định như vậy. Ngoài ra, một
tác dụng tuỳ thuộc liều lượng (dose-dépendant) được quan sát và
hiệu quả này rõ rệt hơn với café décaféiné hơn là với café chính
quy ” (regular).
Vấn đề cơ chế và chất chịu trách nhiệm cho tác dụng lợi
ích này chưa được làm sáng tỏ.Tuy nhiên các tác giả cho rằng giả
thuyết về acide chlorogénique, mặc dầu chưa được chứng minh
nhưng khá hấp dẫn.
Song tất cả những nhận xét này khiến ta phải thận trọng
: “ Tuy nhiên còn hơi sớm để đưa ra những lời khuyên quả quyết
về vấn đề này ”. Các tác giả đã kết luận như thế.( LE JOURNAL DU
MEDECIN 25/9/2007)
4/ TRỞ NÊN GẦY ỐM CHỈ VÌ VÀI DOLLARS
Trả
tiền các công nhân bị thặng dư thể trọng (excès pondéral) để họ
tự nguyện làm gầy dường như là một biện pháp gây chú ý đối với
các xí nghiệp.
Đó là những phát
biểu của Eric Finkelstein và các cộng sự viên, trích từ Journal
of Occupational and Environmental Medicine. Các nhà nghiên cứu
đã khảo sát một nhóm 207 công nhân cân nặng trung bình 91 kg.
Các người tham dự được chia thành 3 nhóm. Những người của 2
trong 3 nhóm đó đã nhận một số tiền khuyến khích (un incitant
finacier) lần lượt từ 7 đến 14 dollars cho mỗi phần trăm trọng
lượng được làm giảm bớt. Nhóm thứ ba đã không nhận một số tiền
khuyến khích nào. Sau 3 tháng, các tác giả đã chứng nhận rằng sự
giảm cân xảy ra quan trọng hơn nơi những công nhân đã nhận tiền
thưởng. Trong giai đoạn 2 của công trình nghiên cứu, hai nhóm đã
được hoán đổi và một lần nữa các nhà nghiên cứu đã xác nhận sự
giảm trọng lượng tối đa xảy ra nơi các nhóm đã nhận dollars để
làm giảm cân. Các tác giả nhấn mạnh tỷ lệ mắc bệnh quan trọng
của chứng béo phì trong dân chúng Mỹ cũng như ảnh hưởng của nó
lên đời sống của các xí nghiệp do nghỉ bệnh gia tăng và do tổn
phí y tế quan trọng hơn nơi những công nhân béo phì. Một vài xí
nghiệp giúp do các công nhân làm gầy bằng cách cho họ sử dụng
các salle de fitness và phòng thể thao. Finkelstein cho rằng
việc dự kiến khuyến khích bằng tiền thưởng để làm gầy là điều có
lợi.( LE JOURNAL DU MEDECIN 25/9/2007)
5/ SỮA MẸ KHÔNG LÀM GIẢM NGUY CƠ BỊ SUYỄN HOẶC DỊ ỨNG
Người ta đã nghiên cứu và bàn cải nhiều về vai trò
bảo vệ của việc cho bú sữa mẹ lên sự phát triển của suyễn và dị
ứng. Các kết quả nghiên cứu việc bú sữa mẹ có ý nghĩa hơn về mặt
lợi ích của cách dinh dưỡng này đối với chàm quá mẫn (eczéma
atopique) trong thời kỳ thơ ấu nhưng ít rõ rệt hơn đối với suyễn
và những biểu hiện quá mẫn (atopique) khác (chứng sổ mũi mùa, dị
ứng thức ăn, trắc nghiệm da dương tính).
Một công trình nghiên cứu được tiến hành trong 31 nhà
hộ sinh ở Biélorussie nhằm cố gắng xác định xem việc chỉ cho bú
sữa mẹ không thôi và kéo dài có làm giảm nguy cơ bị suyễn và dị
ứng trong tuổi ấu thơ hay không. Michael Kramer và các công sự
viên đã tuyển mộ 17.046 cặp bà mẹ-trẻ em trong số đó có 13.889
trẻ (81,5%) được theo dõi cho đến 6,5 tuổi.. Công trình nghiên
cứu này, được gọi là Probit (Promotion of Breastfeeding
Intervention Trial) đã được tiến hành bởi một nhóm nghiên cứu
người Biélorussie và Canada.
