|
1/ GIỚI TÍNH CỦA EM BÉ TƯƠNG LAI LIÊN KẾT VỚI
CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG CỦA NGƯỜI MẸ.
Một công trình nghiên cứu của Anh
chỉ rõ rằng một dinh dưỡng có nhiều calorie vào lúc thụ thai làm
dễ sự sinh con trai.
Việc sinh trai hay gái dưới mắt của
những người trần tục có vẻ như là một cuộc xổ số, chỉ tuân theo
những quy tắc xác suất. Và mặc dầu có một mức trung dung, nhưng
vài cặp vợ chồng sinh một loạt các con gái trong khi những cặp
khác lại sinh một loạt các con trai.Thời nào cũng vậy, con người
đã cố gắng ảnh hưởng lên định mệnh, với những phương thức mang
lại ít nhiều may mắn.
Trong khi người Trung quốc đã lựa chọn phương
pháp đáng buồn và cực đoan là tìm cách loại bỏ các thai nhi nữ
sau khi thăm khám siêu âm, chỉ vì muốn sinh con trai , thì các
nhà nghiên cứu người Anh đã loan báo trong tuần này trên một tờ
báo rất nghiêm túc của Viện Hàn Lâm Luân Đôn rằng sự phong phú
calorie trong chế độ dinh dưỡng vào lúc thụ thai, là một yếu tố
thuận lợi cho sự sinh con trai, trong khi một chế độ ăn uống
giảm calorie sẽ có khuynh hướng chọn lọc con gái. Sự khám phá
này, theo các tác giả có thể là một trong những giải thích rằng
trong thời gian gần đây tỷ suất giới tính của các sinh đẻ đã hơi
bị biến đổi với số con trai được sinh ra ít hơn. Điều này xảy ra
là do nỗi ám ảnh của các thiếu nữ muốn giữ cho thân hình được
mảnh khảnh do đó đã tiêu thụ ít calorie hơn.
Nhóm nghiên cứu y tế cộng đồng của đại học Oxford, để
đi đến kết luận này, đã theo dõi 720 phụ nữ trẻ tuổi người Anh
mang thai lần đầu tiên và không biết về giới tính của thai nhi.
Tất cả được yêu cầu nhớ lại một cách chính xác các thói quen ăn
uống, trong những tuần lễ trước và sau khi thụ thai, để tính
toán cho mỗi phụ nữ lượng calorie được cung cấp và loại thức ăn
được ăn vào. Các phụ nữ này được chia thành 3 nhóm : nhóm hấp
thụ nhiều calorie nhất, nhóm tiêu thụ ở mức trung bình và nhóm
có mức tiêu thụ thấp nhất.
Sau khi sinh, những tương quan giữa
các thức ăn được hấp thụ và giới tính của trẻ em đã cho phép
phát hiện rằng 56% các sinh đẻ là các con trai trong nhóm những
người mẹ đã tiêu thụ nhiều calorie nhất, trong khi tỷ lệ này chỉ
là 45% đối với các sản phụ đã hấp thụ ít calories nhất trong
thời kỳ thụ thai. Ngoài việc hấp thụ nhiều calories nhất, phần
nhiều các bà mẹ sinh con trai đã ăn rất nhiều thứ thức ăn và các
chất dinh dưỡng có nhiều potassium, calcium, vitamine C, E và
B12.
NGŨ CỐC VÀO BUỔI ĂN SÁNG
Các nhà nghiên cứu cũng đã có thể
phát hiện một mối tương quan rõ rệt giữa việc tiêu thụ ngũ cốc
vào lúc ăn sáng và sự sinh con trai. Chỉ các ngũ cốc của buổi ăn
sáng, được ăn trong thời kỳ trước khi thụ thai là liên kết mạnh
với giống tính của đứa trẻ : những phụ nữ sinh con trai ăn nhiều
ngũ cốc hơn là những phụ nữ sinh con gái. Phải nói rằng các ngũ
cốc là thức ăn sáng được ưa chuộng ở Anh và thức ăn này hiếm khi
được tiêu thụ vào một lúc nào khác trong ngày. Nhóm nghiên cứu
người Anh đề nghị một giải thích về sự liên kết được tìm thấy
giữa giới tính của thai nhi và lượng calorie và những ngũ cốc
của buổi ăn sáng được ăn vào lúc thụ thai.
