|
1. SINH ĐÔI VÀ TỶ LỆ
TỬ VONG LÚC SINH
Trong thai sinh đôi đủ tháng, đứa trẻ sinh
sau cùng có tỷ lệ tử vong gia tăng lúc sinh.Trong trường hợp
sinh đẻ tự nhiên, tỷ lệ tử vong do thiếu oxy tăng gấp bốn lần.Từ
năm 1994 den 2003, Smith và các cộng sự viên đã thực hiện một
công trình nghiên cứu để biết xem trong trường hợp đẻ sinh đôi,
sự việc sinh ra đầu hay sinh ra thứ hai có ảnh hưởng đến tỷ lệ
tử vong lúc sinh của trẻ sinh đôi hay không. Các dữ kiện của các
nhà nghiên cứu xuất phát từ 1.377 trường hợp có thai sinh đôi
trong đó một trong hai trẻ sinh đôi bị chết trong lúc sinh hoặc
một ít lâu sau đó và tử vong này không phải do một di tật bẩm
sinh.Trong công trình nghiên cứu này, thứ tự lúc sinh (sinh thứ
nhất hay thứ hai) không có ảnh hưởng lên tỷ lệ tử vong lúc sinh
đối với các trẻ sinh đôi sinh trước 36 tuần thai nghén.
Trái lại, đối với các trẻ sinh đôi đủ tháng,
thứ tự lúc sinh dường như đóng một vài trò nào đó cho nguy cơ
gia tăng rõ ràng đối với trẻ sinh thứ hai. Nguy cơ tử vong do
thiếu oxy và chấn thương trong khi sinh chính là nguy cơ chủ yếu
đối với trẻ sinh đôi thứ hai. Theo các nhà nghiên cứu nầy thì
nguy cơ đặc biệt rõ nét hơn trong trường hợp sinh bằng đường âm
đạo, so với bằng césarienne.
(LE JOURNAL DU MEDECIN
23/3/2007)
2. TRỌNG LƯỢNG LÚC
SINH, TUỔI THIẾU NIÊN VÀ BỆNH TRẦM CẢM
Người ta đã biết rằng một trọng lượng thấp
lúc sinh có thể liên kết với sự phát sinh về sau này của bệnh
cao huyết áp và bệnh tiểu đường. Elizabeth Costello (USA) và các
cộng sự viên muốn biết xem có một mối liên hệ giữa trọng lượng
thấp lúc sinh và chứng trầm cảm hay không. Các nhà nghiên cứu
nầy đã thực hiện một cuộc nghiên cứu trên một tập thể gồm 1.420
thiếu niên và thiếu nữ tuổi từ 9 đến 16 tuổi. Khoảng 5,7% các
thiếu nữ của nhóm nghiên cứu này có trọng lượng lúc sinh dưới
2,5kg. Trong số các thiếu nữ này 38% đã bị một hoặc nhiều cơn
trầm cảm từ lứa tuổi 13 đến 16 tuổi. Trong một nhóm các thiếu nữ
cùng lứa tuổi, nhưng trọng lượng lúc sinh cao hơn, có khoảng
8,4% đã bị một cơn trầm cảm ít nhất một lần..Theo các tác giả,
nguy cơ phát sinh bệnh trầm cảm trở nên quan trọng hơn, đặc biệt
là đối với các thiếu nữ có trọng lượng lúc sinh thấp và ngoài ra
đã phải đương đầu với những vấn đề trong thời kỳ mới sinh,trong
thời kỳ thơ ấu hay thiếu niên. Ở các thiếu niên nam, các tác giả
đã không tìm thấy một liên hệ nào giữa trọng lượng lúc sinh và
sự gia tăng nguy cơ bị bệnh trầm cảm trong thời kỳ niên thiếu.
Theo các tác giả cũng không có mối liên hệ giữa trọng lượng thấp
lúc sinh và các bệnh tâm thần khác và điều này đúng cho cả thiếu
niên lẫn thiếu nữ. Các tác giả khuyến khích bậc cha mẹ và thầy
thuốc của các thiếu nữ có trọng lượng thấp lúc sinh phải đặc
biệt cảnh giác về sức khỏe tâm thần của các thiếu nữ này.
