Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

E-Mail: bsnguyenvanthinh@khoahoc.net

06 tháng 09 năm 2007

 1/ SỬ DỤNG CÁC TẾ BÀO GỐC ĐỂ LÀM TÁI SINH CƠ TIM.

         Việc ghép các tế bào cơ tim phát xuất từ các tế bào gốc của phôi thai người mang lại sự cải thiện của chức năng tim sau nhồi máu cơ tim. Nhóm nghiên cứu của Charles Murry (Đaị Học Washington) vừa chứng minh bằng thực nghiệm lợi ích của phép điều trị bằng tế bào này trên chuột.

       Các công trình này, được đăng tải on-line trên site của tạp chí Nature Biotechnology , xác nhận và tiếp nối các công trình của các nhà nghiên cứu và lâm sàng người Pháp qui tụ quanh Michel Pucéat (Inserm UMR 861) và Philippe Menasché (bệnh viện Châu âu Georges-Pompidou).


ĐIỀU TRỊ TẾ BÀO  (THERAPIE CELLULAIRE)

        Cơ tim không có khả năng tái sinh tốt. Khi bị nhồi máu cơ tim, cơ tim bị hoại tử vì thiếu sự tưới máu. Sự hủy hoại này không vãn hồi được và thường gây nên suy tim.

        Do đó điều trị tế bào trên lý thuyết dường như mang lại một giải pháp. Các thử nghiệm đã được thực hiện với những tế bào gốc của người trưởng thành, như là các tế bào sinh huyết (cellules hématopoiétiques) nằm trong tủy xương. Đáng tiếc thay những tế bào này không được biến hóa thành các tế bào cơ tim (cardiomyocytes) là những tế bào không những có tính chất co bóp (contractile) như mọi tế bào cơ mà còn có tính chất đập theo nhịp.
       Do đó nhiều nhóm nghiên cứu đã hướng về thực nghiệm với các tế bào gốc của phôi thai người. Có thể điều khiển sự biệt hóa của những tế bào này thành những tế bào cơ tim bằng cách sử dụng những yếu tố sinh học can dự trong quá trình phát sinh hình thái (morphogenèse) của xương.

        Nhóm nghiên cứu của Charles Murry trước hết đã để cho các tế bào phôi thai biệt hóa (differentiation) in vitro rồi sau đó tách ra những tế bào có tính chất đập của cơ tim. Các tế bào này sau đó được ghép lên chuột được dùng như mẫu cho nhồi máu cơ tim.

        Nhóm nghiên cứu người Pháp Michel Pucéat và Philippe Menasché ưa thích ghép các tế bào gốc ở một giai đoạn sớm hơn, như vậy cho phép sự biệt hóa thành các tế bào cơ tim diễn ra in vivo.
       « Để gia tăng hiệu năng và tính thuần khiết của các tế bào cơ tim thu được từ các tế bào phôi thai người (cellules hES), chúng tôi đã sử dụng một kỹ thuật vừa được phát triển nhằm điều khiển sự biệt hóa các tế bào hES thành những tế bào cơ tim » Các nhà nghiên cứu đã giải thích trong Nature Biotechnology như thế.Trái với người Pháp, người Mỹ để trôi qua một thời gian 2 tuần trước khi thực hiện ghép.

        Các kết quả của người Mỹ thống nhất với các kết quả của người Pháp trong việc chứng tỏ rằng có thể tái sinh cơ tim từ những tế bào gốc phôi thai người. Nhưng đối với các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, “ kết quả quan trọng nhất của công trình nghiên cứu này là việc ghép các tế bào cơ tim từ các tế bào hES cải thiện chức năng tim ».


TÍNH CHẤT HỨA HẸN .

         Lúc so sánh với nhóm chuột dùng làm kiểm chứng, nhóm nghiên cứu của Charles Murry đã xác nhận rằng mảnh ghép cơ tim người vừa làm giảm sự giãn của tâm thất của các động vật gặm nhấm (dấu hiệu của suy tim) vừa duy trì chức năng co bóp của tim.Điều này còn chứng tỏ thêm tính chất hứa hẹn của đường hướng điều trị này.

