|
1. INSULA CỦA SỰ CÁM DỖ
Trường hợp của một người nghiện
thuốc lá, nạn nhân của tai biến mạch máu não đã giúp phát hiện
vai trò của một vùng mới của não bộ trong việc nghiện thuốc.
24 năm hút thuốc không đầu lọc, hai gói mỗi
ngày.Và tuy vậy, Nathan đã trở nên hết nghiện trong một sớm một
chiều. Chẳng có phương pháp điều trị diệu kỳ nào cả, chỉ là
Nathan đã là nạn nhân của một tai biến mach máu não trong một
vùng nhỏ của não bộ gọi là INSULA. Điều này đã cho phép nhóm của
Antoine Bechara của Đại Học Iowa (Hoa Kỳ) suy đoán được một
vùng mới của não bộ chịu trách nhiệm về sự nghiện thuốc. Tò mò
bởi trường hợp này, các nhà nghiên cứu đã chọn lựa 19 bệnh nhân
nghiện thuốc lá là nạn nhân của tai biến mạch máu não. 12 trong
số những người này đã ngưng thuốc trong ngày sau khi xảy ra tai
nạn. ‘Như thể là cơ thể đã quên sự cần thiết phải hút thuốc’
Nathan đã tuyên bố với các nhà nghiên cứu như vậy.
‘Kết quả này gây bối rối, nó chỉ rõ một vùng
chúng tôi đã không nghĩ đến’. Philippe Faure
(Pasteur/Inserm/CNRS) đã phát biểu như thế. Insula là một vùng
của vỏ não thuộc vùng trước trán, có quan hệ trong việc cảm nhận
có ý thức những nhu cầu của cơ thể mà nó sẽ hội nhập và biến đổi
thành những cảm giác và cảm xúc. Thế mà bất cứ người nghiện
thuốc lá nào cũng biết rằng sự việc cầm một điếu thuốc lá không
thôi tưởng như cũng có tầm quan trọng như phải thật sự hút một
điếu thuốc. Như vậy mọi việc xảy ra như thể insula đã thuyết
phục cơ thể rằng nhu cầu thuốc lá là điều sinh tử. Trong khi đó,
trên thực tế cơn nghiện chỉ là một kết cấu tâm thần có tính chất
đánh lừa. Có lẽ đó là cơ sở để thuyết phục những người nghiên
thuốc lá là họ hoàn toàn có thể bỏ thuốc một cách tự nhiên.
(SCIENCES ET AVENIR
3/2007)
2. FOLATES VÀ THAI
NGHÉN
Người ta đã biết
hiệu quả có lợi của acide folique dùng ở người đàn bà có thai để
ngăn ngừa một biến dạng cột sống xảy ra ở thai nhi được gọi là
spina-bifida. Nhưng theo một nghiên cứu được công bố trên
British Medical Journnal, 400 microgrammes acide folique được
cho bổ sung hàng ngày cũng sẽ làm giảm nguy cơ bị chứng sứt môi
(bec-de-lièvre hay fente labiale)
(SCIENCES ET AVENIR
3/2007)
3. TỰ GHÉP MÁU
(AUTOGREFFE DE SANG) CHỮA BỆNH UNG THƯ MÁU
Một trẻ sơ sinh đã được chữa lành bệnh nhờ máu lấy từ cuống rốn
của mình vào lúc sinh. Đây là một thành công y học đầu tiên được
thực hiện ở Hoa Kỳ.
Thành công y học này lại sẽ gây nên cuộc
tranh cãi về các công ty tư nhân bảo quản máu của cuống rốn của
các trẻ sơ sinh. Nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ của David Morgan thuộc
Bệnh Viện Mayo (Minnesota) thông báo là đã chữa lành bệnh ung
thư máu cho một bé gái 3 tuổi, nhờ ghép các tế bào gốc lấy nơi
chính cuồng rốn của trẻ. Được lấy ngay lúc sinh rồi được làm
đông lạnh, máu này chứa các tế bào gốc được tiêm vào trẻ bị
bệnh. Các tế bào gốc này đã đến chiếm tủy xương và thúc đẩy việc
chế tạo những tế bào máu lành mạnh, do đó dập tắt căn bệnh.
Từ trước đến nay các thầy thuốc sợ rằng các
tế bào gốc của các bệnh nhân mang một di thường khả dĩ lại làm
phát sinh ung thư máu. Là nước tiền phong trong lãnh vực này từ
năm 1988 và nhờ các công trình của giáo sư Eliane Glukman, năm
qua Pháp đã tổng kết đuoc 150 trường hợp ghép máu từ cuống
rốn.Tuy nhiên, khác với các bé gái người Mỹ, các bệnh nhân này
đã không nhận máu của chính mình mà là máu từ một người cho vô
danh, được bảo quản trong một ngân hàng máu công cộng Vì các tế
bào của cuống rốn còn non nớt, nên chỉ gây rất ít nguy cơ thải
bỏ (rejet) hoặc gần như không.