“ In vitro, glucose làm gia tăng sự tăng
trưởng và phát triển của các phôi thai nam và cản sự tăng trưởng
và phát triển của các phôi thai nữ ”.
Ngược lại trình độ xã hội kinh tế
cũng nhưng các đặc điểm của vóc người của bố mẹ đã không có vẻ
ảnh hưởng lên giới tính của đứa trẻ.
Ngoài ra, lượng cà phê, trà hay thuốc lá cũng không ảnh hưởng
lên giới tính. Sau cùng, chỉ dấu khối lượng cơ thể (indice de
masse corporelle) cũng không phải là một yếu tố ảnh hưởng lên
giới tính của hậu duệ.
Nhiều bài học có thể được rút ra từ cuộc điều tra này.
Một mặt, suốt trong 40 năm qua, theo nhiều tác giả, có một sự
giảm tuy nhỏ nhưng rõ ràng của tỷ lệ sinh con trai trong các
nước giàu có. Sự sút giảm này, đến mãi ngày nay được xem như là
hậu quả do sự tiếp xúc với các chất độc, và đặc biệt là các chất
có tác dụng giống oestrogène (một vài sản phẩm nội trợ được gọi
là chất làm rối loạn nội tiết, có khả năng bắt chước tác dụng
của oestrogène), có thể là do sự tiến hóa của các cách ăn uống .
Đặc biệt, những thay đổi chế độ ăn
uống của các thiếu nữ với sự giảm lượng thức ăn được ăn vào, có
thể giải thích sự tiến hóa này. Một bài học khác là cần khuyên
các phụ nữ muốn sinh con trai phải có một chế độ ăn uống nhiều
calories và đa dạng hóa, cũng như ngũ cốc vào buổi sáng .
Ngày nay,
để chọn giống tính của trẻ trước khi thụ thai, phương pháp duy
nhất chắc chắn thành công là chẩn đoán di truyền trước khi cấy
phôi. Sau một thụ thai nhân tạo, một tế bào của phôi được xem
xét và chỉ được cấy vào tử cung người mẹ các phôi có giống tính
được lựa chọn. Phương thức này, trong khi bị cấm đoán ở Pháp,
lại đuợc thực hiện ở Hoa Kỳ,Trung Quốc và Ấn Độ. “ Cách nay vài
năm, giáo sư François Olivennes (Paris) đã kể lại như vậy, một
thầy thuốc người Bỉ đã hiệu chính một chiếc máy cho phép chọn
lựa các tinh trùng XX hay XY, đặng có thể làm sinh con trai hay
con gái ”. Sau cùng có chế độ ăn uống của Bác Sĩ François Papa,
chủ trương một cách giản lược rằng để sinh con gái cần một dinh
dưỡng giàu calcium và ít muối và ngược lại nếu muốn sinh con
trai.
( LE FIGARO
23/4/2008)
2/ CÁC NGƯỜI CHA ĐẺ
CỦA CÔNG CUỘC KHÁM PHÁ THUỐC QUININE
Nhờ các công trình của hai nhà hóa
học Hoa Kỳ, cuộc tranh cãi 60 năm về sự tổng hợp thuốc quinine
đã đến hồi kết thúc.
Quinine là một alcaloide trích từ
vỏ của cây quinquina.Từ lâu quinine đã được sử dụng để điều trị
bệnh sốt rét, trước khi được thay thế phần lớn bởi các dẫn xuất
của nó, và ngày nay quinine được dùng để làm giảm đau trong
những chứng chuột rút (crampes musculaires).
Chính vào đầu thế kỷ XX mà cấu tạo hoá học của
quinine đã được xác định. Cũng chính vào thời kỳ đó, những công
trình nhằm chế tạo quinine đã ra đời. Bằng cách tái tạo và làm
sáng tỏ các tình tiết của những công trình tiền phong này, hai
nhà hóa học Hoa Kỳ đã chấm dứt một cuộc tranh cãi lâu dài về sự
tổng hợp quinine và về quyền tác giả của khám phá này.
Lịch sử bắt đầu năm 1944.