(LE JOURNAL DU
MEDECIN 23/3/2007)
3. BỆNH ALZHEIMER: MỘT VACCIN MỚI CHẰNG BAO LÂU SẼ ĐƯỢC THỰC
NGHIỆM
Vào năm 2000, một thử nghiệm lâm sàng đã trắc nghiệm trên người
một vaccin chống bệnh Alzheimer nhưng đã bị đình chỉ sau đó bởi
vì các tác dụng phụ nghiêm trọng (vài trường hợp viêm não-màng
não gây tử vong). Một vaccin mới dễ sử dụng (dưới da) vừa được
hiệu chính ở Hoa Kỳ bởi các nhà nghiên cứu của Đại Học Yale.
Được trắc nghiệm trên chuột được chuyển di truyền (transgénique)
và được gây bệnh Alzheimer, vaccin này đã có thể ngăn cản ngay
tuần lễ thứ tư sau khi chích, sự kết đọng các plaques amyloides
trong não bộ (đặc điểm bệnh lý của bệnh Alzheimer). Vaccin được
dung nạp rất tốt. Các thử nghiệm trên người có thể sẽ được bắt
đầu trong thời gian gần đây.
(LA
LIBRE MATCH 22/3-28/3/2007)
4. PHẢI CHĂNG TÌNH MẪU TỬ LÀM BIẾN ĐỔI BỘ GENE CỦA CHÚNG TA?
Sau khi quan sát hành vi của chuột mẹ đối với chuột sơ sinh của
chúng, các nhà di truyền của Đại Học Mc Gill ở Montréal tin chắc
quả đúng là như vậy và sự biến đổi này sẽ lâu bền.
Phải chăng tình mẫu tử sẽ làm cho chúng ta không những
chỉ tin tưởng hơn, ít stress hơn, mà cũng còn làm biến đổi mật
mã di truyền (code génétique) của chúng ta? Nói một cách khác
phải chăng bộ gène (génome) của chúng ta, nhờ một mức độ cao của
tình mẫu tử, có thể làm sai những chỉ thị di truyền đã được xác
định để cho phép chúng ta thích nghi hơn với thế giới bên ngoài?
Đó là kết luận vừa đạt được của một nghiên cứu mới về vấn đề
này,đươc công bố trong Journal of Neuroscience bởi các nhà di
truyền của Đại Học Mc Gill ở Montréal. Các nhà nghiên cứu này đã
quan sát hành vị của chuột mẹ đối với các chú chuột sơ sinh của
chúng. Tại sao lại sử dụng các động vật gậm nhấm để làm thí
nghiệm trong khi đời sống của một chú chuột không giống chút nào
với đời sống của một con người? Thật vậy vì lẽ có sự khác nhau
giữa người và một động vật gậm nhấm nên ta không thể so sánh sự
phân ly giữa chuột mẹ và chuột con với việc đặt một em bé ở nhà
trẻ.
Tuy vậy các cơ chế chi phối cũng khá giống nhau. Mặc
dầu chuột không có nhà trẻ, nhưng chuột là những động vật phòng
thí nghiệm tiêu biểu nhất bởi vì chất liệu di truyền (matériel
génétique) của chúng, não bộ của chúng và ngay cả sinh họat của
chúng rất giống với con người.
Các nhà nghiên cứu từ lâu đã biết rằng các động vật
được thương yêu và được săn sóc trìu mến bởi mẹ thì ít sợ hãi
hơn và có khuynh hướng ưa thích mạo hiểm hơn. Hiệu quả này là do
sự biến đổi của biểu hiện gène chi phối những đáp ứng của não bộ
đối với stress. Sự biến đổi này làm gia tăng những thụ thể
(récepteurs) mới đối với stress nằm trong một vùng của não bộ
gọi là ngư mã (hippocampe) và sự gia tăng nhiều các thụ thể này
sẽ làm giảm bớt phản ứng của cơ thể đối với các tình huống
stress.
