|
1/ ĂN THỊT NGƯỜI ĐỂ SỐNG LÀNH MẠNH
Ăn thịt
người? Đó là điều có vẻ không thể tưởng tượng được ! Nếu không
có những trường hợp giảm khinh như các nạn đói do tai họa hay do
tình trạng bị cô lập thúc đẩy con người đến chỗ ăn thịt đồng
loại để bảo đảm cho sự sinh tồn của chính bản thân mình, thì
việc ăn thịt người ( anthropophagie) sẽ nhanh chóng được gán cho
là điên rồ.
Trái lại, nhìn dưới một góc cạnh
điều trị, các dược phẩm được bào chế từ thịt người chẳng mang
lại sự giận dữ hay ngại ngùng. Đó chính là một triết lý - hay có
phải nói rằng đó là “ một nghệ thuật điều trị ” hay không ?, đã
ăn sâu vào trong lịch sử. Chính như thế mà các “ thầy thuốc chữa
bệnh ” (guérisseurs) thời Trung Cổ, dầu đó là thầy thuốc hay
lang băm (charlatans), đã phát hiện nơi mình một tâm hồn “ những
kẻ ăn xác chết ” (mangeurs de cadavres). Trong khi các người Ai
Cập bảo vệ và tôn kính những người đã khuất trong suốt nhiều thế
kỷ, thì Tây Âu thời trung cổ lại buôn bán phát đạt các xác ướp.
CÁC XÁC ƯỚP CHỮA
BỆNH ( MOMIES GUERISSEUSES)
Ngay thế kỷ thứ 10, tư duy y học đã
dành cho các xác ướp (momies) những tính năng trị liệu vô song.
Các xác ướp này được xem là có thể chữa tất cả các chứng bệnh và
được bán, với giá rất đắt, dưới mọi thể dạng. Xuất phát từ sự
cướp bóc các ngôi mộ Ai Cập, các xác ướp xuất hiện tại các hiệu
thuốc dưới các dạng khác nhau : các miếng thịt, bột nhão (pâte),
bột hay dầu xuất phát từ thịt được luộc. Bột xác ướp (poudre de
momie) được cấu tạo bởi thịt được ngâm trộn với “ pissasphalte
”, chất mà người ta tìm thấy ở đáy của các quan tài bằng đá (
sarcophages) và do các chất dịch chảy ra từ chính xác ướp. Bột
được biến hóa thành nhựa thơm (baume), cao dán (emplâtre) và các
dung dịch được pha chế sẵn. Để làm một chế phẩm khác nhằm làm
ngưng sự xuất huyết, người ta đốt các chi của xác ướp, rút các
chất nhựa ra khỏi đầu và cho luộc tất cả trong sọ.
Các thầy thuốc nội và ngoại khoa gán
cho bột xác ướp một hiệu năng gây tê, làm sẹo, cầm máu và sát
khuẩn. Ngay cả Avicenne vĩ đại cũng nghĩ rằng chất này có thể
làm giảm các chứng đau họng cũng như ho, hồi hộp, các vết loét,
các gãy xương, các cơn đau nửa đầu (migraines), v...v. Ông cũng
đã không do dự dùng chất này như là một chất đối kháng trong
những trường hợp ngộ độc. Danh sách các bệnh được điều trị không
dừng lại ở đó.
MUMIE KHÔNG THỂ THIẾU ĐƯỢC.
Chính vào thế kỷ thứ 16 mà việc sử dụng các
xác ướp trong điều trị đạt đến tuyệt đỉnh của nó. Các xác ướp
của các thiếu nữ còn trinh được xem là hiệu quả hơn những xác
ướp khác bởi vì tinh khiết hơn. Mặc dầu các khả năng chữa bệnh
được gán cho phần thân thể của xác ướp , nhưng các dây đai nhỏ
bằng vải quấn quanh thân, nếu không hiệu quả hơn, thì cũng
không kém phần quý báu.Thật vậy, các dây đai này được các thợ
ướp xác tẩm nhựa trầm hương (myrrhe), lô hội (aloès), nhựa đường
(asphalte) và quế. Để thu lại những sản phẩm quý giá này, xác
ướp được gãi để làm phát xuất ra “ mumie ”, thuật ngữ phát xuất
từ tiếng Ba Tư “ mum ” để mô tả chất bitume thiên nhiên này. Khi
đó, người ta gán, đúng hoặc sai, đủ loại tính năng cho các thành
phần này. Nhựa trầm hương (myrrhe) có tác dụng kích thích, làm
hóa sẹo, làm long đờm, chống viêm, sát khuẩn và an thần. Nhựa lô
hội (aloès) hữu ích trong trường hợp các vết thương, vết bỏng,
bệnh ngoài da hay bệnh trĩ. Dầu nhựa đường ( huile d’asphalte)
chữa các chứng đau răng, đau tai và đau dạ dày. Khi được đun
nóng và kết hợp với rượu trắng, dầu nhựa đường này làm bớt đau
dây thần kinh tọa cũng như phong thấp. Sau cùng, chất này còn
nổi tiếng có hiệu quả chống bướu giáp, các thương tổn ở da, ghẻ,
chấy rận ! Còn quế thì từ thời Thượng cổ đã được sử dụng do khả
năng làm se (astringent), kích thích và tăng trương lực. Là
thuốc chữa bá bệnh thời Trung cổ, “ mumie ” được xem như là
không thể thay thế được. Paracelse là một người bảo vệ nhiệt
tình thuốc trị bá bệnh này. Khi vua François đệ nhất lên đường
hành quân, ông đã không quên mang theo những gói bột xác ướp mà
các thầy thuốc điều trị của ông thường kê toa trong trường hợp
gãy xương, đụng dập hay để làm mạnh máu.