Robert Woodward và William Doering, thuộc đại học Havard, đã
công bố một bài báo mô tả sự tổng hợp toàn bộ của quinine. Việc
thông báo này đã gây chấn động trong cộng đồng khoa học, cũng
như trong báo chí, bởi vì trong bối cảnh chiến tranh thế giới,
các Đồng Mình khi đó bị cắt đứt nguồn tiếp liệu quinine tự nhiên
của họ.
Thật ra,Woodward và Doering đã
không thực hiện một sự tổng hợp “ toàn bộ ”. Trong 17
giai đoạn của quá trình tổng hợp, họ đã thành công chế tạo một
phân tử rất tương cận với quinine, được gọi là “ quinotoxine ”.
Để giải thích làm sao có thể đi từ phân tử này đến thành phẩm là
quinine, họ chỉ tham chiếu (chứ không tái tạo) những công trình
được thực hiện năm 1918 bởi các người Đức Paul Rabe và Karl
Kindler (các tác giả của một phương thức cho phép biến đổi
quinotoxine thành quinine, qua 3 giai đoạn).
Vấn đề là ở chỗ không ai đã thành công tái tạo được 3
giai đoạn cuối này, và như thế toàn bộ của đường tổng hợp
quinine. Sau đó sự ra đời của các thuốc có tác dụng tương tự với
quinine đã khiến cho sự khám phá của Woodward và Doering sau
cùng bị đẩy lui vào trong quên lãng của lịch sử hoá học.
Cuộc khám phá của Woodward và
Doering sau đó lại bị chỉ trích. Năm 2001, Gilbert Stock, của
đại học Columbia, công bố một đường tổng hợp mới của quinine.
Lợi dụng cơ hội này, ông giải thích rằng quinine đã không bao
giờ được tổng hợp năm 1944, và rằng Woodward và Doering đã cố
gắng tái tạo 3 giai đoạn cuối nhưng chắc chắn họ đã thất bại.
Hai nhà hoá học của đại học Colorado, Aaron Smith và
Robert Williams, ngày nay cho Gilbert Stock là sai. Hai nhà hoá
học này đã xem xét trong những ấn bản cũ của các nhà nghiên cứu
người Đức và tìm hiểu những kỹ thuật được sử dụng vào đầu thế kỷ
20. Chính như thế họ đã khám phá rằng bột nhôm vốn được coi là
biến hóa quinotoxine thành quinine năm 1918, đã được tích trữ
trong một thùng chứa để không khí đi qua : như vậy, các nhà hóa
học người Đức đã sử dụng một dạng oxy hóa của nhôm mà không hay
biết gì cả . Dựa trên điều chứng thực này, nhóm nghiên cứu của
Californie đã thành công tái tạo tất cả các giai đoạn của toàn
bộ đường tổng hợp đầu tiên của quinine, như vậy là để tưởng nhớ
đến những người đã khám phá ra thuốc để điều trị bệnh sốt rét.
( LA RECHERCHE 4/2008)
3/ RƯỢU VÀ THUỐC LÁ LÀM DỄ NGUY CƠ BỊ
BỆNH ALZHEIMER
Nhân dịp
một hội nghị ở Hoa Kỳ, các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ lần đầu
tiên rằng những người hút thuốc lá nặng và những người uống rượu
thâm niên bị mắc bệnh Alzheimer sớm hơn.
Bệnh Alzheimer cũng là hậu quả của
lối sống của chúng ta. Bệnh này gây bệnh cho 15% những người
trên 80 tuổi. Mặc dầu nguyên nhân của bệnh Alzheimer đã không
được xác định một cách rõ ràng, nhưng sự việc uống rượu và hút
thuốc lá sẽ làm gia tăng nguy cơ mắc phải bệnh này.Trong một hội
nghị thần kinh học được tổ chức ở Hoa Kỳ, các nhà khoa học đã
chứng tỏ rằng các người uống rượu nhiều có một nguy cơ bị bệnh
Alzheimer sớm hơn những người không hoặc ít uống. Cũng vậy, sự
việc hút hơn một bao thuốc lá mỗi ngày cũng làm gia tốc nguy cơ.
