|
1/ MỘT VACCIN KÌM HÃM TIẾN TRIỂN CỦA BỆNH XƠ
CỨNG RẢI RÁC
Trắc nghiệm trên 30 bệnh nhân, một điều trị
trên cơ sở ADN sẽ làm chậm lại các thương tổn não bộ đặc thù của
bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques).
Cần được xác nhận.
Những kết quả đầy hứa hẹn đầu tiên
nhưng cần phải được xác nhận. Nhà miễn dịch thần kinh học
(neuro-immunologiste) Amit Bar-Or ( Viện thần kinh Montréal ) đã
đánh giá như vậy thực nghiệm đầu tiên của một thuộc chủng chữa
bệnh (vaccin curatif) trên những nạn nhân của chứng xơ cứng rải
rác. Được thực hiện trên một nhóm nhỏ 30 bệnh nhân, thuốc chủng
dường như làm chậm lại nhịp độ xuất hiện các thương tổn mới của
não bộ, chịu trách nhiệm những rối loạn thần kinh nghiêm trọng
( vận động, tâm lý ).Tốt hơn nữa, vaccin chữa bệnh này sẽ làm
giảm phản ứng tự miễn dịch (réaction auto-immune) đặc thù của
bệnh xơ cứng rải rác. Thật vậy, bệnh này là hậu quả của một cuộc
tấn công của hệ thần kinh trung ương bởi hệ miễn dịch của chính
bệnh nhân. Các tế bào miễn dịch tấn công protéine PBM của các
bao myéline ( gaine de myéline ).Các bao myéline này bình thường
có nhiệm vụ bảo đảm sự lưu thông tốt của thông tin giữa các tế
bào thần kinh, bằng cách làm cách điện các trục thần kinh nối
chúng lại với nhau.Thế mà, « vaccin chứa ADN mã hóa cho protéine
PBM, điều này gây nên một hiện tượng dung nạp (phénomène de
tolérance), do đó đưa đến giảm phản ứng tự miễn dịch », Amit
Bar-Or đã giải thích như vậy.Tính đến nay, chỉ có một điểm dường
như được thừa nhận : vaccin thí nghiệm tỏ ra không nguy hiểm và
được dung nạp tốt. Nhưng để xác nhận hiệu quả của vaccin này,
toán nghiên cứu đã đi vào một thử nghiệm nhiều trung tâm (un
essai multicentrique) giai đoạn II, gồm gần 290 bệnh nhân.(
SCIENCE T VIE 11/2007)
2/ GHÉP VÀO TRONG DẠ DÀY, MỘT MÁY TẠO NHỊP
LÀM MẤT CẢM GIÁC ĐÓI.
Làm mất
cảm giác ngon miệng của những người thèm ăn bằng cách gởi một
luồng điện vào trong não bộ của họ. Giáo sư Charles-Henri
Malbert đã tin như vậy! Với nhóm nghiên cứu gồm nhiều nghành
khác nhau của Inra (Rennes), ông vừa đưa đơn văn bằng sáng chế
của một máy tạo nhịp (pacemaker) có thể cắm vào trong dạ dày.
Máy bắt chước các tín hiệu chạy theo dây thần kinh phế vị (nerf
vague) lên đến não bộ và làm nảy sinh cảm giác no nê. Máy tạo
nhịp này được điều khiển qua da (trancutanée) này hiện nay đang
được nghiên cứu trên heo mắc chứng béo phì : con heo mang máy
tạo nhịp giảm lượng thức ăn ăn vào và thay đổi thức ăn được ưa
thích (chọn đồ ăn nhiều sợi hơn là glucides) Hiện nay còn cần
phải biết xem khám phá không có tác dụng phụ này ở đông vật sẽ
có thể áp dụng được trên người hay không
(
SCIENCE ET VIE 11/2007)
3/ CÁC TRẺ EM SINH VÀO MÙA HÈ DỄ BỊ CẬN THỊ HƠN.