CƠN GIẬN CỦA AMBROISE PARE.
Tuy vậy, thuốc vạn năng này gặp
phải vài người chống đối , nhất là nhà phẫu thuật nổi tiếng
Ambroise Paré. Thật vậy, cha đẻ của nền ngoại khoa hiện đại đứng
lên chống lại việc sử dụng “ mumie ”. Trong Discours de la mumie
et de la licorde xuất bản năm 1582, ông lập luận rằng chất này “
có thể làm hại nhiều hơn là làm lợi, bởi vì đó là thịt của những
tử thi hôi thối ” và rằng “ không những thứ thuốc ác độc này
không lợi gì cho bệnh nhân... mà còn gây cho họ rất đau đớn ở dạ
dày, với mùi hôi thối ở miệng, gây nôn mửa nhiều, là nguyên nhân
gây rối loạn máu và làm cho máu chảy ra khỏi huyết quản hơn là
làm dừng nó lại ” .
Trong bài diễn văn của mình, Ambroise Paré cũng nhấn
mạnh đến việc buôn thân người chết và sự lừa đảo gây ra do sự
hâm mộ loại thuốc này mang lại : “ chúng ta thấy người ta cho
chúng ta uống một cách lộ liễu và thô bạo xác hôi thối của các
tử tù bị treo cổ, hay của bọn vô lại đê tiện nhất của dân đen Ai
Cập, của những người mắc bệnh giang mai, của những người mắc
bệnh dịch hạch, hay những người bị bệnh hủi : như thể không có
cách nào khác để cứu một người bị rơi từ trên cao, bị đụng dập
và bầm tím, ngoại trừ việc đưa vào trong cơ thể anh ta một người
khác : và như thể không có một cách nào khác để phục hồi sức
khỏe ngoài một sự vô nhân đạo thô bạo hơn ”. Ông cũng nói rằng “
mumie được làm và gia công ở nước Pháp của chúng ta, ở đây
người ta đánh cắp các xác chết trên các giá treo cổ, rồi thì
người ta nạo chúng, lấy bỏ não và lòng ruột trước khi cho sấy
khô ở trong lò. Sau đó người ta bán chúng như là một mumie chính
hiệu và có chất lượng tốt, mà người ta nói là đã mua chúng từ
những người lái buôn bồ đào nha hoặc đã mang chúng lại từ Ai cập
”
GIAN LẬN VÀ BẤT HỢP PHAP
Thật vậy, nhu cầu to lớn do các toa thuốc là cơ sở
của một nền thương mãi bất hợp pháp và gian lận từ phía những
thương gia ít đắn đo ngại ngùng. Sau một thời gian nào đó, các
xác ướp trở nên hiếm hơn ; việc tìm kiếm chúng mất thời gian hơn
và tốn kém hơn, vì vậy vài người đành dùng các xác chết mới xảy
ra hơn, thậm chí còn tươi. Việc chế tạo các xác ướp giả cũng
phát đạt. Các thương gia trộm các tử thi rồi đem làm khô trong
cát của sa mạc, để ướp xác một cách đại khái trước khi cho lên
tàu đi Pháp. Việc buôn bán mới này là một mỏ vàng thật sự, được
khuyến khích bởi các thầy thuốc dốt nát thời đó. Các người nô lệ
cũng làm ăn ra, các xác ướp được bọc trong các vải, tẩm nhựa
đường nấu chảy và nhựa thông hay tùng. Trong một cái lò, người
ta làm khô các xác chết của những người bị treo cổ trước khi
nhúng chúng vào trong nhựa. Thiếu tử thi phải không ?. Người ta
không do dự biến đổi thành xác ướp, những người chết vì bệnh
dịch hạch hay vì hoại thư … Tất cả các phương thức đều tốt để
bịp người mua, vả lại chính người mua này cũng ít ưu tư về chất
lượng món hàng mà anh ta sẽ đem đi bán lại.
… HAY NGHỆ THUẬT ĂN NGON KHẢ NGHI.
Vẫn ở
thế kỷ thứ 16, thịt người nằm trong thành phần của các món ăn
càng ngày càng độc đáo. Như là trường hợp cậu học trò của
Paracelse phát minh rượu mùi xác ướp (liqueur de momie). Để làm
rượu mùi độc đáo này anh ta chế biến với một tử thi của một
người đàn ông tóc đỏ, trẻ và chết một cách đột ngột : những
người tù tử tội rất được ưa chuộng !
HIỆU THUỐC SUY ĐỒI
Vài người sử dụng các
mảnh xác được làm khô, cắt thành từng dải và đắp chúng lên bệnh
nhân bị chứng co thắt hay hystérie. Mồ hôi của những người chết
được thu góp để chống lại các bệnh trĩ. Sau đó là rượu mùi não
(liqueur de cerveau) chống lại bệnh động kinh hay lại còn có bọt
(mousse), thu được trên các chiếc sọ hay mỡ người để chống lại
các bệnh linh tinh. Các phương thuốc chống lại bệnh than được
pha chế từ xác ướp và máu của các thanh niên. Trong các hiệu
thuốc, tất cả các dược phẩm dẫn xuất từ thịt người này được đặt
nằm bên cạnh các xác ướp. Các hiệu thuốc được đứng bán bởi các
dược sĩ (apothicaire), một cách hợp pháp và được đánh thuế bởi
nhà nước. Vào thế kỷ thứ 18, mặc dầu nghành dược được công nhận
như một nghề y cần đến các kiến thức và đào tạo nghiêm túc,
nhưng các lọ thuốc được dán nhãn bởi các dược sĩ tùy theo nguồn
gốc của chúng (còn phải biết xuất phát từ đâu !).Tuy nhiên việc
buôn bán các xác ướp bắt đầu suy đồi và các giá cả bị sụt giảm.