Những công trình khác được trình bày trong hội nghị này phát
hiện một nguy cơ gia tăng bị bệnh Alzheimer đối với những người
đã có một tăng cholestérol-huyết lúc ở tuổi trung niên. Những
điều tra khác mới đây cũng đã chỉ rõ vai trò của cao huyết áp,
của bệnh đái đường và của chứng béo phì (đặc biệt là khi được
liên kết với một cái bụng phệ) như là những yếu tố làm dễ cho sự
phát triển của chứng sa sút trí tuệ này. Những dữ kiện này khiến
nghĩ rằng bằng sự phòng ngừa chống lại thuốc lá, rượu, bệnh đái
đường, chứng béo phì và cao huyết áp, chúng ta có thể nếu không
ngăn cản được bệnh này, thì ít ra cũng làm chậm sự xuất hiện của
nó.
Trong một thời gian lâu, các nguyên nhân của căn bệnh
thoái hóa não bộ trầm trọng này có vẻ vừa bí ẩn vừa mang hơi
hướng di truyền. Trong những năm qua, càng ngày càng có nhiều
các công trình nghiên cứu ăn khớp nhau chỉ rõ rằng căn bệnh bi
thảm này cũng liên hệ với lối sống của chúng ta. Và có vẻ như là
các yếu tố ảnh hưởng lên tim, nhất là những yếu tố trách nhiệm
về các thương tổn động mạch vành, cũng ảnh hưởng lên chức năng
của não bộ khi tuổi tác gia tăng. Mặc dầu nguồn gốc của bệnh
Alzheimer không được biết một cách chính xác, nhưng có vài yếu
tố làm dễ cho sự phát sinh căn bệnh này. Thứ tư vừa qua, một
công cuộc điều tra đã được trình bày tại hội nghị hàng năm của
Viện hàn lâm thần kinh học Hoa Kỳ ở Chicago. Công trình nghiên
cứu này đã chứng tỏ rằng bệnh Alzheimer gây bệnh sớm hơn nơi
những người nghiện thuốc lá nặng và những người uống rượu thâm
căn. Cũng tại hội nghị này, một công trình nghiên cứu khác cho
rằng những người có nồng độ cholestérol cao trong tuổi tứ tuần,
cũng có một nguy cơ gia tăng bị Alzheimer sau này. Một công
trình nghiên cứu thứ ba được công bố ngày 26 tháng 3 xác nhận
rằng có một cái bụng phệ ở tuổi trung tuần cũng được liên kết
với một nguy cơ bị bệnh Alzheimer cao hơn.
Các nhà nghiên cứu của Mount Sinai
Hospital de Miami Beach (Hoa Kỳ) đã khảo sát 938 người trên 60
tuổi vừa được chẩn đoán có khả năng bị Alzheimer. Sau đó họ hỏi
gia đình của các bệnh nhân để đánh giá sự tiêu thụ thuốc lá và
rượu suốt trong cuộc sống. Như thế họ đã có thể quan sát thấy
rằng những người uống rượu đều đặn ( ít nhất 3 ly mỗi ngày) bị
bệnh Alzheimer trung bình 4,8 năm sớm hơn những người không uống
hoặc uống ít. Cũng vậy, những người nghiện thuốc lá nặng (hơn
một gói mỗi ngày) bị bệnh Alzheimer 2,3 năm sớm hơn những người
không hút thuốc. Đối với những người mang một trong những gène
tố bẩm (apolipoprotéine 4), bệnh bắt đầu 3 năm trước những người
khác. Đối với những người đồng thời uống rượu nhiều, nghiện
thuốc lá nặng, mang gène tố bẩm, họ phát bệnh 8,5 năm sớm hơn
những người không có 3 yếu tố này. 17 người thuộc trường hợp đầu
đã bị bệnh Alzheimer lúc 68,5 tuổi, so với 77 tuổi đối với
trường hợp thứ hai. Đối với các tác giả, việc làm chậm lại khởi
đầu của bệnh càng lâu càng tốt, là điều rất quan trọng. “ Người
ta đã chứng tỏ rằng nếu có khả năng làm chậm khởi đầu của bệnh 5
năm, ta sẽ chia đôi số bệnh nhân bị bệnh ”, giáo sư Ranjan
Duara, tác giả chính của công trình nghiên cứu đã giải thích như
vậy.