        Các nhà khoa học Hoa Kỳ cũng quan tâm đến một yếu tố hạn chế của phép điều trị tế bào : thời gian tồn tại ngắn ngủi của các mảnh ghép làm phương hại đến sự thành công của phép điều trị này.Họ đã hiệu chính một “ cocktail các yếu tố nhằm kéo dài sự tồn tại của các tế bào cơ tim, như vậy làm hạn chế sự chết của các tế bào này sau khi ghép ”. Tuy nhiên trong tình trạng hiện nay, một cocktail như thế không thể áp dụng được cho người do tính độc khả dĩ có thể xảy ra. Sau hết, Charles Murry nói rõ rằng suốt trong quá trình nghiên cứu ông và các cộng sự viên đã không ghi nhận sự thành hình các khối u tim, nguy cơ đi kèm với việc ghép các tế bào gốc phôi thai vào trong cơ tim. ( LE MONDE 28/8/2007)

 

2/ NHIỀU CAFE HƠN, ÍT NGUY CƠ HƠN

         Ít nguy cơ gì ? Ung thư gan ! Đó là kết luận gây xao xuyến đạt được bởi một nhóm nghiên cứu của Viện nghiên cứu dược liệu học Milan dưới sự lãnh đạo của Francesca Bravi.Thế mà kết luận này không phải là không có tầm quan trọng bởi vì ung thư gan là một trong những ung thư gây chết người nhất sau ung thư phổi và dạ dày.Tổ Chức Y Tế Thế Giới đã quy cho ung thư này là nguyên nhân của 660.000 trường hợp tử vong trên quy mô hành tinh.

         Bravi và nhóm nghiên cứu đã thực hiện một phân tích các tài liệu khoa học liên quan đến mối quan hệ giữa việc tiêu thụ café và nguy cơ carcinome hépatocellulaire (dạng ung thư chiếm tỷ lệ 90% trên toàn bộ các trường hợp ung thư gan). Các tác giả chỉ đưa vào trong công trình phân tích những nghiên cứu đề cập đến những dữ kiện về lượng liên hệ đến việc tiêu thụ café và tỷ lệ mắc bệnh carcinome hépatocellulaire.Theo tiêu chuẩn này tổng cộng có một chục công trình nghiên cứu với tổng số khoảng 2.260 bệnh nhân. 6 nghiên cứu được thực hiện ở Nam Âu và Nhật bản (1.551 trường hợp) trong khi đó 4 nghiên cứu khác là những nghiên cứu nhóm (études de cohorte) của Nhật bản.

NGUY CƠ ĐƯỢC THU GIẢM.
        Các tác giả xác nhận rằng nhìn toàn bộ thì những người uống café có nguy cơ bị carcinome hépatocellulaire giảm 41% so với những người không bao giờ uống café. Sự giảm nguy cơ này cũng rõ rệt nơi những người Nhật mặc dầu họ ít thích café hơn so với dân vùng Nam Âu. Ngoài ra sự giảm nguy cơ ít rõ rệt hơn nơi những người uống café có chừng mực (30%) so với những người tiêu thụ nhiều (55%)

        Các nhà nghiên đã quan sát thấy rằng uống thêm một tách café mỗi ngày cho phép làm giảm từ 23% đến 25% nguy cơ mắc phải carcinome hépatocellulaire . Bravi và nhóm nghiên cứu cũng đã gợi ý rằng café làm giảm nguy cơ mắc phải những bệnh lý khác của gan. Đến lượt sự suy giảm này làm giảm tỷ lẽ carcinome hépatocellulaire.


CÂU HỎI BỎ NGÕ.