Vị giác của xác ướp vẫn còn được mô tả trong Pharmacopée
universelle được xuất bản ở Luân Đôn năm 1747, như là đắng và
nồng. Vào đầu thế kỷ 19, mặc dầu đôi khi còn được sử dụng, nhất
là bởi triều đình Anh, các phép trị liệu trên cơ sở thịt người,
trong đó có “ mumie ”, càng ngày càng trở nên hiếm hoi và cuối
cùng biến mất hoàn toàn. Hiện nay, việc sử dụng các dẫn xuất từ
người trong điều trị được quy định. Các người Ai Cập, mơ ước sự
vĩnh cửu và đặt tất cả các hiểu biết của họ để đạt được điều đó,
đã không ngờ rằng họ đã cho ướp xác khi chết để rồi một ngày nào
đó bị ăn bởi các người sống.
Nguồn : SEMPER (
4/2008 )
2/ UỐNG NHIỀU NƯỚC KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ CÓ
LỢI.
Theo các niềm tin dân gian, uống
1,5 lít nước mỗi ngày sẽ là tốt cho sức khỏe, vì như vậy cho
phép loại bỏ tốt hơn các độc tố, cải thiện chức năng của các cơ
quan, gia tăng sự đả khát hay làm đẹp da. Tuy vậy không có một
nghiên cứu nào đã chứng tỏ những lợi ích như thế, các nhà sinh
học Dan Negolanu và Stanley Goldfarb (đại học Pennsylvanie) đã
kết luận như vậy, sau khi đã duyệt xét tư liệu y học về vấn đề
này.
Nguồn : SCIENCE ET VIE ( 6/2008 )
3/ ĐAU VÌ HẸP ỐNG THẮT LƯNG : ƯU THẾ
CỦA PHẪU THUẬT.
Giáo Sư Alexandre Carpentier, thầy thuốc chuyên
khoa giải phẫu thần kinh của bệnh viện la Pitié-Salpêtrière,
bình luận các kết quả của công trình nghiên cứu Hoa Kỳ Sport.
Công trình này xác nhận mối lợi ích ưu thế của điều trị ngoại
khoa so với điều trị nội khoa đối với chứng bệnh hẹp ống thắt
lưng (canal lombaire rétréci)
Hỏi :
Vì lý do gì ống thắt lưng (canal lombaire) trở nên bị hẹp và đưa
đến những bất thường gì ?
G.S Alexandre Carpentier : Đó
là một bệnh thoái hóa (maladie dégénérative) có liên quan với
tuổi tác, gồm một bệnh hư khớp (arthrose) xảy ra nơi các khớp
giữa các đốt sống (cục u xương được tạo thành trên bề mặt khớp
bị bệnh) cũng như một sự gia tăng thể tích của các dây chằng
chung quanh. Các bất thường về xương
và dây chằng này dẫn đến sự giảm đường kính của ống sống (canal
rachidien), là nơi toàn bộ các dây thần kinh đi qua và kéo dài
xuống các chi dưới. Bệnh hư khớp là nguyên nhân của đau thắt
lưng (douleurs lombaires) và sự đè ép của các rễ thần kinh, các
cơn đau trong các chi dưới.
Hỏi : Các cơn đau gây nên bởi sự đè ép các dây
thần kinh này được thể hiện như thế nào ?
G.S A.C
: Lúc nghỉ ngơi, người bệnh không cảm thấy một triệu chứng nào,
nhưng sau khi bước vài mét, bệnh nhân cảm thấy đau trong hai
cẳng chân. Cơn đau này có đặc điểm biến mất ngay khi ngồi hoặc
khi gấp mình về phía trước (như là khi người ta đẩy một chiếc xe
bò hay khi vừa đạp pédale vừa nghiêng mình phía trước trên xe
đạp). Không được điều trị, bệnh có thể nặng dần dần : ống thắt
lưng (canal lombaire) sẽ càng ngày càng hẹp lại và các cơn đau
(đau thắt lưng và đau rễ thần kinh) sẽ càng ngày càng mạnh, đi
đến chỗ tạo nên một cực hình thật sự khi bước (mà khoảng cách
bước đôi khi giảm xuống còn 10 m !).
Hỏi : Làm sao chẩn đoán một cách chắc chắn?
G.S A.C : Ngày nay, Scanner và
IRM có những chỉ định rất chính xác. Chính sự phù hợp giữa các
dấu hiệu lâm sàng và các hình ảnh cho phép xác định chẩn đoán.
Hỏi :
Để điều trị một ống thắt lưng hẹp, những phương cách khác nhau
nào được sử dụng ?
G.S A.C : Trước hết điều trị
nội khoa trên cơ sở các thuốc kháng viêm (anti-inflammatoires),
tiêm ngấm (infiltration) tại chỗ corticoides ( được thực hiện
bởi một thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp) và những buổi vận động
trị liệu pháp. Những phương thức này cho phép làm giảm các triệu
chứng và vượt qua một giai đoạn khó khăn. Người ta tìm cách làm
giảm sự đau đớn mà không điều trị nguyên nhân.