Các trẻ em sinh vào mùa hè sẽ có
nguy cơ trở thành cận thị cao hơn so với các trẻ sinh vào mùa
đông ! Thật vậy thời gian có ánh mặt trời lâu hơn khiến nhãn cầu
bị kéo dài ra, bởi một cơ chế hiện nay chưa được biết rõ. “ Vì
nhãn cầu bị kéo dài, các tia sáng hội tụ trước võng mạc
(rétine), do đó sự nhìn xa bị mờ đi ”, Giáo sư Michael Belkin
của Goldschleger Institut ( Tel -Aviv ) sau khi đã thực hiện một
cuộc phân tích trên khoảng 300.000 thiếu niên, đã phát biểu như
vậy.
“ Mặc dầu môi trường có thể đóng một
vai trò nào đó, nhưng dầu sao di truyền vẫn là nguyên nhân chủ
yếu của chứng cận thị, GS José-Alain Sahel của bệnh viện XV-XX
(Paris) đã bình luận như vậy. « Do đó những quan sát trên đây
cần phải được xem xét một cách thận trọng » ( SCIENCE ET VIE
11/2007)
4/ SỰ CÔ ĐƠN ĐÃ CÓ TỪ TRONG MÁU
Phải chăng sự cô đơn (solitude) đã
có một chữ ký phân tử (signature moléculaire) ? Một công trình
độc đáo, được công bố trong tạp chí Genome Biology lần đầu tiên
chứng tỏ rằng một vài loại gène được biểu hiện một cách khác
nhau nơi những người cô độc (solitaire) và nơi những người dễ
giao tiếp (sociable) hơn. Hai nhóm nghiên cứu của Hoa Kỳ, một
nhóm của Los Angeles và nhóm kia của Chicago, đã nghiên cứu tỉ
mĩ 200 gène được biểu hiện bởi các bạch cầu của 2 nhóm sinh
viên. Nhóm đầu tiên bao gồm những người độc thân tự bảo là cô
đơn trong khi nhóm thứ hai gồm những người sống lứa đôi và tự
cho là dễ gần gũi hơn. Các nhà khoa học đã nhận thấy rằng, nơi
những người cô đơn cô độc, 78 trong số 209 gène được khảo sát là
quá được biểu hiện (surexprimé). Can dự vào trong việc hoạt hóa
hệ miễn dịch và những phản ứng viêm, các gène này đã chế tạo
nhiều protéines hơn bình thường.
Mặt khác, 131 gène còn lại, can thiệp
vào trong đáp ứng chống virus, có một hoạt tính dưới mức trung
bình. Nhưng phải chăng chính sự cô đơn làm biến đổi sinh lý của
con người hay chính sự di truyền ảnh hưởng lên tính dễ gần gũi
của anh ta ? Công trình nghiên cứu này đã được tiến hành trên
một số lượng người tham dự quá ít ỏi (14 người) nên không thể
đưa ra kết luận được. Tuy nhiên các tác giả hy vọng rằng công
trình nghiên cứu này nhiên hậu sẽ hiệu chính các chỉ dấu sinh
học (biomarqueur) để nghiên cứu những hậu quả của sự cô đơn lên
sức khỏe.Và cho phép làm sáng tỏ lý do tại sao những người cô
đơn cô độc có một tỷ lệ tử vong cao hơn. ( SCIENCES ET AVENIR
11/2007)
5/ MỘT ĐIỀU TRỊ MỚI CHỐNG BỆNH SIDA
Maraviroc tác dụng lên HIV bằng
cách ngăn cản virus đi vào bên trong tế bào.