       Các tác giả cũng đã xác định rằng việc xem xét các thành phần hóa học của café đã phát hiện những tác dụng có lợi lên gan của vài cấu tử này. Café dường như liên kết với một mối nguy cơ bị xơ gan ít hơn. Ngược lại, các nghiên cứu trên động vật và in vitro đã xác lập rằng những thành phần khác của café cản trở quá trình khử độc các chất gây ung thư và do đó có một tác dụng không thuận lợi lên gan. Như vậy việc khẳng định café tốt cho gan hơi bị thu giảm. Ngoài ra mối liên hệ giữa việc tiêu thụ café và sự thu giảm nguy cơ mắc phải carcinome hépatocellulaire không cho phép kết luận rằng vế thứ hai là kết quả của vế thứ nhất. Cũng có thể rằng những người bị ung thư gan uống café ít hơn, dẫu cho hai yếu tố này thường không liên kết với nhau. Nếu mối liên hệ giữa việc uống café và sự phát sinh ung thư gan là không thể phủ nhận được thì vấn đề còn lại là phải xác định đâu là nguyên nhân và đâu là hậu quả.( LE GENERALISTE 30/8/2007)

 

3/ MỘT THUỐC CHỦNG ĐỂ NGĂN BỆNH SỐT RÉT ?

         Một nhóm nghiên cứu người Pháp được chỉ đạo bởi Pierre Druilhe thuộc viện Pasteur, vừa nhận diện một protéine của “plasmodium falciparum”, tác nhân gây bệnh sốt rét và thử nghiệm tiềm lực vaccin của họ nơi những người tình nguyện.

        Từ nhiều năm nay ký sinh trùng sốt rét đã làm thất bại mọi toan tính của các nhà khoa học nhằm ngăn cản chúng gây nhiễm các hồng cầu. Trái với các thuốc chủng ứng viên được xác định từ những công trình trên những động vật gặm nhấm, protéine mới của ký sinh trùng, được gọi là MSP3 được chọn lọc bằng một phương pháp miễn dịch-lâm sàng, nghĩa là bởi sự nghiên cứu các yếu tố phòng vệ của những người bị tiếp xúc với ký sinh trùng.

       Thử nghiệm thuốc chủng trên những người tình nguyện khỏe mạnh đã chứng tỏ sự sản sinh các kháng thể có khả năng cộng tác với các bạch cầu để tiêu diệt các ký sinh trùng sốt rét trong các hồng cầu. Một thử nghiệm thứ hai nơi người trưởng thành người Châu Phi đã xác nhận tính vô hại và tính hiệu quả của thuốc chủng.

      Hiện nay công trình sẽ được theo đuổi nơi các trẻ em người Châu Phi, là nhóm dân số cùng với các phụ nữ có thai đã phải trả giả nặng nhất ( gần 2-3 triệu tử vong mỗi năm) cho căn bệnh sốt rét này .(READER’S DIGEST 9/2007 )

 

4/ THUỐC LÁ KHÔNG CÓ KHÓI CŨNG ĐƯỢC NHẬN THẤY CÓ HẠI

         Thuốc lá không sinh khói (smokeless tobacco), loại thuốc lá mà người nghiện đặt giữa má và lợi răng, là một phương cách để thỏa mãn việc nghiện ngập nicotine mà không làm phát sinh khói thuốc khó chịu. Nhưng một công trình nghiên cứu mới đã nhận thấy rằng thuốc lá không sinh khói cũng có hiệu quả như thuốc điếu trong việc cung cấp nicotine và các chất gây ung thư ( carcinogens).

        Các nhà nghiên cứu đã xét nghiệm nước tiểu của 420 người hút thuốc và 182 người sử dụng thuốc lá không sinh khói, để tìm cotinine, một chỉ dấu chứng tỏ sự tiếp thu nicotine, và một nhóm các chất gây ung thư có tác dụng mạnh và liên quan mật thiết với nhau được gọi là NNAL. Các người tình nguyện được tuyển mộ cho công trình nghiên cứu việc cai thuốc lá và các đo lường được thực hiện ngay trước khi bắt đầu công trình
       Những người sử dụng thuốc lá không sinh khói trung bình có nồng độ NNAL trong nước tiểu 74% cao hơn so với những người hút thuốc điếu và nồng độ cotinine thì 94% cao hơn.Trong nghiên cứu động vật, NNAL được chứng tỏ có khả năng sinh ung thư cao, gây nên các khối u ở phổi, tụy tạng, niêm mạc mũi và gan ở chuột.