Hỏi : Những kết quả của phương
thức điều trị nội khoa này ?
G.S A.C
: Nơi khoảng 40% các bệnh nhân, có thể có những cải thiện duy
trì trong nhiều tháng thậm chí nhiều năm. Khi các cơn đau
tái xuất hiện trong hơn 6 tháng, với một khoảng cách bước
(périmètre de marche) dưới 200m, khi đó phải nghĩ đến giải phẫu.
Thời hạn tối thiểu này là cần thiết để đảm bảo rằng các cơn đau
không hồi phục một cách ngẫu nhiên hay với điều trị nội khoa.
Hỏi :
Phương thức ngoại khoa bao gồm những gì ?
G.S AC : Giải phẫu, được thực hiện bởi một thầy
thuốc chuyên khoa ngoại thần kinh hay chuyên khoa giải phẫu
chỉnh hình, có mục đích mở rộng ống thắt lưng (canal lombaire)
để làm giảm sự đè ép lên các rễ dây thần kinh. Với động tác giải
phẫu này, phẫu thuật viên sẽ lấy đi các cục u hư khớp
(excroissances arthrosiques) và các dây chằng bị dày mà không
làm vỡ các khớp liên đốt sống articulations intervertébrales)
và do đó không làm phương hại tính ổn định của cột sống. Nói
chung đó là một phẫu thuật ít nặng nề đối với bệnh nhân, cần một
giờ rưỡi đến hai giờ gây mê tổng quát. Trong những trường hợp
hiếm hoi, trước khi phẫu thuật, nếu trên hình quang tuyến động
(radiographie dynamique) có một đốt sống bị trượt ( glissement),
thì phẫu thuật viên buộc phải thực hiện một cố định cơ học
(fixation mécanique) bằng titane để củng cố cột sống, điều này
làm động tác giải phẫu nặng nề hơn. Ở đây, chúng ta cần nhắc lại
các nguy cơ vốn có nơi mọi cuộc phẫu thuật, nhất là nơi những
người bị bệnh tim mạch, bị suy hô hấp, nơi những bệnh nhân bị
đái đường và nơi những người trên 75 tuổi.
Hỏi : Về mặt ngắn hạn, những
diễn biến sau đó của giải phẫu này sẽ như thế nào ?
G.S A.C : Ngày nay, nhờ một bơm morphine được
khởi động bởi chính bệnh nhân suốt trong 24 giờ, các cơn đau sau
giải phẫu đã trở nên có thể chịu đựng được. Người được mổ ngày
hôm sau đã đứng dậy và rời bệnh viện năm ngày sau đó.
Trở về nhà, anh ta nhận thấy các cơn đau ở
các cẳng chân biến mất gần như tức thời, điều này cho phép anh
ta phục hồi trở lại một khoảng cách bước đầy thỏa mãn. 60% bệnh
nhân được mổ nhận thấy các cơn đau vùng thắt lưng giảm rất nhiều
và 80% có thể bước đi một cách độc lập.
Hỏi : Những kết luận của công
trình nghiên cứu lớn Sport, được công bố trong “ The New England
Journal of Medicine ” đã xác nhận những kết quả tốt này hay
không ?
G.S A.C : Công trình nghiên cứu
này đã được thực hiện trên 654 bệnh nhân đều có ống thắt lưng bị
hẹp (canal lombaire rétréci) với những cơn đau thắt lưng từ ba
tháng là ít nhất. Trong số các bệnh nhân này, 400 đã được mổ
(không kèm theo kỹ thuật cố định cơ học) và 254 đã được điều trị
nội khoa. Sau hai năm, các tác giả của công trình nghiên cứu
nhận thấy một sự giảm 50% các cơn đau trong cẳng chân và vùng
thắt lưng nơi những người được mổ so sánh với những người được
điều trị nội khoa, cũng như có một sự cải thiện rõ rệt trong sự
đi đứng độc lập. Các kết luận của công trình nghiên cứu cũng đề
cập đến những dấu hiệu chỉ sự thoả mãn của các bệnh nhân : 71%
những bệnh nhân được điều trị ngoại khoa đã tuyên bố thỏa mãn về
kết quả so với 42% các bệnh nhân được điều trị nội khoa. Sự khác
nhau này càng đáng kể khi các bệnh nhân được mổ có những triệu
chứng nghiêm trọng hơn với một ống thắt lưng hẹp hơn. Về công
trình nghiên cứu này, xác nhận một cách khoa học các kết quả
được quan sát bởi chính bệnh nhân, cần phải nhắc lại rằng một
thời hạn điều trị nội khoa 3 tháng rồi mới chuyển qua điều trị
ngoại khoa là không đủ. Phải chờ 6 tháng, với sự đồng ý của BS
chuyên khoa thấp khớp.
Hỏi : Sau khi công bố nghiên
cứu này, ý kiến cá nhân của ông như thế nào ?
G.S A.C : Tôi nghĩ rằng phương thức giải phẫu, khi
có chỉ định đúng, cho phép có được một kết quả thỏa mãn hơn và
dài lâu hơn một điều trị nội khoa
Nguồn : PARIS MATCH ( 30/4 – 7/5/2008 )
4/ TESTOSTERONE VÀ CHỨNG TRẦM CẢM
Những người già thường bị giảm năng bộ phận sinh dục
(hypogonadisme) và thường bị chứng trầm cảm (dépression). Hai
chứng bệnh này có lẽ liên kết với nhau, như một công trình
nghiên cứu được thực hiện nơi 4000 người già trên 70 tuổi đã
chứng tỏ điều đó. Sự liên kết giữa các nồng độ thấp của hormone
nam và một nguy cơ gia tăng bị chứng trầm cảm, là độc lập với
các yếu tố làm dễ khác như sự tăng thể trọng (surpoids) hay
chứng nghiện thuốc lá.