(SCIENCE ET VIE 3/2007)
4. SỮA HUỶ BỎ HIỆU
QUẢ CỦA TRÀ
Một làn sữa mỏng sẽ
làm tiêu tan tác dụng bảo vệ của trà đen lên các mạch máu (tác
dụng bảo vệ này là do các tính chất chống oxi hoá, chống viêm và
giãn mạch của trà đen). Theo nhóm nghiên cứu ở Berlin, so sánh
các tác dụng của trà thiên nhiên với trà pha sữa lên độ co dãn
của mạch máu, thì 3 caséines của sữa là nguyên nhân của tác dụng
hủy bỏ này. Các protéines này liên kết với catéchines là những
phân tử có tác dụng có lợi của trà. Sự biến đổi hoá học này làm
giảm nồng độ catéchines và huỷ bỏ đặc tính bảo vệ của chúng
(SCIENCE ET VIE 3/2007)
5.
TẬP THỂ DỤC GIẢM NGUY CƠ UNG THƯ PHỔI
Theo một
nghiên cứu của Đaị Học Minnesota (Hoa kỳ), thể dục đều đặn cho
phép giảm nhẹ nguy cơ ung thư phổi. Nghiên cứu được tiến hành
trên 36.929 phụ nữ khởi đầu năm 1986 và sự theo dõi được kéo dài
đến năm 2002. Các phụ nữ đã trả lời các bằng câu hỏi về tình
trạng sức khỏe, đặc biệt là sự tiêu thụ thuốc lá và các hoạt
động thể thao của họ trong nhiều năm.
Tổng cộng có 777 trường hợp ung thư phổi được
chẩn đoán lúc chấm dứt công trình nghiên cứu: 125 trường hợp
trên các phụ nữ không hút thuốc, 177 trên các phụ nữ đã hút
thuốc trước đây (anciennes fumeuses) và 475 trên các phụ nữ đang
hút thuốc.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng các phụ nữ
có hoat động thể lực đều đặn có nguy cơ bị bệnh ung thư phổi 31%
thấp hơn.
Theo các nhà nghiên cứu thực hiện công trình
nầy thì không phải vì việc luyện tập thể dục cho phép các phụ nữ
hút thuốc. Điều hay nhất cần làm để giảm nguy cơ ung thư phổi,
đó là ngưng hút thuốc. Những người ngưng hút thuốc có nguy cơ bị
ung thư phổi 10 đến 11 lần ít hơn những người cứ tiếp tục hút
thuốc.
Theo các nhà nghiên cứu, sự cải thiên chức
năng hô hấp làm giảm nồng độ các phần tử gây ung thư và sự phân
tán của chúng trong phổi.
(SEMAINE MEDICALE 18/1/2007)
6. TỎI VÀ CHOLESTEROL
Mặc dầu tỏi được quảng cáo rộng
rãi như là tác nhân làm giảm cholesterol, nhưng một nghiên cứu
được công bố tuần này đã không tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng
tỏi có tác dụng tốt hơn một placebo trong việc giảm nồng độ
lipid trong máu.
Công trình nghiên cứu 6 tháng căn cứ trên số
lượng 192 người trưởng thành với nồng độ cholesterol tăng nhẹ,
đã trắc nghiệm tỏi sồng và các chất bổ sung có tỏi. Kết quả công
trình nghiên cứu được công bố trong The Archives of Internal
Medicine. Các nhà nghiên cứu đã chia những người tham gia thành
4 nhóm để tiêu thụ hoặc tỏi sống, hoặc tỏi trong thuốc dưới dạng
bột goi là Garlicin, hoặc tỏi trong nhãn hiệu bình dân Kyolic
100, hoặc một placebo. Liều lượng tương đương với một củ tỏi
uống một ngày một lần, sáu ngày mỗi tuần trong vòng 6 tháng.
Các nhà nghiên cứu đã xét nghiệm LDL
cholesterol, HDL cholesterol, triglycerides, và tỷ số
cholesterol toàn thể-HDL, nhưng đã không tìm thấy sự khác nhau
đáng kể về mặt lâm sàng và thống kê giữa những người sử dụng tỏi
và những người nhận một placebo.
(INTERNAL HERALD TRIBUNE 1/3/2007)
7. BỆNH TIM VÀ SỰ
NGHÈO TÚNG
Sống
trong một khu phố nghèo khó có thể làm gia tăng nguy cơ bị bệnh
tim. Một báo cáo nghiên cứu của Thụy Điển đã kết luận như vậy.