Các kết
quả chứng tỏ rằng chương trình can thiệp đưa đến sự gia tăng
việc cho bú sữa mẹ chuyên nhất (exclusif) đã không làm giảm nguy
cơ bị các triệu chứng hoặc các chẩn đoán dị ứng, cũng như không
làm giảm số những người dương tính với prick test.
Đối với các tác giả những kết quả này không bảo vệ lập luận cho
rằng bú sữa mẹ chuyên nhất và lâu dài có tác dụng bảo vệ lên
suyễn hoặc dị ứng( LE JOURNAL DU MEDECIN 25/9/2007)
6/ THÊM MỘT LÝ DO NỮA ĐỂ CHO BÚ SỮA MẸ
Hai nhóm nghiên cứu của INRA de jouy-en-Josas và của trung tâm
nghiên cứu Nestlé (Lausane,Thụy Sĩ) đã nghiên cứu ảnh hưởng của
việc cho bú sữa mẹ trong việc hình thành hệ vi khuẩn ruột (flore
microbienne intestinale) của trẻ sơ sinh.Vào lúc sinh, trẻ sơ
sinh không có một vi khuẩn nào trong bộ máy tiêu hóa cả. Sau đó
ống tiêu hóa của trẻ nhanh chóng được định cư (colonisé) bởi một
hệ vi khuẩn phát xuất chủ yếu từ mẹ và môi trường. Để hiểu rõ
hơn ảnh hưởng của việc cho bú sữa mẹ, các nhà nghiên cứu đã khảo
sát các cặp bà mẹ-trẻ sơ sinh từ lúc mới sinh ra đến 4 tuần sau
khi sinh. Các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ rằng các vi khuẩn cùng
loài hiện diện trong sữa của các bà mẹ cho con bú và trong hệ
khuẩn ruột của con họ. Các thành phần vi khuẩn của các loài này
cũng được tìm thấy trong những tế bào máu của các bà mẹ. Điều
này gợi ý sự quá cảnh của các vi khuẩn từ các tế bào ruột non
đến các tuyến vú xuyên qua máu. Như vậy các kết quả này chứng tỏ
rằng bà mẹ có thể truyền cho nhũ nhi, qua việc cho con bú, những
thành phần vi khuẩn của chính hệ khuẩn ruột của họ. Những vi
khuẩn này có thể đến định cư trong bộ máy tiêu hóa của trẻ sơ
sinh và do đó góp phần vào việc chương trình hóa hệ miễn dịch
của đứa bé. ( READERS’S DIGEST 10/2007)
7/ NHIỄM ĐỘC THUỐC LÁ THỤ ĐÔNG VÀ SÂU RĂNG
Các trẻ em 5 tuổi có nguy cơ bị sâu răng 3 lần nhiều
hơn nếu cha hoặc mẹ hút thuốc. Một công trình nghiên cứu được
tiến hành bởi các nhà nghiên cứu của KUL đã tiết lộ như vậy. Mặc
dầu có tính đến các yếu tố khác có thể giải thích các trường hợp
sâu răng này, như các thói quen ăn uống, vệ sinh miệng và nguồn
gốc xã hội, nhưng từ nghiên cứu này các tác giả đã tìm được một
mối liên hệ rõ ràng có ý nghĩa giữa việc có cha mẹ hút thuốc và
sự phát sinh bệnh sâu răng.(GENERALISTE 27/9/2007)
8/ VIÊM PHẾ QUẢN MÃN TÍNH, TÊN SÁT NHÂN TẤN
CÔNG CÁC NGƯỜI HÚT THUỐC THỤ ĐỘNG
Từ lâu bị lãng quên, căn bệnh nghiêm trọng này liên quan đến
những người hút thuốc nhưng càng ngày càng có nhiều những người
không hút thuốc (non-fumeurs) cũng bị liên lụy, nhất là trong
các nước đang phát triển.