Nguồn : SCIENCES ET AVENIR ( 6/2008 )
5/ CÁC BỆNH TIM MẠCH, NGUYÊN NHÂN TỬ
VONG ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI.
Theo OMS,
các bệnh mãn tính, các cơn đột quỵ và các bệnh tim càng ngày
càng lấn bước các bệnh nhiễm khuẩn, vốn còn dẫn đầu cách nay ít
lâu.
Con người
từ nay có nhiều nguy cơ chết vì một bệnh tim mạch hơn là một
bệnh nhiễm trùng. Đó là kết quả được rút ra từ Statistiques
sanitaires mondiales 2008, được công bố hôm qua bởi OMS và cho
thấy rằng các bệnh và các tử vong trên thế giới đang dần dần
thay đổi bộ mặt. Các căn bệnh giết người cổ điển như bệnh lao,
bệnh sida, bệnh sốt rét, các bệnh nhiễm trùng (sởi, viêm màng
não, ỉa chảy trẻ em) đang dần dần nhường chỗ cho các bệnh mãn
tính, các cơn đột quỵ (stroke), các bệnh tim. Các bệnh này đang
đứng đầu trong xếp loại các dữ kiện thống kê thu lượm được trong
193 nước hội viên của OMS về các nguyên nhân tử vong. Và sự lão
hóa dân số thế giới trong các nước nghèo trong 25 năm sắp đến sẽ
còn làm gia tăng khuynh hướng này.
Một tiến triển như vậy sẽ được
giải thích, trong các nước giàu, bởi sự lão hóa và trong các
nước đang phát triển, bởi sự bùng nổ của chứng nghiện thuốc lá,
của chứng béo phì, của sự nhàn cư, kết hợp một cách nghịch lý
với sự suy dinh dưỡng
Sự đánh giá vừa qua được thực hiện
bởi OMS năm 2004 đã cho thấy rằng các bệnh tim loại nhồi máu
(infarctus) chịu trách nhiệm 12,2% tử vong được quan sát. Tiếp
theo sau đó là các cơn đột quỵ (9,7%), các nhiễm trùng hô hấp
thấp (7%), viêm phế quản mãn tính (5,1%). Mặc dầu, vào năm 2004,
sida vẫn luôn luôn là một bệnh giết người quan trọng (3,5% tử
vong thế giới) : nhưng người ta ước tính rằng hơn 33 triệu người
bị nhiễm trùng năm 2007, sự đánh giá này từ nay được hạ xuống.
CÁC TAI NẠN XE CỘ TỪ HÀNG THỨ 9 LÊN HÀNG THỨ
5.
Thuốc lá (không ngừng xâm
chiếm các thị trường mới nơi các nước đang phát triển) là trung
điểm của sự tiến triển của tỷ lệ tử vong trên thế giới, là một
trong những yếu tố phát khởi của tất cả các bệnh mãn tính (nhồi
máu cơ tim, khí phế thủng, viêm phế quản mãn tính). Mỗi năm kỹ
nghệ sản xuất thuốc lá giết chết 1/3 đến 1/2 những người tiêu
thụ trung thành nhất. Mỗi người hút thuốc trung bình đánh mất 15
năm cuộc sống. Số người chết do thuốc lá, yếu tố nguy cơ quan
trọng của các bệnh lý tim mạch, của các cơn đột quỵ, của các
bệnh phổi mãn tính, gồm cả các ung thư phổi, phế quản, khí quản
và lao phổi, vượt quá 5,4 triệu người năm 2004 và theo dự kiến
đạt đến 8,3 triệu vào năm 2030 (hoặc gần 10% của tất cả các tử
vong, trong đó 80% trong các nước đang phát triển).
Các tiên đoán của OMS cho 22 năm sắp đến là như sau : 4
bệnh giết người chính yếu ( các bệnh tim, các bệnh mạch máu não,
các bệnh phổi mãn tính và các nhiễm trùng phổi) sẽ vẫn trong đội
dẫn đầu, với 14% tử vong cho các bệnh tim và 12,1% cho các bệnh
não. Các tai nạn xe cộ, hiện nay đứng hàng thứ 9 trong các bệnh
gây tử vong hàng năm, vào năm 2030 sẽ tiến lên hàng thứ 5 ( từ
2,2% lên 3,6% của tử vong thế giới). Vào năm 2030, các tử vong
do ung thư, do các bệnh tim mạch, do các tai nạn đường xá sẽ
chiếm khoảng 30% tỷ lệ tử vong toàn bộ. Trái lại, bệnh lao, bệnh
gây tử vong đứng hàng thứ 7 năm 2004, sẽ trụt xuống hàng thứ 20
vào năm 2030. Các bệnh ỉa chảy do nhiễm khuẩn, đứng hàng thứ 5
năm 2004, sẽ trụt xuống hàng thứ 23 vào năm 2030.