Một tin vui và một tin buồn trong
cuộc chiến chống lại bệnh Sida.Tin vui đó là Cơ quan dược phẩm
châu Âu vừa bật đèn xanh cho lưu hành một thuốc mới chống bệnh
Sida.Thuốc này là đại diện đầu tiên của một lớp thuốc mới (và là
thuốc thứ năm), được gọi là thuốc đối kháng CCR5 hay còn được
gọi là thuốc cản lối vào (inhibitrice d’entrée). Được cho bằng
đường miệng, maraviroc (Celsentri) của Hãng bào chế Pfitzer được
dành cho các bệnh nhân đã bị thất bại trong điều trị. Cơ chế tác
dụng của thuốc hoàn toàn độc đáo : trong khi các thuốc chống
virus của 4 loại thuốc điều trị kia tấn công virus một khi virus
này đã vào náu mình trong tâm của tế bào, thì maraviroc có tác
dụng ngăn cản virus đi vào bên trong tế bào bằng cách tác dụng
lên cửa vào chính.Thật vậy người ta đã xác nhận rằng ở một giai
đoạn hơi tiến triển của nhiễm trùng, virus thích sử dụng thụ thể
CCR5 để tấn công các tế bào lympho CD4 và các đại thực bào.
Nhưng phép điều trị này có giới hạn của nó : tùy theo tính hướng
(tropisme), virus cũng có thể chọn một lối vào khác, lối vào
CXRC4. Do đó các bệnh nhân cần được trắc nghiện trước để biết họ
là CCR5+ hay không. Nhưng hiện thời xét nghiệm được sử dụng hiện
không có ở châu Âu. Các mẫu nghiệm phải được gởi qua Californie,
cần thời hạn từ 3 đến 4 tuần.
Tin xấu là việc đình chỉ một công
trình thử nghiệm tiêm chủng lâm sàng rộng lớn được tiến hành bởi
phòng bào chế Merck trên 3000 người tình nguyện lành mạnh. Những
kiểm tra của một cơ quan độc lập đã phát hiện rằng phép điều trị
với V520 đã không bảo vệ bệnh nhân chống lại nhiễm trùng HIV .(
SCIENCES ET AVENIR 11/20007)
6/ TÌNH YÊU CÓ MANG LẠI SỰ THÔNG MINH ?
Khi tôi yêu chàng (hay nàng), cái
nền sinh học của trí nhớ tôi được tăng lên 30%.
Trong cuộc sống, có hai thời điểm
khác nhau, trong đó tình yêu mang lại sự thông minh.Trước hết
khi chúng ta còn là bé thơ, trước khi biết nói, và sau đó lúc
chúng ta ở tuổi tình dục. Lúc còn bé thơ , nếu quanh chúng ta
không có một lớp vỏ bọc tình cảm ( những người sờ mó, nói , tắm
rửa, vuốt ve…) thì não bộ của chúng ta sẽ bị teo đi và tất cả
những phát triển sinh học và tâm lý của chúng ta sẽ bị dừng lại.
Các kỹ thuật chụp ảnh thần kinh ( neuro-imagerie ) hiện đại cho
phép đo lường cả sự tan não ( fonte cérébrale ) gây nên bởi sự
cô lập về mặt giác quan ( isolement sensoriel ) và sự thiếu tình
cảm.