Ngược lại, sự việc tách rời thường xuyên các động vật
sơ sinh khỏi mẹ của chúng cũng như các biến cố khó chịu khác sẽ
làm gia tăng lượng hormone de stress (kích thích tố gây căng
thẳng) trong máu. Người ta cũng xác nhận rằng não bộ của chúng
ít được nối kết hơn. Các chú chuột nhỏ về sau này sẽ mắc phải đủ
loại rối loạn. Các thí nghiệm được tiến hành trên chuột đã phát
hiện rằng các biến đổi này có thể bền lâu và được truyền cho các
thế hệ tương lai.
Đồng thời, nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng các trẻ thiếu
tình mẫu tử có một sức khỏe vật lý và tâm thần kém hơn, thường
bị chứng trầm cảm hơn, thường có hành vi tội phạm và nghiện ma
túy hơn.Thật vậy dường như những kinh nghiệm đã trải qua trong
thời ấu thơ ảnh hưởng lên biểu hiện gènes và do đó tác dụng lên
sự phát triển của não bộ.
Nghiên cứu mới này của Canada phóng rọi một ánh sáng mới
lên tầm quan trọng của giáo dục và những kinh nghiệm của cuộc
sống lên tỷ lệ mắc vài bệnh lý như béo phì, tiểu đuờng và trầm
cảm. Theo Bác sĩ Moshe Szyf, người phụ trách công trình nghiên
cứu “ Sự việc môi trường xã hội có thể biến đổi các gènes của
chúng ta có một hàm ý to lớn đối với con người’’. Bằng cách di
chuyển con người từ môi trường này đến môi trường khác, bạn có
thể tái chương trình hóa hoàn toàn bộ gene của họ và tạo dựng ở
họ những hiệu quả dương tính hay âm tính suốt cuộc đời. Bác sĩ
Szyf xác quyết như vậy trước khi nói thêm rằng hành động chè
chén hoặc hung bạo gây nên sự phóng thích hormone trong não bộ
trong một thời gian dài có thể dẫn đến những biến đổi bền lâu
của mật mã di truyền.Tuy nhiên những kết luận như thế không hẳn
đều được mọi người đồng ý mà còn phải được xác nhận.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 13/3/2007)
5. ĐIỀU TRA VỀ BẢN NĂNG GIỚI TÍNH CỦA NGƯỜI PHÁP
Trong mục đích phòng ngừa các bệnh lây truyền bằng đường sinh
dục, một cuộc điều tra về bản năng giới tính của người Pháp vừa
công bố những kết quả đầu tiên. Công trình này được thực hiện
bởi một nhóm nghiên cứu đa khoa (xã hội học, dân số học, dịch tễ
học) dưới trách nhiệm về mặt khoa học bởi Nathalie Bajos
(Inserm) và Michel Bozon.
Tuổi giao hợp lần đầu của nữ giới đã giảm xuống sát gần
với nam giới (17,6 ở nữ giới so với 17,2 ở nam giới). Đời sống
tình dục đôi lứa của các phụ nữ trên 50 tuổi gia tăng rõ rệt từ
năm 1970 và 1992. Số lượng đàn ông tuyên bố có trên 10 bạn đường
phối ngẫu rõ rệt nhiều hơn (35,4% so với 10,9%). Số bạn đường
phối ngẫu trung bình là 4,4 đối với phụ nữ (gia tăng) so với
11,6 đối với đàn ông (con số ổn định). Người Pháp trung bình làm
tình 8,7 lần mỗi tháng (hoặc hơn 2 lần mỗi tuần). Trong cuộc
sống của mình, đàn ông có kinh nghiệm về đồng tính luyến ái hơn
đàn bà (4,1% so với 4%).
TÌNH YÊU ẢO HAY
TÌNH YÊU THẬT.