CŨNG NHƯ ĐỐI VỚI BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG.
Công trình điều tra thứ hai được
trình bày nhân hội nghị này đã khảo sát 9.752 đàn ông và phụ nữ
được thăm khám sức khỏe giữa năm 1964 và 1973, ở lứa tuổi 40-45
và sau đó đã được theo dõi cho đến năm 1994. Giữa năm 1994 và
2007, 504 người trong nhóm này bị bệnh Alzheimer và 162 người bị
bệnh sa sút trí tuệ do nguyên nhân huyết quản (démence
vasculaire). Các kết quả cho thấy rằng những người ở lứa tuổi
trung niên, với nồng độ cholestérol trong máu cao nhất, lúc về
già có thêm 50% nguy cơ bị bệnh Alzheimer so với những người có
nồng độ thấp nhất. Cùng loại nghiên cứu được công bố trong tạp
chí Neurology, số ngày 9 tháng 4 vừa qua đã dẫn đến cùng kết
luận về bệnh đái đường. Công trình này được tiến hành ở Thụy
Điển theo cùng một nguyên tắc, đã phát hiện sự kiện là ở người
đứng tuổi, sự việc có một glucose huyết quá cao làm gia tăng 50%
khả năng phát triển về sau này bệnh Alzheimer.
Sau hết, ngày 26 tháng 3 vừa qua,
vẫn trong tạp chí Neurology, các nhà khoa học Hoa Kỳ giải thích
rằng họ đã đo vòng kích thước của tầm vóc (tour de taille) của
hơn 6000 người Mỹ trong những năm 1970. Khoảng 30 năm sau các
nhà nghiên cứu nhận thấy rằng những người béo phì và có một bụng
phệ, có nguy cơ bị bệnh Alzheimer 3,6 lần nhiều hơn so với những
người mảnh khảnh ; những người với gia tăng thể trọng (surpoid)
và có một bụng phệ, có nguy có bị bệnh Alzheimer 2,3 lần nhiều
hơn. Béo phì (obésité) nhưng không có bụng phệ gia tăng nguy cơ
một cách ít quan trọng hơn. Những công trình nghiên cứu trước
đây đã phát hiện một nguy cơ gia tăng nơi những người bị cao
huyết áp và lợi ích của việc điều trị chống cao áp. Nhưng cơ chế
giải thích tại sao các yếu tố này làm dễ bệnh Alzheimer không
được rõ ràng lắm. “ Trong bệnh Alzheimer, có sự kết hợp của các
thương tổn ở vi tuần hoàn của não bộ và các tích chứa của các
mảng dạng tinh bột (plaques amyloides), giáo sư Françoise
Forette đã giải thích như vậy. Bằng cách tác động lên các yếu tố
nguy cơ huyết quản, nghĩa là bằng cách ngừng hút thuốc lá, điều
trị bệnh cao huyết áp, cholestérol, bệnh đái đường, bằng cách
tập thể dục, chúng ta sẽ làm chậm lại sự xuất hiện của bệnh
Alzheimer ”
( LE
FIGARO 18/4/2008)
4/ THÙY HẢI
MÃ, THÀNH LŨY CHỐNG LẠI ALZHEIMER ?
Một thùy hải mã (hippocampe) to
lớn bảo vệ chống lại sự phát sinh của bệnh Alzheimer. Lúc thực
hiện những cuộc giải phẫu tử thi nơi những xác chết của những
người lớn tuổi, các nhà nghiên cứu của đại học Oregon (Hoa Kỳ)
đã khám phá những mảng dạng tinh bột (plaques amyloides), đặc
trưng của sự thoái hóa loại Alzheimer, trong não bộ của những
người cho đến lúc chết tuy vậy vẫn có đầy đủ tất cả các khả năng
trí tuệ. Sau khi đã tìm kiếm tất cả các yêu tố có thể giải thích
những điều được quan sát của họ ( giới tính, tuổi tác, thể tích
toàn bộ của não bộ, các dữ kiện nhân khẩu học, lâm sàng hay bệnh
lý ), họ đã chứng thực rằng thùy hải mã của những người « được
bảo vệ » không bị bệnh Alzheimer trung bình 20% lớn hơn thùy hải
mã của những người bị bệnh này, mặc dầu có cùng số lượng các
mảng dạng tinh bột.