Trong một công trình
nghiên cứu trên 3,7 triệu người nam và nữ tuổi từ 35 đến 74, các
nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng những người sống ở các khu phố
nghèo khó có khả năng đáng kể bị bệnh động mạch vành hơn là
những người sống ở những vùng có điều kiện tốt nhất.
Các nhà nghiên cứu đã xếp loại các khu phố
thành nghèo túng loại thấp, trung bình hoặc cao, sử dụng các
thống kê dân số và kinh tế xã hội của chính phủ Thụy Điển. Họ
xác định số lượng các trường hợp bị bệnh tim và tử vong do nghèo
túng, sử dụng Sổ Xuất Viện Thụy Điển và Sổ các nguyên nhân tử
vong kể từ năm 1996 đến năm 2000.
Có hơn 130.000 trường hợp bệnh tim và hơn 3.500 tử vong suốt
trong thời kỳ này. Sau khi kiểm tra về tuổi tác, lợi tức, tình
trạng công ăn việc làm, trình độ giáo dục và kiểm tra xem những
người này có nhận trợ cấp xã hội hay không, các nhà nghiên cứu
đã nhận thấy rằng những người nam xuất thân từ những khu phố
nghèo khó nhất sẽ có khả năng bị bệnh động mạch vành 1,5 lần
nhiều hơn so với những nhung người đến từ những vùng ít nghèo
khổ hơn. Các phụ nữ từ những vùng nghèo khó hầu như có khả năng
phát triển bệnh động mạch vành hai lần nhiều hơn so với các phụ
nữ đến từ những khu phố có điều kiện sinh sống tốt nhất.
Công trình nghiên cứu này được công bố trong
số tháng 2 của American Journal of Preventive Medicine.
(INTERNAL HERALD
TRIBUNE 1/3/2007)
8. TRẦM UẤT, YẾU TỐ GÂY TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Một cuộc điều tra mới đây xác định sự liên hệ
giữa bệnh trầm uất (dépression) và tai biến mạch máu não. Người
ta biết rằng trong năm sau khi bị tai biến mạch máu não, chứng
trầm cảm xuất hiện trong 30 % trường hợp. Điều tra của
Framingham chứng tỏ rằng ngay cả trước khi bị tai biến mạch máu
não cũng đã có mối liên hệ này. Những công trình nghiên cứu khác
được tiến hành ở Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi và Nhật Bản cũng xác nhận
điều này. Hơn 400 người tuổi từ 29 đến 100 đã tham gia vào công
trình nghiên cứu này. Sau 8 năm theo dõi, nguy cơ tai biến mạch
máu não gia tăng rất nhiều ở những người dưới 65 tuổi có những
biểu hiện lâm sàng của chứng trầm uất. Sau khi xét đến những yếu
tố làm dễ khác, nguy cơ tai biến mạch máu não ở người bị trầm
uất 3,5 lần trầm trọng hơn so với những người không bị chứng
này.
Nhiều rối loạn huyết quản và chuyển hoá giải
thích sự liên hệ này, đặc biệt là là sự bất quân bình chức năng
tiểu cầu.
(SCIENCES ET AVENIR 3/2007)
9. BỄ BƠI VÀ CHỨNG SỔ MŨI MÙA
Các nghiên cứu đã xác lập một mối liên hệ
giữa sự tiếp xúc với nước có chlore và sự gia tăng tính thẩm
thấu huyết quản phổi, sự xuất hiện co thắt phế quản lúc gắng sức
và các cơn suyễn. Một công trình điều tra
chứng tỏ rằng sự việc tắm bể bơi trong thời kỳ thơ ấu sẽ làm dễ
nguy cơ bị chứng sổ mũi mùa (rhume des foins) vào tuổi trưởng
thành. Các câu trả lời chứng tỏ rằng nguy cơ bị chứng sổ mũi mùa
tỷ lệ với số lần tắm trong nước có chlore trong thời kỳ thơ ấu.
(SCIENCES
ET AVENIR 3/2007)
10. THỂ DỤC NGƯ MÃ
Não bộ của chúng ta cần tập thể dục đều đặn
để đảm bảo sự duy trì lâu dài các chức năng nhận thức. Các lão
ông được yêu cầu học thuộc lòng một bài xã luận hay một bài thơ
500 chữ trong thời hạn 6 tuần. Kết quả cho thấy chỉ sau 6 tuần
tập thể dục này của não, các khả năng nhớ mới thật sự được cải
thiện với sự gia tăng các hiệu năng đối với các trắc nghiệm khác
nhau và sự hoạt hóa các vùng não bộ của ngư mã ( hippocampe)
(được thể hiện bởi spectrométrie de résonance magnétique)
(SCIENCE ET AVENIR 3/2007)
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
(4/3/2007)
Trở về Trang Chính
|