Trong số những người từ 18 đến 69 tuổi, 13,1% nam giới và
9,6% nữ giới đã hẹn hò trên Net. Từ 18 đến 24 tuổi cứ 3 người
thì có một người thử thời vận trên web. 10% đàn ông và 6% phụ nữ
đã có những giao hợp với một người được gặp trên Net.
Từ 20 đến 30 tuổi, cứ 20 người đàn ông thì có một người
đã có những giao hợp với cô gái hàng hoa trong vòng 5 năm trước
đó (con số ổn định).
Cứ 3 phụ nữ thì có một người (28,9%) tuyên bố đôi khi
có khó khăn để đạt được khoái lạc cực độ. 7,4% phụ nữ nói thường
khó đạt được khoái lạc cực độ. Cứ 40 người đàn ông thì có một
người thuờng có khó khăn để đạt được sự cương cứng ; 14,3% nói
đôi khi khó khăn, nhưng tình hình này trở nên suy thoái sau 50
tuổi.
Việc sử dụng biện pháp phòng chống có thai còn có thể
được cái thiện. Nếu cứ 10 người thì có 9 người sử dụng một biện
pháp ngừa thai vào lần giao hợp đầu tiên trong lứa tuổi 18-24
tuổi, thì trong 5 người có một người không sử dụng khi có hơn 3
bạn đường phối ngẫu.
Trong công trình điều tra này, những người được hỏi được
đề nghị một xét nghiệm tìm chlamydia. Ở những người từ 18 đến 24
tuổi, nữ giới có tỷ lệ dương tính là 3,6% so với 2,4% ở nam
giới. Điều đáng chú ý là 44% trong số các phụ nữ dương tính và
26% trong số các đàn ông dương tính với chlamydia, lại không có
những yếu tố ngụy cơ cổ điển (nhiều người phối ngẫu hay một
người mới trong 12 tháng vừa qua).
SEX IS IN THE BRAIN (Những Tư Tưởng
Dục Tính).
Những dị biệt về dục tính giữa nam giới và nữ giới có khuynh
hướng giảm đi và những kinh nghiệm về cảm xúc và tình dục trở
nên đa dạng hơn.
Những phụ nữ thường vẫn gắn bó nhiều hơn với cảm xúc trìu mến và
tình nghĩa vợ chồng trong khi đó đàn ông lại bị lôi kéo nhiều
hơn bởi tính đa dạng và tầm quan trọng về mặt xác thịt của tình
dục. Những đặc điểm này giải thích tại sao các phụ nữ tuyên bố
ít sử dụng biện pháp ngừa thai hơn nam giới. Sau cùng, các tiến
bộ về sử dụng các biện pháp ngừa thai cần được thực hiện, nhất
là ở những thanh niên, những người ít hoc và những người có
nhiều bạn đường phối ngẫu.
(LE
JOURNAL DU MEDECIN 20/3/2007)
6. TỶ LỆ MẮC BỆNH VIÊM GAN DO SIÊU VI TRÙNG GIẢM XUỐNG MỨC THẤP
NHẤT KỶ LỤC
Chủ yếu nhờ thuốc chủng ngừa có hiệu quả, tỷ lệ mắc bệnh nhiễm
viêm gan A và B đã giảm xuống mức thấp nhất kỷ lục trong vòng 40
năm qua, theo những dữ kiện mới nhất vừa được cõng bố bởi Trung
tâm Kiểm tra và Phòng ngừa Bệnh tật (CDC=Centers for Disease
Control and Prevention) ở Hoa Kỳ. Tỷ lệ mắc bệnh viêm gan C cũng
đã giảm nhiều mặc dầu không có thuốc chủng ngừa.
Từ năm 1996, CDC đã khuyên tiêm chủng phòng ngừa viêm
gan A đối với những người hay đi du lịch quốc tế và những người
đồng tình luyến ái nam, và từ năm 1999 chỉ định chủng ngừa được
mở rộng cho các trẻ sống trong những cộng đồng có tỷ lệ bệnh cao
nhất. Tỷ lệ mắc bệnh viêm gan A năm 2000 giảm xuống còn
1,5/100.000, so với tỷ lệ 12/100.000 của năm 1995.