( LE FIGARO 18/4/2008)
5/ ETANERCEPT
CHỐNG BỆNH ALZHEIMER.
LOS ANGELES . Các nhà nghiên
cứu Hoa Kỳ loan báo đã thực hiện một đột phá khẩu trong công
cuộc đấu tranh chống lại bệnh Alzheimer.
Theo tờ báo Anh “ Independent on Sunday ”,
các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã hiệu chính một thuốc chích có hiệu
quả trong vòng vài phút.
Tin tức vang dội này xuất phát từ
Californie, nơi các nhà nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Thần Kinh
của đại học Californie đã tiêm thuốc chống viêm khớp Etanercept
trong cột sống của 50 bệnh nhân bị bệnh Alzheimer. Theo các kết
quả đầu tiên, hơn 90% các bệnh nhân được điều trị như thế đã
phản ứng dương tính với điều trị này trong vài phút sau đó, như
các phim vidéo đã chứng tỏ.
Trong một trong các phim vidéo
này, người ta có thể thấy một cô y tá ngồi bênh cạnh một lão ông
92 tuổi đang thì thào và nhăn mặt khi cô y tá này yêu cầu ông ta
kể tên nhiều đồ vật khác nhau, như một vòng đeo tay hay một cây
bút chì. Lão ông đã không thể thực hiện được điều đó trước khi
nhận một mũi tiêm Etanercept. Vài khoảnh khắc sau, ông lão đã
chào vị hôn thê của mình. Bà này rất đổi ngạc nhiên bởi vì chồng
bà từ nhiều năm nay đã không còn nhận ra bà nữa. Etanercept
không phải là một loại thuốc mới nhưng đây là lần đầu tiên thuốc
được sử dụng đối với bệnh Alzheimer. Theo giám đốc nghiên cứu,
giáo sư Edward Tobinick, những bệnh nhân được điều trị đã có “
một cải thiện về khả năng tính toán, về trí nhớ và về khả năng
ngôn từ của họ ”. Nhà nghiên cứu giải thích rằng những tiến bộ
này đã kéo dài lâu chừng nào các bệnh nhân nhận mỗi tháng một
mũi tiêm. Mặc dầu những kết luận được rút ra bởi các nhà nghiên
cứu Hoa Kỳ mang nhiều hy vọng cho hàng triệu bệnh nhân bị bệnh
Alzheimer, nhưng các chuyên gia cảnh cáo chống lại một niềm lạc
quan quá mức. Một vài nhà khoa học chỉ rõ số lượng bệnh nhân ít
ỏi trong khung cảnh của những nghiên cứu này cũng như một số
khiếm khuyết nào đó. Những thử nghiệm của điều trị được áp dụng
bởi các nhà nghiên cứu Californie sắp đến đây sẽ được tiến hành
với quy mô lớn hơn.
( METRO
22/4/2008)
6/ CÁC NGUY
CƠ CỦA NHỮNG THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM TRONG THỜI KỲ THAI NGHÉN.
Một cuộc thí nghiệm được thực hiện
bởi một nhóm nghiên cứu của Inserm chứng tỏ rằng các con chuột
nhỏ chịu tác dụng của các thuốc dưỡng thần (psychotrophes) có
những rối loạn giấc ngủ khi đến tuổi trưởng thành.
6 triệu người Pháp bị bệnh mất ngủ.
Một nhóm các nhà nghiên cứu người Pháp của Inserm vừa chứng tỏ
trong ấn bản tháng 4 của tờ Journal of Neuroscience, phát xuất
từ các công trình trên chuột, rằng sự điều hòa giấc ngủ được
chương trình hóa ngay trong những năm đầu tiên của đời sống.
Thời kỳ này là thiết yếu cho sự vận hành tốt của các chất dẫn
truyền thần kinh não bộ (neurotransmetteurs), đặc biệt là
sérotonine trong sự điều hòa giấc ngủ. Người ta xác nhận rằng
những rối loạn hoạt động của hệ thống này gây nên các rối loạn
giấc ngủ, sự lo âu (anxiété), thậm chí chứng trầm cảm
(dépression).