Viêm phế quản mãn tính do nghẽn tắc (BPCO) là một tai
ương rất ít được biết đến. Căn bệnh này dĩ nhiên liên quan đến
những người hút thuốc nhưng càng ngày những người không hút
thuốc (non-fumeurs) cũng chịu tác dụng tai hại của nhiễm thuốc
lá thụ động (tabagisme passif) hoặc những chất khói khác trong
nhà ở. Bệnh phế quản mãn tính này là nguyên nhân của hơn 2,5
triệu tử vong mỗi năm trên thế giới. Tờ tuần báo The Lancet đã
dành một hồ sơ quan trọng cho căn bệnh mà đặc điểm là sự teo hẹp
dần dần các phế quản, đưa đến sự suy giảm quan trọng khả năng hô
hấp. Từ nay đến năm 2020, căn bệnh nghiêm trọng với tiến triển
gia trọng theo tuổi này, có thể sẽ trở nên nguyên nhân gây tử
vong thứ 3 trên thế giới và là nguyên nhân gây tàn phế đứng thứ
5, theo những dự đoán của Tổ Chức Y Tế Quốc Tế.
“ Đáng tiếc thay, căn bệnh này ít được chẩn đoán, điều trị không
được đầy đủ, bị lơ là bởi quần chúng, bởi công nghệ dược phẩm và
ngay cả bởi các thầy thuốc.Tuy vậy, căn bệnh cũng liên quan ngày
càng nhiều những người không hút thuốc ; một công trình nghiên
cứu rộng lớn được tiến hành trên khắp thế giới, trong 12 nước,
bởi nhóm nghiên cứu của David Mannino và Sonia Buist của đại học
Kentucky, đi từ Trung Quốc qua Úc Đại Lợi, Nam Phi, Hoa Kỳ,
Canada, Áo hoặc Na Uy, đã chứng tỏ điều đó.
CHIẾN DỊCH ĐẢ THÔNG
Sau khi
đã thực hiện các thăm dò chức năng hô hấp bằng phế dung kế
(spiromètre) (đo các thể tích không khí được huy động bởi các
chuyển động hô hấp) trên gần 9.500 người trưởng thành trên 40
tuổi, các nhà nghiên cứu đã phát hiện bệnh viêm phế quản mãn
tính do nghẽn tắc (thể trung bình hoặc nặng) nơi 11,8% các đàn
ông và 8,5% các phụ nữ. “Nếu chứng nghiện thuốc lá xảy ra nhiều
hơn ở nam giới giải thích một sự khác nhau như thế, đặc biệt
trong các nước phát triển cao hoặc trung bình, thì trong các
nước đang phát triển, nguyên nhân của chứng bệnh này là sự ô
nhiễm không khí do các chất thải của chất đốt được dùng để sưởi
hoặc nấu thức ăn”. Các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh như vậy.
Các nhà nghiên cứu khác đã quan tâm đặc biệt hơn về
những tác hại của nhiễm độc thuốc lá thụ động. Ở Trung Quốc (
nơi có hơn 60% những người trưởng thành đã không bao giờ hút
thuốc), một công trình nghiên cứu (được thực hiện từ những bệnh
nhân của bệnh viện số 12 ở Quảng Châu, từ năm 2003 đến 2006) đã
chứng tỏ rằng viêm phế quản mãn tính do nghẽn tắc gây nên bởi sự
tiếp xúc quan trọng với khói thuốc lá của những người khác có
thể gây nên 0,9 đến 2,8 triệu tử vong trên 240 triệu người Hoa
trên 50 tuổi. Hiện tượng này hẳn tạo nên “ 100.000 tử vong mỗi
năm ở Trung Quốc trong đó 45% là do viêm phế quản mãn tính do
nghẽn tắc. Giáo sư Cheng và BS Peymané Adab của Đại học
Birmingham (Vương Quốc Anh) đã chỉ rõ như vậy. Hai thầy thuốc
này chủ trương thành lập khẩn cấp những chiến dịch đả thông nhằm
cảnh cáo về những những tác hại của nhiễm độc thuốc lá thụ động.