Một bài học quan trọng rút ra từ các thống kê y tế năm
2008 là các nước châu Âu bị chậm trễ trong vấn đề tuổi thọ
(espérance de vie). Cách nay 50 năm, một đứa trẻ sơ sinh ở châu
Âu có thể hy vọng sống 66 năm, trong khi đó cùng đứa trẻ sơ sinh
này ở châu Phi dưới Sahara chỉ sống 38 năm, ở châu Á 41 năm và ở
Nam Mỹ 51 năm. Trong một thế kỷ nữa, tuổi thọ tiến thêm 27 năm ở
châu Á, nhưng chỉ 8 năm ở châu Âu. Sự gia tăng tuổi thọ từ năm
1950 đến 2005 là 15 năm ở các nước Nam và Tây Âu, những chỉ 4
năm trong các nước Đông Âu.
Sự quá mức tỷ lệ tử vong của những người từ 15 đến 59
tuổi giải thích một phần lớn sự khác nhau giữa Đông và Tây Âu :
ở đàn ông, 50% của sự vượt mức tỷ lệ tử vong được gán cho các
bệnh tim mạch, 20% của tỷ lệ tử vong bổ sung là do các tai nạn
và các vết thương. Ở phụ nữ Đông Âu, lại càng rõ ràng hơn : 80%
của sự khác nhau về tuổi thọ của các phụ nữ Đông Âu với các phụ
nữ Tây Âu có thể được giải thích bởi sự vượt trội tỷ lệ tử vong
do các bệnh tim.
Yếu tố quan trọng khác : cuộc đấu tranh chống bệnh sốt
rét bắt đầu cho các kết quả : trên 21 nước châu Phi được nghiên
cứu giữa năm 2000 và 2005, tỷ lệ trẻ em ngủ có mùng đã được nhân
lên 5 đến 10 lần trong vòng 5 năm. Ở Zanzibar, việc cho sử dụng
các thuốc chống sốt rét mới đã làm giảm 52% trong 5 năm, tỷ lệ
tử vong của các trẻ em dưới 5 năm.
Nguồn : LE FIGARO ( 21/5/2008 )
6/ BÉO PHÌ ẢNH HƯỞNG LÊN BỆNH ALZHEIMER.
Chứng béo phì (obésité) làm gia
tăng nguy cơ bị chứng sa sút trí tuệ (démence) và bệnh
Alzheimer, một bài báo của Obesity Reviews đã loan báo như vậy.
Công trình này được thực hiện bởi Youfa Wang, thuộc trường y tế
công cộng quốc tế của đại học John Hopkins Bloomberg ở
Baltimore, chỉ rõ rằng nguy cơ sa sút trí tuệ gia tăng 42% nơi
các người béo phì, so với nguy cơ mà những người có trọng lượng
bình thường gặp phải. Cũng vậy, nguy cơ này gia tăng 36% nơi
những người bị tăng thể trọng (surcharge pondérale). Nơi các phụ
nữ, chứng béo phì làm tăng lên xác suất phát triển bệnh
Alzheimer. Trong khi đó ở đàn ông, chứng béo phì làm gia tăng
hơn nữa chứng sa sút trí tuệ do nguyên nhân mạch máu (démence
vasculaire)
Nguồn : LE SOIR ( 17-18/5/2008 )
7/ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG VÀ THỂ DỤC LÀM CHẬM
SỰ XUẤT HIỆN BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG 14 NĂM.
Trong khi số người bị bệnh đái
đường bùng nổ khắp nơi trên thế giới do chứng béo phì và do sự
lão hóa, các nhà nghiên cứu vừa chứng tỏ rằng những biến đổi về
lối sống sẽ làm lùi lại lúc khởi đầu của bệnh đái đường.
Các nước giàu, nhưng cả những nước
đang phát triển hiện nay, đang phải trả giá cao cho bệnh đái
đường được gọi là trưởng thành (diabète de maturité). Ngày nay ở
Pháp, gần 3 triệu người bị bệnh đái đường, chủ yếu là những
người lớn tuổi và/hay những người béo phì. Nhưng từ nay, bệnh
này cũng được nhận thấy nơi các người trẻ trưởng thành. Để giải
thích một tiến triển như vậy, ngoài một tố bẩm di truyền
(prédisposition génétique), còn thêm vào một lối sống nhàn hạ và
tĩnh tại và một chế độ ăn uống quá nhiều calorie. Tuy vậy, tiến
triển này không phải là không tránh được. Một thử nghiệm phòng
ngừa bệnh đái đường được phát động bởi các thầy thuốc Trung Quốc
năm 1986 vừa được công bố trong tạp chí Anh The Lancet. Thử
nghiệm đặc biệt này, với thời gian kéo dài 20 năm, chứng tỏ rằng
có thể đẩy lùi lúc khởi đầu của bệnh, chỉ bằng thể dục và chế độ
ăn uống. Từ nay, đã đến lúc các thầy thuốc có thể đề nghị với
bệnh nhân các cách thức không phải dùngthuốc này để tránh cho
các bệnh nhân khỏi bị rơi vào bệnh đái đường .
Bệnh đái đường được đặc trưng bởi một
nồng độ đường trong máu trên 1,26 g/L, lúc nhịn đói. Sự tăng
đường huyết này, về lâu về dài, chịu trách nhiệm những biến
chứng : suy thận, mù loà, các bệnh tim mạch. Có hai dạng đái
đường : dạng được gọi là thanh niên (juvénile), bắt đầu sớm, đặc
trưng bởi sự phá hủy tự miễn dịch của tụy tạng và cần một điều
trị suốt đời bằng insuline. Dạng kia, được gọi là loại 2 hay
trưởng thành (maturité), thường gặp hơn cả, bắt đầu khoảng 50-60
tuổi và không nhất thiết cần phải điều trị bằng insuline.