Thế mà nơi những người bị chứng trầm cảm, phần lớn
các điều trị dựa trên các inhibiteur de la recapture de la
sérotonine. Những thuốc này tác động nhờ làm gia tăng một cách
nhân tạo nồng độ của sérotonine trong khớp thần kinh (synapse)
(nơi tiếp xúc giữa hai neurone). Những điều trị như thế không
phải là không có hậu quả.
Nhóm nghiên cứu của Joelle Adrien,
nữ giám đốc của Đơn vị 667 chuyên về dược liệu học tâm thần
kinh, đã điều trị các con chuột nhỏ với các thuốc chống trầm
cảm, ngay sau khi chúng được sinh ra đời. Sau khi đã theo dõi
trong một thời gian dài, bà đã chứng nhận rằng chế độ điều trị
này đã gây ra sau đó những rối loạn giấc ngủ và giấc ngủ bị phân
đoạn và ít có tính chất bồi sức. Các rối loạn này tương tự với
các rối loạn được quan sát trong chứng trầm cảm (dépression) và
kéo dài suốt cả cuộc đời. Ngược lại, nếu một điều trị như thế
được thực hiện sau tuổi dậy thì, các nhà nghiên cứu đã không
nhận thấy một hậu quả tổn hại nào.
“ Những công trình nghiên cứu này
khiến chúng ta nghĩ rằng 3 tuần lễ đầu tiên của đời sống nơi
chuột tạo nên một thời kỳ quyết định, trong đó tác động của hệ
sérotoninergique lên sự điều hòa của giấc ngủ và những hành vi
xúc cảm ( lo âu và trầm cảm) được thành lập và củng cố ”, nhà
sinh thần kinh học đã phân tích như thế. “ Và một khi hệ thống
này đã được thiết đặt, thì dường như không còn có thể làm biến
đổi nó được nữa ”. Do đó sự chương trình hóa của giấc ngủ được
thực hiện trong một thời kỳ tương đối ngắn của sự phát triển.
Như thế, cho các thuốc trầm cảm,
làm gia tăng một cách nhân tạo nồng độ sérotonine nơi chuột, có
một tác dụng nghịch lý, gây nên trong một thời gian lâu sau đó
những triệu chứng trầm cảm.
Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh về sự
cần thiết đánh giá những hậu quả rất lâu dài của một điều trị
bằng những thuốc chống trầm cảm nơi trẻ em (ít được sử dụng ở
Pháp nhưng nhiều hơn nhiều ở Hoa Kỳ) và ở các phụ nữ có thai.
Các nhà nghiên cứu cho rằng cần
phải cảnh giác các nguy cơ lâu dài của các thuốc chống trầm cảm
này, khả dĩ gây nên các rối loạn giấc ngủ và của sự kiểm soát
xúc cảm
( LE
FIGARO 22/4/2008)
7/ CÁC SIÊU
ÂM SẼ ĐƯỢC TRẮC NGHIỆM TRONG UNG THƯ VÚ.
Để điều
trị ung thư vú mà không cần phải mổ xẻ, các thầy thuốc Bordeaux
cải biên một kỹ thuật đã chứng tỏ hiệu quả trong ung thư tuyến
tiền liệt (cancer de la prostate).
Phá hủy các tế bào ung thư vú nhờ
một chùm siêu âm nhắm vào khối u, đó là thí nghiệm mà Jean
Palussière và nhóm nghiên cứu của Viện Bergonier (Bordeaux) sẽ
thử nghiệm trên một chục bệnh nhân. Kỹ thuật này sẽ nhắm chính
xác vào khối u mà không cần phải mổ xẻ, điều này nhiên hậu có
thể tránh cần đến phẫu thuật cắt bỏ vú trong một vài trường hợp
ung thư ở giai đoạn tiến triển. Nếu kỹ thuật này đã được sử dụng
từ nhiều năm nay để điều trị ung thư tuyến tiền liệt, các nhà
nghiên cứu và các thầy thuốc của CNRS (Centre national de la
recherche scientifique) và của đại học Bordeaux II đã hiệu chính
một chiếc máy được thích ứng một cách đặc biệt với hình thái của
vú. Sự sử dụng máy này cùng với IRM
(imagerie par résonance magnétique) cho phép theo dõi trong hiện
thực mục tiêu của vùng cần phải phá hủy và nhiệt độ của chùm
siêu âm. Nhưng Jean Palussière muốn cảnh giác với mọi hy vọng
còn quá sớm : « Hiện nay, đó chưa phải là một điều trị nhưng là
một thử nghiệm nhằm để đánh giá kỹ thuật mà thôi »
( SCIENCE ET VIE 5/2008)
8/ UNG THƯ VÚ ĐƯỢC PHÁT HIỆN NHỜ MỘT
SỢI TÓC ?