Ở Pháp, 5 -
10 % người trưởng thành, hoặc từ 2 đến 4 triệu người Pháp, bị
viêm phế quản mãn tính do nghẽn tắc, trong đó 30.000 người ở
giai đoạn suy hô hấp mãn tính. Những bệnh nhân này phải được
điều trị tại gia bằng oxy liệu pháp hoặc bằng thông khí hỗ trợ
(ventilation assistée). Ở Pháp căn bệnh này là nguyên nhân của
ít nhất 15.000 tử vong mỗi năm.( LE FIGARO 1-2/9/2007)
9/ ĐIỆN CÓ THỂ PHÁ HUỶ CÁC TẾ BÀO UNG THƯ
Phá hủy các tế bào khối u bằng điện đồng thời gìn giữ
các tổ chức chung quanh không bị thương tổn là điều có thể thực
hiện được và phương pháp này được gọi là “ électroporation
irréversible”. Kỹ thuật này nhằm phát ra qua các điện cực một
cách kế tiếp nhau, và trong một thời gian rất ngắn, những phóng
điện (décharges électriques) vào các nơi khác nhau của khối u.
Cấu trúc của thành các tế bào bị tan rã. Hậu quả là các lỗ được
tạo thành, qua đó các tế bào sẽ trút sạch các chất chứa đựng bên
trong rồi chết. Từ những năm 60, électroporation đã được sử dụng
đều đặn nhằm đưa các ADN vào trong các tế bào vi khuẩn. Nhưng
trong trường hợp này các vi khuẩn vẫn sống bởi vì các lỗ được
tạo ra chỉ có tính cách tạm thời. Nhóm của Rafael Davalos (đại
học Virginia Tech), liên kết với Lluis Mir (Viện Gustave-Roussy
de Villejuif) đã có ý nghĩ sử dụng và chuyển hướng kỹ thuật này
bằng cách làm gia tăng cường độ sự điều trị bằng điện. Như thế
các lỗ được tạo trong màng tế bào sẽ không bị đóng lại nữa. Lợi
ích ? Phép điều trị kéo dài một phút và hiệu quả có thể được
theo dõi bởi tomographie. Những thử nghiệm đầu tiên trên các
khối u tuyến tiền liệt sẽ được thực hiện vào đầu năm.( SCIENCE
ET VIE 9/2007)
10/ KÉO DÀI MỘT DÂY GÂN RA LÀM GIẢM BỚT CHỨNG LIỆT MẶT
Theo một phân tích được tiến hành bởi các nhà nghiên
cứu của đại học Johns-Hopkins (Baltimore), một kỹ thuật ngoại
khoa mới đây xác nhận rằng có thể mang lại những nét biểu lộ cho
các khuôn mặt bị làm bất động bởi một vài dạng bại liệt mặt
(paralysie faciale). Được phát triển vào đầu những năm 2000,
loại phẫu thuật này nhằm cắt đứt một đầu của dây gân (tendon) và
của cơ thái dương (muscle temporalis) ở vùng thái dương, rồi kéo
và buột chúng vào những cơ của miệng. Lần đầu tiên, hiệu quả của
phẫu thuật đã được đánh giá theo sự thoả mãn được biểu hiện bởi
các bệnh nhân. Và các kết quả có sức thuyết phục : các bệnh nhận
được theo dõi đã đánh giá 8,5 trên 10 theo chỉ dấu thỏa mãn của
họ. Các bệnh nhân đã phục hồi lại trung bình 4,2 mm biên độ nơi
nụ cười. Tất cả các bệnh nhân đã theo các buổi phục hồi chức
năng tăng cường trước và sau phẫu thuật. Đối với các nhà khoa
học, phương thức hiệu quả chắc chắn và đơn giản này mang lại
những kết quả tốt hơn, nếu được kết hợp với phục hồi chức năng
tăng cường. ( SCIENCE ET AVENIR 9/2007)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
( 30/9/2007)
Trở về Trang Chính
|