      “ Thông điệp chủ yếu của công trình nghiên cứu này là thuốc lá không sinh khói không thể được xem là an toàn bởi vì lượng chất gây ung thư được gây ra trong trường hợp này cũng bằng với lượng phát sinh do khói thuốc trong trường hợp hút thuốc điếu ”. Stephen Hecht, tác giả lãnh đạo công trình nghiên cứu được công bố trong số tháng 8 của tạp chí Cancer Epidemiology, Biomarker and Prevention, và một giáo sư của laboratory medecine thuộc Đại Học Minnesota, đã phát biểu như vậy.

       “ Mặc dầu thuốc lá không sinh khói có thể an toàn hơn thuốc điếu nhưng vẫn không đủ an toàn ”
       Chống lại ý kiến cho rằng thuốc lá không sinh khói có thể là một thay thế ít có hại hơn đối với những người nghiện không thể từ bỏ thuốc lá, những nhà nghiên cứu đã viết rằng thuốc lá không sinh khói rất có nguy cơ và khuyên đừng nên sử dụng.INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 23/8/2007)

 

5/ LUDWIG VAN BEETHOVEN NẠN NHÂN CỦA ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA BẰNG CHẤT CHÌ.

         Theo một phân tích hóa học mới được thực hiện từ tóc của nhà nghệ sĩ thì Beethoven đã bị chết do điều trị bằng chất muối chì. Ai đã giết chết Ludwig van Beethoven, nhà soạn nhạc lớn người Đức, qua đời lúc 57 tuổi ở Vienne ngày 26 tháng 3 năm 1827 ? Nhà thiên tài không khoan nhượng này là tác giả của một loạt các khúc giao hưởng không gì sánh kịp mặc dầu bị điếc ngay từ năm 30 tuổi. Ông qua đời sau khi bị bệnh gan, có thể là một xơ gan với cổ trướng (ascite : tràn dịch trong xoang bụng). Lúc Beethoven mất, vài người bạn và những người hiếu kỳ đã đến mặc niệm bên thi hài ông và đã đánh cắp vài mớ tóc để làm kỷ niệm.

        Một chuyên gia pháp y học người Áo, BS Christian Reiter vừa công bố trong Beethoven Journal , đăng lại bằng tiếng Anh trong Science ngày 28 tháng 8, một nghiên cứu mới phát xuất từ một phân tích ghi phổ (analyse spectrographique). Công trình nghiên cứu này có khuynh hướng chứng tỏ rằng Beethoven là nạn nhân của một ngộ độc chì khả dĩ làm  ông mất sớm.

       Việc sử dụng quá liều (overdose) chất chì là do nhiều lần chọc dò hút dịch cổ trướng được thực hiện bởi thầy thuốc của ông là BS Andreas Ignaz Wawruch. Ông này là nghệ nhân chơi violoncelle và là người rất ngưỡng mộ người bệnh nhân nổi tiếng của mình. Để làm nhanh sự hoá sẹo nơi vết thương của chỗ chọc dò, ông BS này đã áp vào vết thường một thuốc đắp (cataplasme) có thành phần cấu tạo là muối chì , như điều người ta đã thường làm vào đầu thế kỷ thứ XIX. BS Christian Reiter, trưởng khoa pháp y học ở Đại Học Vienne, sau một cuộc điều tra tỉ mỉ đã phát hiện, theo phân tích ghi phổ, các đỉnh cao nồng độ chì trong các sợi tóc của bệnh nhân sau mỗi đợt chọc dò dịch đã được thực hiện giữa 5/12/1826 và 27/2/1827. “ Nếu những nồng độ được chứa trong thuốc đắp này không đủ mạnh để gây ngộ độc chết người đối với những người mạnh khỏe, ngược lại chúng có thể gây tử vong đối với những người có gan trong tình trạng xấu như trường hợp nhà soạn nhạc Beethoven ”. Vị thầy thuốc pháp y đã nói rõ như vậy. Hơn nữa vài tháng trước khi xuất hiện hợp chứng cổ trướng này, nhà nhạc sĩ đã được điều trị viêm phổi. Phép điều trị này cũng trên cơ sở muối chì, một phương thuốc điều trị hầu như phổ biến vào thời đó nhưng chỉ làm gia tăng thêm sự ngộ độc mà nhà soạn nhạc thiên tài có lẽ đã bị từ nhiều năm qua.