Sự teo các
thùy trước trán xảy ra làm ngăn cản, biến hóa hoặc ngay cả hủy
bỏ cái nền thần kinh (socle neurologique) cho phép có được khả
năng dự đoán ( anticipation ). Một vùng khác được gọi là hệ
limbique cũng bị teo đi. Hệ này là cái nền thần kinh của trí nhớ
và các cảm xúc . Năm 1985, khi tôi được mời đến Roumanie để gặp
các trẻ em bị bỏ rơi dưới thời Ceaucescu, mọi người đã nói với
tôi rằng đó là những trẻ bị bệnh não (encéphalopathe) hoặc bệnh
tự kỷ ( autiste ).Vì tôi là nhà tập tính học (ethologue) nên
tôi biết được rằng một sự biến đổi về mặt giác quan có thể gây
nên một sự teo lại của vùng tương ứng của não bộ. Khi đó tất cả
các scanner được thực hiện đã cho thấy các thùy trán, limbique
bị teo lại. Do đó một trẻ thiếu tình cảm không có khả năng cảm
thấy trước cũng như không thể sử dụng trí nhớ của mình vì lẽ cái
nền thân kinh đã không được kích thích. Các trẻ em roumain này
không thể nói thành câu, không thể tư duy, và ngay cả không thể
tự biểu thị thời gian… Trước khi biết nói , món ăn tình cảm là
một kích thích não bộ các nền móng cho phép sự biểu thị thời
gian (nghĩa là các câu chuyện), toán học, hình học…
Thời điểm thứ hai là lúc chúng ta
đến tuổi của khát vọng tình dục. Lúc đó chúng ta sẽ học yêu theo
một cách mới, mạnh mẽ, buộc phải từ giã cách yêu đầu tiên
(cha,mẹ..). Dục tình buộc chúng ta thử làm một cuộc phiêu lưu
thăm dò kẻ khác. Chúng ta buộc phải có được sự thông minh của
một thế giới khác, phát triển sự tha giác (empathie) của chúng
ta. Thế mà, khi tôi yêu, điều gì sẽ xảy ra trên bình diện sinh
học ? Luôn luôn thức tỉnh, tôi chỉ nghĩ đến chàng (hoặc nàng).Và
khi tôi ngủ, độ dài của các giai đoạn của giấc ngủ nghịch lý
(sommeil paradoxal ) của tôi sẽ gia tăng 30%.
Ngoài ra, sự việc yêu ( một người phụ nữ, một người đàn
ông, một đất nước khác, một văn hóa khác, một ngôn ngữ khác, một
cuốn sách ) thúc giục tôi thực hiện cuộc thăm dò. Tôi phải học
cái ngôn ngữ đó, cái thế giới tinh thần của người đàn bà ( người
đàn ông) mà tôi mơ tưởng … như thế về phương diện sinh học, tôi
chuẩn bị để học hỏi ; về phương diện tâm lý cũng vậy.
Và ngay cả ở lứa tuổi rất cao (120
tuổi), yêu thương vẫn là một kích thích chủ yếu của não bộ chúng
ta và của thế giới tâm linh thầm kín của chúng ta ! Mặc dầu cách
yêu thương một lần nữa đã thay đổi. Vậy thì, vâng, tình yêu đem
lại sự thông minh ở các giai đoạn của sự phát triển của con
người. (Boris Cyrulnik,
Neuropsychiatre, Université de Toulon). ( SCIENCES ET AVENIR
11/20007)
7/ CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ TIẾN TRIỂN NHANH NƠI NHỮNG NGƯỜI CÓ HỌC
VẤN
Như một con ma hút máu, chứng sa sút
trí tuệ tuồng như được nuôi sống bởi vốn kiến thức của nạn nhân.
Bệnh nhân càng có học vấn cao, bệnh càng tiến triển nhanh. Đó là
điều được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu được công bố
trên báo y học Neurology.
Các nhà nghiên cứu đã theo dõi trong
6 năm : 117 người đã phát triển chứng sa sút trí tuệ (démence)
trên tổng số ban đầu 448 người tình nguyện. Những người tham dự
thuộc nhiều mức độ học vấn khác nhau : từ dưới 3 năm ở trường
tiểu học đến những người tốt nghiệp cấp 3.
Kết quả cho thấy rằng bệnh sa sút trí
tuệ xuất hiện muộn hơn nơi những người có trình độ học vấn cao.
Nghiên cứu chứng tỏ rằng đối với mỗi năm đào tạo bổ sung, sự suy
thoái trí nhớ được chậm lại khoảng 2 tháng rưỡi.
Nhưng sự học vấn không phải là cái
khiên che chở lâu dài. Một khi đạt đến giai đoạn quyết định,
chứng sa sút trí tuệ, như thể để gỡ lại sự chậm trễ của mình, sẽ
tiến triển nhanh hơn nơi những người « có văn bằng ». Khi đó
nhịp độ mất trí nhớ sẽ là 4% nhanh hơn cho mỗi năm học bổ sung.