Hiện nay CDC khuyên tiêm chủng đại trà chống viêm gan B
đối với nhũ nhi, trẻ em và thiếu niên, điều tra phát hiện ở đàn
bà có thai và tiêm chủng ở người trưởng thành có nguy cơ cao bị
nhiễm trùng. Năm 2005 tỷ lệ mắc bệnh viêm gan B là 1,8 trường
hợp trên 100.000. Đây là tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất được ghi nhận
kể từ lúc tiến hành theo dõi vào năm 1996, giảm 80% so với năm
1991. Viêm gan B chỉ có thể mắc phải do tiếp xúc với máu hoặc
dịch cơ thể bị nhiễm trùng. Báo cáo này được công bố trên tuần
báo The Morbidity and Mortality Weekly Report số 16/.3.
Tỷ lệ mắc bệnh viêm gan C đã giảm 11% kể từ năm 1992 có
lẽ bởi vì những người nghiện ma túy đã biết sử dụng những phương
cách ít gây nguy cơ hơn lúc tiêm chất ma tuý bằng đường tĩnh
mạch.Tuy vậy ở Hoa Kỳ hiện nay có khoảng 3,2 triệu người bị
nhiễm trùng mãn tính.Viêm gan C được lan truyền qua máu bị ô
nhiễm và do động tác giao hợp. (HERALD
INTERNATONAL TRIBUNE 29/3/2007)
7. ĐIỀU TRỊ VÔ SINH VÀ THẾ HỆ TIẾP THEO
Mặc dầu công trình nghiên cứu có quy mô nhỏ và các kết quả có
thể được lý giải nhiều cách khác nhau, các nhà nghiên cứu Đan
Mạch đã tìm thấy rằng những người nam giới được sinh ra từ các
bà mẹ đã từng được điều trị vô sinh, có nồng độ tinh dịch thấp
hơn so với những người khác.
Các nhà nghiên cứu đã khảo sát 1.925 đàn ông được khám
vật lý lúc thi hành nghĩa vụ quân sự. Những người này tình
nguyện cho lấy máu và tinh dịch để thử nghiệm. Sau đó các nhà
nghiên cứu đã phỏng vấn các bà mẹ và có 47 bà báo cáo là đã từng
được điều trị vô sinh.
Sau khi đã điều chỉnh các yếu tố khác, các nhà nghiên
cứu đã nhận thấy rằng các người đàn ông sinh ra từ các bà mẹ
từng được điều trị vô sinh trung bình có nồng độ tinh dịch 46%
thấp hơn và các tinh hoàn của họ bé hơn 0,9 mm. Công trình
nghiên cứu được công bố trong The American Journal of
Epidemiology số 1/3. Mặc dầu các bà mẹ được điều trị vô sinh nói
rằng họ được điều trị bằng hormone, nhưng không có xét nghiệm
nào xác nhận lời khẳng định này. Ngoài ra, các điều được tìm
thấy có thể là do các yêu tố di truyền được truyền lại bởi cha
hoặc mẹ. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu nói rằng, hiệu quả mà họ
tìm thấy lớn hơn nhiều so với hiệu quả của những yếu tố khác,
như hút thuốc, mà trước đây được cho là có ảnh hưởng lên chất
lượng tinh dịch và kích thước của tinh hoàn.
(HERALD INTERNATIONAL TRIBUNE 29/3/2007)
8. CẮT BAO QUY ĐẦU LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ
NHIỄM TRÙNG ĐỐI VỚI PHỤ NỮ.