Phải chăng sự phát hiện sớm ung thư vú một ngày nào
đó sẽ được xác lập từ việc khảo sát một sợi tóc ? Cách nay gần
10 năm, nhiều nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, Nhật Bản và Úc, sử dụng kỹ
thuật chụp ảnh bằng bức xạ synchroton, đã gợi ý về một mối
tương quan khả dĩ giữa các bất thường về cấu trúc tóc và sự hiện
diện của một khối u. Những kết quả này đã không được kiểm chứng
và đã gây nên nhiều tranh luận.
Nhưng ngày
nay, với sự tinh luyện kỹ thuật phân tích các hình nhiễu xạ tia
X nơi các sợi tóc, một nhóm nghiên cứu người Úc một lần nữa đã
đưa ra ý tưởng là người ta có thể có một phương tiện chẩn đoán
ung thư vú sớm và đơn giản. Một dấu hiệu dưới dạng vòng phát
xuất từ vỏ sợi tóc được tìm thấy nơi các phụ nữ bị ung thư vú
trong khi dấu hiệu này không hiện diện nơi những người lành
mạnh.
( SCIENCE ET
AVENIR 5/2008).
9/ CHÂM CỨU VÀ KHẢ NĂNG CÓ THAI.
Châm cứu làm gia tăng đáng kể các
khả năng có thai tiến triển nơi các phụ nữ phải nhờ đến thụ thai
nhân tạo (fécondation in vitro). Đó là
kết luận của 7 công trình nghiên cứu được tiến hành trong 4 nước
phương Tây khác nhau. Đó là những thử nghiệm được kiểm tra, so
sánh những buổi châm cứu thật sự với những buổi châm cứu giả,
được thực hiện ngay trước hoặc sau lúc chuyển phôi nơi hơn
1.300 phụ nữ tham gia những chương trình assistance médicale à
la procréation. Số trẻ sống được cũng quan trọng hơn khi thụ
thai nhân tạo được liên kết với châm cứu.
( SCIENCE ET
AVENIR 5/2008)
10/ MỘT ÍT CÀ
PHÊ CHỐNG LẠI BỆNH AZHEIMER.
Những nồng độ cao cholestérol và
những rối loạn của hàng rào huyết- não ( barrière
hémato-encéphalique) có liên quan trong bệnh sinh của bệnh
Alzheimer. Bằng cách dùng các con thỏ được nuôi dưỡng theo một
chế độ ăn uống giàu cholestérol (2%), K.Chen và các cộng sự viên
đã kiểm chứng giả thuyết về một tác dụng bảo vệ của việc uống cà
phê kinh niên (3mg mỗi ngày được đưa vào trong nước uống trong
12 tuần). Các nhà nghiên cứu đã nhận
thấy rằng lượng tương đương với một ly cà phê mỗi ngày bảo vệ
barrière hémato-céphalique chống lại những tổn hại gây nên bởi
một chế độ ăn uống giàu chất mỡ. Thật vậy caféine dường như
phong bế một vài trong những tác dụng làm rối loạn của
cholestérol làm dễ vỡ barrière hémato-encéphalique. Các kết quả
này xác nhận những dữ kiện trước đây chứng tỏ rằng caféine ngăn
ngừa chứng mất trí nhớ trong tuổi già và trong bệnh Alzheimer.
Đối với các tác giả caféine là một chất công hiệu và dễ có và
khả năng làm ổn định barrière hémato-encéphalique làm cho
caféine có một vài trò quan trọng trong điều trị các rối loạn
thần kinh.
( LE JOURNAL
DU MEDECIN 29/4/2008)
BS NGUYỄN VĂN
THỊNH
( 2/5/2008 )
Trở về Trang Chính
|