Như vậy một người đã theo 16 năm
đào tạo ( mà chứng sa sút trí tuệ được chẩn đoán lúc 85 tuổi )
đã bắt đầu giai đoạn gia tốc mất trí nhớ ở tuổi 81.Trong khi đó
một người được chẩn đoán ở cùng tuổi nhưng chỉ có 4 năm học vấn
sẽ đi vào trong một giai đoạn sa sút trí tuệ ở tuổi 79, một cách
ít « ngấu nghiến » hơn. Tiến triển của bệnh ở người này sẽ 50%
chậm hơn so với người có học vấn.( LE
SOIR 24/10/2007 )
8/ RỤNG RĂNG VÀ CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ
Stein (Hoa Kỳ) và các cộng sự đã cố
gắng tìm biết xem có một mối liên hệ giữa các tiền sử về các vấn
đề ở miệng và sự phát triển của chứng sa sút trí tuệ. Các nhà
nghiên cứu đã dựa trên các dữ kiện liên quan đến 144 nữ tu sĩ
tuổi từ 75 đến 98 đã tham dự vào công trình nghiên cứu Nun
Study, một công trình nghiên cứu dọc về sự lão hóa và bệnh
Alzheimer. Các tác giả đã phân tích các dữ kiện y học liên quan
đến sự mọc răng và đã đặt chúng trong mối tương quan với các kết
quả trắc nghiệm chức năng não bộ được thu thập trong 12 năm. Có
những dữ kiện cơ thể bệnh lý của 118 người tham dự chết trước
khi chấm dứt công trình nghiên cứu. Các tác giả đã xác nhận rằng
các nữ tu sĩ không có các dấu chứng của chứng sa sút trí tuệ lúc
bắt đầu công trình nghiên cứu nhưng đã rụng nhiều răng nhất có
nguy cơ quan trọng nhất phát triển chứng sa sút trí tuệ về sau
này. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 30/10/2007 )
9/ THỦ THUẬT CHỌC MÀNG ỐI ĐỂ KÍCH THÍCH CHUYỂN DẠ BỊ XÉT LẠI
Một duyệt
xét quy mô các công trình nghiên cứu gợi ý rằng một thủ thuật
thường được áp dụng trong lúc chuyển dạ, chọc màng ối
(amniotomy) nhân tạo, là không có hiệu quả trong việc làm giảm
thời gian chuyển dạ hoặc đảm bảo sức khỏe của trẻ sơ sinh.
Thủ thuật
chọc màng ối (amniotomy) nhằm làm vỡ bọc ối (poche des eaux ) để
xúc tiến các co bóp của tử cung.Thủ thuật này đã được sử dụng từ
250 năm nay mặc dầu tính phổ biến đã biến thiên thay đổi
Các nhà
nghiên cứu đã xem lại 14 thử nghiệm có kiểm tra nơi khoảng 5000
phụ nữ và nhận thấy ít có bằng chứng về một lợi ích nào đó của
thủ thuật này.
Thủ thuật chọc màng ối đã không thu ngắn thời gian
chuyển dạ, không làm giảm nhu cầu dùng thuốc kích thích chuyển
dạ oxytocin, không làm giảm cơn đau , không làm giảm số lần sinh
với dụng cụ hỗ trợ hoặc dẫn đến tử vong hoặc các thương tổn
nghiêm trọng nơi sản phụ.
Báo cáo được công bố ngày 17 tháng
10 trong Cochrane Reviews, đã nhận thấy rằng thủ thuật này có
thể liên kết với một sự gia tăng số lần phẫu thuật césarienne và
một giảm nguy cơ trẻ sơ sinh có trị số thấp trên thang Apgar (
thang Apgar dùng để đánh giá và cho điểm số tình trạng của thai
nhi lúc sinh ). Nhưng cả hai điều tìm thấy này không có ý nghĩa
về mặt thống kê.