Vào tháng năm 2001, các thầy thuốc
Phần Lan, bằng cách cho những người bị tiền đái đường
(prédiabétique) (nghĩa là những người đã có những nồng độ đường
bất thường trong máu) một chế độ ăn uống làm ốm (régime
amaigrissant) và những hoạt động vật lý trong 2 năm, lần đầu
tiên đã chứng tỏ rằng có thể làm giảm hơn 50% nguy cơ trở nên bị
bệnh đái đường. Vài tháng sau đó, các thầy thuốc Hoa Kỳ của đại
học Rockville cũng xác nhận lợi ích của thể dục và chế độ ăn
uống để ngăn cản sự xuất hiện của một bệnh đái đường chính thức.
CÁC KẾT QUẢ GÂY ẤN TƯỢNG.
Người Trung Hoa, cũng như dân các
nước đang mới nổi khác, do lối sống càng ngày càng ít hoạt động
và do chế độ ăn uống theo kiểu phương Tây, đang đương đầu với
một trận dịch đái đường quy mô lớn. Guanguey Li và nhóm nghiên
cứu của ông thuộc đại học Bắc Kinh, cộng tác với các chuyên gia
của Trung tâm kiểm tra các bệnh Atlanta và của Tổ chức y tế thế
giới ở Genève, đã thực hiện một thí nghiệm chưa từng có từ trước
đến nay. Thí nghiệm này được tiến hành cách nay hơn 20 năm và
các kết quả được công bố hôm nay.
Năm 1986, 577 người Hoa từ 20 đến 70 tuổi (tuổi
trung bình 47 tuổi), tất cả được xem là ở trong tình trạng tiền
đái đường (prédiabétique), đã được chia thành 4 nhóm. Trong vòng
6 năm, đến năm 1992, các người thuộc nhóm đầu tiên ( nhóm chứng)
chỉ được theo dõi đơn thuần, các người thuộc nhóm thứ hai theo
cho một chế độ ăn uống (giảm đường, mỡ, rượu, gia tăng rau
xanh), những người thuộc nhóm thứ ba theo một chương trình thể
dục ( gia tăng hoạt động vật lý ít nhất 30 phút mỗi ngày) và sau
hết những người thuộc nhóm thứ tư vừa theo chương trình thể dục,
vừa theo chế độ ăn uống.
Các kết quả gây ấn tượng. So với nhóm chứng, những
người thực hiện đồng thời chương trình thể dục và đồng thời
tuân theo chế độ ăn uống trong 6 năm, có nguy cơ bị bệnh đái
đường giảm một nửa. Sau 20 năm, nguy cơ này vẫn còn rõ rệt thấp
hơn đối với họ, với 43% nguy cơ ít hơn. Trong suốt 20 năm theo
dõi, nguy cơ này là 7% mỗi năm đối với nhóm “ can thiệp ” so với
11% đối với nhóm chứng.
Sau 20 năm, 80% những người thuộc
nhóm “ can thiệp ” ( thể dục hay/và chế độ ăn uống) đã trở nên
bị bệnh đái đường, so với 95% những người thuộc nhóm chứng . Rõ
ràng là, đã có thể làm chậm lại 14 năm sự xuất hiện một bệnh đái
đường đối với 20% người thuộc nhóm “ can thiệp ”. Sự việc đã
theo một chương trình chế độ ăn uống-thể dục đã cho phép làm
chậm lại trung bình 3,6 năm lúc xuất hiện bệnh. Trái lại, không
có sự khác nhau nào về nguy cơ tim mạch được ghi nhận giữa các
nhóm “can thiệp” khác nhau.
Công trình nghiên cứu này là lý thú vì lẽ một mặt,
nó chứng tỏ rằng chúng ta có thể làm chậm lại sự xuất hiện bệnh
đái đường chỉ bằng cách biến đổi lối sống, nhưng mặt khác, việc
giảm nguy cơ bệnh đái đường kéo dài lâu sau thời kỳ “ can thiệp
” nói riêng, giáo sư Jaanna Linsttrom (khoa y tế công cộng, Phần
Lan) đã đánh giá như vậy trong một bài xã luận.Trong thử nghiệm
này, các can thiệp về mặt chế độ ăn uống và hoạt động vật lý là
có mức độ nơi những người có nguy cơ cao trở nên bị bệnh đái
đường. Nhà chuyên gia về đái đường của Phần Lan đánh giá rằng
các thay đổi về lối sống phải được thực hiện sớm hơn nhiều. Để
đạt được điều đó, theo ông, cần phải nhắm những người có nguy cơ
cao bị bệnh đái đường, nhưng cũng nhắm vào toàn bộ dân chúng .
Nguồn : LE FIGARO (
23/5/2008 )
8/ THIẾU VITAMINE D NƠI CÁC LÃO NIÊN BỊ
BỆNH TRẦM CẢM
Witte Hoogendijk và các cộng sự viên
(Amsterdam) đã nghiên cứu các nồng độ vitamine D và hormone cận
giáp (hormone parathyroidienne) trên một nhóm những người già bị
bệnh trầm cảm (dépression). Thật vậy, những công trình trước đây
đã đặt mối liên hệ giữa rối loạn khí chất này với các rối loạn
của các nồng độ 25(OH)D ( 25-hydroxyvitamine D) và hormone cận
giáp ( HPT : hormone parathyroidienne). Các nhà nghiên cứu này
đã đánh giá mức độ trầm cảm của 1.282 lão niên tuổi từ 65 đến
95 tuổi, cũng như các nồng độ 25(OH)D và HPT của họ. Các nhà
nghiên cứu cũng đã có tính đến các yếu tố như tuổi tác, giới
tính, nghiện thuốc lá, BMI (body mass index), các bệnh mãn tính.