NGỘ ĐỘC MÃN TÍNH.
         Bởi vì giả thuyết về một ngộ độc chì nghiêm trọng đã nhiều lần được nêu lên. Lần sau cùng được công bố vào năm 2005 sau khi một nghiên cứu phân tích xương của Beethoven cho thấy sự hiện diện của các dấu vết không thể chối cải được của kim loại nặng này trong bộ xương của nhà soạn nhạc. Điều này thể hiện một tình trạng ngộ độc mãn tính có thể đã xảy ra và đã kéo dài từ nhiều năm.Vấn đề cần biết là xem nguồn gốc từ đâu. Một vài người quy cho rượu vang mà nhạc sĩ uống có thể chứa những lượng quan trọng kim loại nặng này nếu rượu được thanh lọc bởi litharge (protoxyde de plomb). Hoặc nước chứa những nồng độ lớn chất chì đã được uống bởi nạn nhân trong trạm tắm nước nóng (station thermale) mà vài thầy thuốc thời đó đã khuyên Beethoven sử dụng trong cố gắng chống lại việc mất thính lực quan trọng của ông.
            Thảm kịch này dĩ nhiên là ảnh hưởng ở mức cao nhất đến nhà soạn nhạc mà ngay từ năm 30 tuổi đã bị chứng điếc ngày càng gia tăng. Năm 1801, năm mà Beethoven ở trong tình trạng rất trầm uất, ông đã tiết lộ chứng điếc tàn tật này cho các bạn hữu trong khi ông vẫn tiếp tục viết bản giao hưởng số 2. Sau đó ông còn viết thêm 10 bản giao hưởng khác nữa. Bản giao hưởng thứ 10 vẫn chưa hoàn thành vào lúc ông qua đời .LE FIGARO 30/8/2007)

 

6/ BỆNH BÉO PHÌ DỄ LÂY NHIỄM.

           Tổ chức y tế thế giới khi báo cáo sự gia tăng số trường hợp béo phì đã không ngần ngại dùng danh từ bệnh dịch. Một danh từ có thể được sử dụng theo nghĩa đen. Theo Nicolas Christakis và các đồng nghiệp của trường y Havard, bệnh béo phì đúng là có tính chất dễ lây nhiễm : bệnh lan tràn từ người này sang người khác tùy theo độ vững chắc của các mối liên hệ xã hội liên kết họ lại với nhau. Nhóm nghiên cứu đã phân tích trong 32 năm tiến triển về thể trọng của 12.000 người trưởng thành thuộc cùng một mạng mối quan hệ. Nhóm nghiên cứu kết luận rằng nguy cơ để một người trở nên béo phì gia tăng 57% nếu một trong những người bạn của người này bị béo phì, 37% nếu đó là vợ của anh ta và 40% nếu đó là anh hoặc em .Chứng béo phì nơi người láng giềng sẽ không gây nên hậu quả cũng như việc gần gũi về mặt địa lý cũng không có tính chất lây nhiễm. Bệnh béo phì của người thân làm gia tăng độ dung nạp tâm lý (tolérance psychologique) của một người đối với căn bệnh này và điều này làm cho anh ta dễ biến đổi chế độ ăn uống và hoạt động vật lý của mình hơn. ( LA RECHERCHE 9/2007)