« Chúng tôi khuyên các phụ nữ với chuyển dạ tiến triển
bình thường hãy yêu cầu đừng chọc màng ối để kích thích chuyển
dạ », tác giả lãnh đạo công trình, BS Rebecca Smyth, một cộng
tác viên nghiên cứu của Đaị Học Liverpool đã nói như vậy. «
Không có bằng cớ cho rằng để màng ối nguyên vẹn sẽ gây nên vấn
đề và cũng không có đủ chứng cớ để gợi ý một lợi ích nào đó cho
chính bản thân các sản phụ hoặc trẻ sơ sinh do việc chọc màng ối
để kích thích chuyển dạ ».( INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE
1/11/2007 )
10/ VIỆC THAY ĐỔI TƯ THẾ CÓ THỂ LÀ GIẢM CƠN ĐAU DO CHUYẾN DẠ
Các sản phụ bò trên hai tay và hai
đầu gối trong lúc chuyển dạ có thể có khả năng làm giảm cơn đau
lúc sinh, các nhà nghiên cứu đã nói như vậy.
Các nữ hộ sinh ở Hoa Kỳ thường
khuyên các sản phụ giữ tư thế này lúc chuyển dạ với niềm tin
rằng điều này sẽ làm cho sự sinh đẻ ít đau đớn hơn ( bằng cách
giúp thai nhi chuyển vào vị thế tốt nhất) và nhanh hơn.
Các nhà nghiên cứu đã viết trong số
tháng 10 của The Cochrane Library rằng đã có các bằng cớ tốt cho
đề nghị thứ nhất (chuyển dạ ít đau đớn hơn) nhưng không có chứng
cớ cho đề nghị thứ hai (chuyển dạ nhanh hơn).
Công trình nghiên cứu đã không tìm
thấy điều hổ trợ cho lời khuyên nói rằng vào cuối thời kỳ thai
nghén, các phụ nữ bò trên hai tay và hai đầu gối trong 10 phút,
hai lần mỗi ngày sẽ giúp thai nhi đạt được vị thế tốt trong tử
cung .
“ Điều này không có ý gợi ý rằng các
sản phụ không nên giữ tư thế bò trên hai tay và hai đầu gối mặc
dầu họ thấy thoải mái ”, các nhà nghiên cứu đã viết như vậy.
Công trình căn cứ trên một duyệt xét
nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của tư thế của bà mẹ lên việc
sinh đẻ. Các nhà nghiên cứu chú ý vào 3 nghiên cứu, hai nhằm
vào những phụ nữ đang chuyển dạ và một nhằm vào các phụ nữ cuối
kỳ thai nghén.Tổng cộng có hơn 2700 phụ nữ đã tham gia vào các
công trình nghiên cứu này.
Tư thế tốt nhất cho một thai nhi trong lúc sinh là đầu
hướng xuống dưới, với phần sau của đầu hướng về phía trước. Khi
phần sau của đầu hướng về phía bên hay phía lưng của bà mẹ, thì
cuộc sinh đẻ có thể bị kéo dài hơn hoặc đau đớn hơn.
Công trình
nghiên cứu đã nhận thấy rằng các phụ nữ bò trên hai tay và hai
đầu gối trong lúc sinh cảm thấy thoải mái hơn. “ Việc giữ tư thế
này trong lúc chuyển dạ được liên kết với sự giảm đáng kể triệu
chứng đau lưng dai dẳng ”, các nhà nghiên cứu đã viết như vậy.
Mặc dầu trong một nghiên cứu đã có
một bằng cớ nào đó cho thấy rằng tư thế bò đã giúp thai nhi
chuyển về vị trí đúng đắn, nhưng còn cần nghiên cứu thêm nữa,
các nhà nghiên cứu đã phát biểu như vậy. ( INTERNATIONAL HERALD
TRIBUNE 18/10/2007)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
( 3/11/2007)
Trở về Trang Chính
|