Các kết quả cho thấy rằng, so sánh với các người kiểm
chứng, các nồng độ 25(OH)D 14% thấp hơn nơi 169 người bị chứng
trầm cảm thể nhẹ và 14% thấp hơn nơi 26 người bị chứng trầm cảm
thể nặng. Các nồng độ HPT lần lượt là 5% và 33% cao hơn. Mức độ
nghiêm trọng của chứng trầm cảm được liên kết một cách đáng kể
với sự giảm các nồng độ huyết thanh của vitamine D và một sự gia
tăng của nồng độ HPT.
Nguồn : LE JOURNAL DU MEDECIN (
23/5/2008 )
9/ CHO BÚ SỮA MẸ CHỒNG BỆNH HEN PHẾ QUẢN.
Các nhà
nghiên cứu của đơn vị Inserm 924 của Sophia-Antipolis đã phát
hiện lần đầu tiên các cơ chế giải thích tác dụng bảo vệ của sự
cho bú sữa mẹ chống lại bệnh hen phế quản trẻ em. Một công trình
nghiên cứu trên chuột đã cho phép họ xác lập rằng việc một dị
ứng nguyên hô hấp (allergène respiratoire) đi qua trong sữa mẹ
làm giảm hơn 60% đáp ứng dị ứng. Các con chuột cho con bú đã
được cho tiếp xúc với các dị ứng nguyên, được làm phân tán trong
không khí bằng khí dung. Sau tiếp xúc, việc các chuột mẹ cho
các chuột con bú vẫn diễn ra một cách bình thường. “ Chúng tôi
đã nhận thấy dị ứng nguyên được hít vào xuất hiện vào trong sữa
mẹ 3 đến 4 giờ sau khi được cho tiếp xúc. Ngoài ra chúng tôi đã
nhận thấy rằng, một khi trở nên trưởng thành, các chú chuột con
đã được cho bú sữa mẹ, đề kháng với sự kích thích gây hen phế
quản ”, Valérie Verhasselt, một trong những người phụ trách công
trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. Như thế phản ứng dị ứng
đã giảm 60 đến 80% so với các chú chuột được cho bú bởi các
chuột mẹ không được cho tiếp xúc với dị ứng nguyên này. “ Công
trình nghiên cứu này có thể cho phép xác định những chiến lược
phòng ngừa mới, căn cứ trên những biến đổi về cách cho bú và
chất lượng của các sữa nhân tạo ” , Valérie Verhasselt đã nói
thêm như vậy.
Nguồn : READER’ S DIGEST ( 6/2008 )
10/ BẢNG TỔNG KẾT VỀ CÁC LỢI ÍCH CỦA
VIỆC NGƯNG THUỐC LÁ VỪA ĐƯỢC CÔNG BỐ LẦN ĐẦU TIÊN Ở PHÁP
Cai thuốc lá làm giảm nguy cơ bị
một bệnh nặng.
Thông báo dịch tễ học hàng tuần
nay, trong một số đặc biệt dành cho ngày thế giới không thuốc
lá, đã đưa ra một bảng tổng kết về các lợi ích do việc cai thuốc
lá. Ngừng hút thuốc lá làm giảm không chỉ nguy cơ chết vì một
bệnh ung thư ( thuốc lá có liên quan trong 13 khối u ác tính
khác nhau) mà còn nguy cơ chết vì nhồi máu cơ tim, vì tai biến
mạch máu não, vì phình động mạch chủ bụng (anévrisme de l’aorte
abdominale), vì viêm phế quản mãn tính tắc nghẽn (bronchite
chronique obstructive) và vì viêm động mạch của các chi dưới.
Từ 5 đến 9 năm sau khi đã
ngừng thuốc lá, những người trước đây đã hút thuốc sẽ được giảm
các nguy cơ đối với ung thư phổi, nhất là nếu họ dừng hút thuốc
trước năm 50 tuổi. Trái lại, khả năng là nạn nhân của một ung
thư thanh quản vẫn cao hơn nơi những người từng hút thuốc lá,
ngay cả sau khi đã ngừng hút một thời gian dài. Ngược lại, những
người đã ngừng hút thuốc từ ít nhất 20 năm, không bị ung thư
xoang miệng hoặc hầu nhiều hơn những người không hút thuốc.
BÌNH ĐẲNG VỚI NHỮNG
NGƯỜI KHÔNG HÚT THUỐC SAU 15-20 NĂM.
Chứng nghiện thuốc lá là nguồn
gốc của 22% tỷ lệ tử vong do các bệnh tim mạch.Tuy nhiên, việc
giảm các nguy cơ bị các tai biến về tim đã rõ rệt 2 đến 4 năm
sau khi cai thuốc lá. Và sau 15 đến 20 năm, những người trước
đây hút thuốc lấy lại sự bình đẳng với những người không hút
thuốc. Hai đến năm năm kiêng thuốc lá cũng cho phép nhận thấy sự
cải thiện rõ rệt đối với các tai biến mạch máu não.
Sau hết, các triệu chứng viêm phổi
mãn tính (ho mãn tính với khạc đờm) mờ nhạt dần đi trong một đến
hai tháng sau khi cai thuốc.
Nguồn : LE FIGARO (
27/5/2008 )
BS
NGUYỄN VĂN THỊNH
( 31/5/2008)
Trở về Trang Chính
|