Người ta biết rằng cắt bao quy đầu (circoncision) có thể làm
giảm 60% nguy cơ bị nhiễm siêu vi SIDA đối với nam giới. Ngược
lại, theo các kết quả sơ khởi của một công trình nghiên cứu phối
hợp của Hoa Ky và Ouganda, thì việc cắt bao quy đầu sẽ làm gia
tăng ở các phụ nữ nguy cơ bị nhiễm HIV. Nếu các ông có huyết
thanh dương tính (séropositif) đối với SIDA, không chịu kiêng cử
mà lại giao hợp trong lúc sẹo giải phẫu đang thành hình, thì các
bà phối ngẫu sẽ có nguy cơ nhiều hơn bị gây nhiễm. Tuy nhiên,
theo các chuyên gia, đây không phải là kết quả cuối cùng và các
kết quả này rất có thể bị ảnh hưởng bởi những yếu tố như sự sử
dụng biện pháp ngừa thai.
(METRO 29/3/2007)
9. CÁC GENE CỦA BỆNH TIỂU ĐƯỜNG
Trên thế giới , hơn 200 triệu người bị bệnh tiểu đường: họ có
quá nhiều đường trong máu bởi vì insuline, hormone điều hoà nồng
độ này, không được sản xuất đúng đắn bởi các tế bào của tụy tạng
hoặc là tác dụng không có hiệu quả. Chúng ta sinh ra không được
bình đẳng với tiểu đường loại 2 (tiểu đuờng xảy ra ở người
trưởng thành liên kết với loạn nằng của các tế bào tụy tạng).
Bệnh tiểu đường loại 2 không những chỉ do lối sống (béo phì,
thiếu hoạt động vật lý) mà còn do các tố bẩm di truyền
(prédispositions génétiques).Vậy các gènes nào liên hệ trong sự
phát sinh bệnh tiểu đường này?
Các nhóm nghiên cứu của Philippe Froguel của Viện
Pasteur thành phố Lille (Pháp) và của Rob Sladek của Đại Học
McGill ở Montréal vừa nhận diện được 4 gènes biểu hiện cho 70%
nguy cơ di truyền đối với bệnh tiểu đường loại 2. Các tế bào của
tụy tạng tiết insuline rất chuyên môn hoá và sự quân bình giữa
tăng sinh và biệt hoá của những tế bào này được điều hoà một
cách chính xác, đặc biệt bởi một đường tín hiệu tế bào (voie de
signalisation cellulaire) được mệnh danh là wnt. Thế mà trong số
4 gènes được nhân diện thì 3 gènes điều biến đường wnt này. Gène
thứ tư mã hoá một protéine chỉ hiện diện ở các tế bào tụy tạng
tiết insuline được gọi là ZnT8. Protéine này tham dự vào việc
vận chuyển kẽm(zinc), cần thiết cho sự điều tiết insuline bởi
các tế bào tụy tạng. Như vậy có ít nhất 4 gènes mở đường cho sự
phát sinh bệnh tiểu đường loại 2 trên một người nào đó. Bệnh
tiểu đường loại này như chúng ta đã biết tùy thuộc vào nhiều yếu
tố.
(POUR
LA SCIENCE 4/2007)
10. THÌ RA NGỦ TRƯA CÓ LỢI CHO TIM
Các nước môn đồ của thói quen ngủ trưa đều có cùng một điểm
chung là số bệnh tim mạch ở các nước ấy được giảm bớt. Xuất phát
từ ghi nhận này, Đại Học Harvard (Cambridge, Massachusetts) và
Đại Học Athènes trong vòng 6 năm đã thực hiện các trắc nghiệm
trên 23.681 người Hy Lap tuổi từ 20 đến 86 để kiểm tra các lợi
ích khả dĩ của thói quen nghìn năm này. Đây là lần đầu tiên một
công trình nghiên cứu với quy mô như vậy được thực hiện. Kết
luận: các ông các bà ngủ ít nhất 30 phút sau các bữa ăn, ba lần
mỗi tuần, sẽ có nguy cơ mắc bệnh tim mạch ít hơn 30%. Đối với
các nhà nghiên cứu nầy thì sự giảm stress là nguyên nhân của
hiện tượng này.
(SCIENCE ET VIE 4/2007)
Bác sĩ Nguyễn văn Thịnh
(31/3/2007)
Trở về Trang Chính
|