7/ 750.000
      Ở Trung Quốc, mỗi năm có 750.000 người chết sớm vì sự ô nhiễm của không khí và nước. Con số này nằm trong báo cáo sơ bộ của Ngân hàng thế giới về phí tổn do ô nhiễm gây ra trên đất nước này. Con số này cũng như 1/3 của bản báo cáo đã bị kiểm duyệt bởi chính phủ Trung Quốc vì cho rằng điều này là quá nhạy cảm và có thể dẫn đến một phong trào xã hội. Việc thiếu tính trong sáng đã diễn ra nhiều lần trong quá khứ : năm 2003,Trung Quốc đã từ chối chia xẻ các thông tin về trận dịch SARS và trong những năm 1990 đã chối là không phải bị đương đầu với vấn đề SIDA. ( LA RECHERCHE 9/2007)

 


8/ 700.000
       Mỗi năm ở nước Nga có 700.000 người dân bị bớt đi trên tổng số dân của đất nước này. Nguyên nhân là do tỷ lệ sinh đẻ thấp nhưng cũng do tỷ lệ tử vong cao vì rượu. Đối với những người đàn ông, xác suất tử vong giữa 25 và 65 tuổi là 55% (so với 15% ở các nước Tây Âu).Theo một nghiên cứu được tiến hành bởi một nhóm nghiên cứu Anh-Nga, sự tiêu thụ ruợu ( đặc biệt rượu từ nước hoa Cologne, các dung môi hay alcool dùng trong  y khoa ) là nguyên nhân của 43% trường hợp chết non nơi các đàn ông. (SCIENCES ET AVENIR 9/2007)


 

9/ CƯỜI NHIỀU HƠN, GÃI ÍT HƠN.

          Bà mẹ càng cười nhiều khi cho con bú thì trẻ em càng mạnh khỏe hơn . Đó là kết quả của một nghiên cứu Nhật Bản được công bố trong Journal of Psychosomatic Research. Hajime Kimata và các đồng nghiệp của bệnh viện Moriguchi-Keijinkai (Osaka) đã cho các phụ nữ có con bị dị ứng với latex, acariens và bị chàm, xem phim hài Temps Moderne của Charlie Chaplin. Sau khi chiếu phim xong, các nhà nghiên cứu đã đo nồng độ mélatonine trong sữa mẹ và đã so sánh nồng độ này với nồng độ ở những phụ nữ chứng được cho xem đoạn phim báo cáo về thời tiết. Việc lựa chọn mélatonine được giải thích là hormone chủ yếu này điều hòa phần lớn việc tiết những hormone khác. Kết quả : một nồng độ mélatonine cao hơn nơi các bà mẹ cười ròn rã và các phản ứng dị ứng có vẻ được giảm bớt nơi các đứa con của các bà mẹ này. Năm 2005, nhóm nghiên cứu người Nhật đã đưa ra một công trình nghiên cứu khác chứng tỏ sự sản xuất một peptide chống vi trùng trong mồ hôi của những bệnh nhân sau khi đã được cho xem cùng phim hài Temps Modernes của Charlie Chaplin.( SCIENCES ET AVENIR 9/2007)


 

10/ CÁC CƠN GIÔNG LỚN VÀ TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI.

       Những thay đổi đột ngột áp lực không khí làm tăng nguy cơ xảy ra tràn khí màng phổi lành tính (pneumothorax bénin). Những dữ kiện thu được trong vòng 4 năm trong vùng Bologne (Ý) gợi ý rằng những nhập viện vì loại tràn khí phế mạc này xảy ra thường xuyên hơn nhiều trong những ngày trời giông (54%) so với trong những ngày trước đó (17%). ( SCIENCES ET AVENIR 9/2007)

                                     B.S NGUYỄN VĂN THỊNH
                                              (2/9/2007)

     
 

Trở về Trang Chính