Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

E-Mail: bsnguyenvanthinh@khoahoc.net

08 tháng 11 năm 2007

1/ MỘT VACCIN KÌM HÃM TIẾN TRIỂN CỦA BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC

Trắc nghiệm trên 30 bệnh nhân, một điều trị trên cơ sở ADN sẽ làm chậm lại các thương tổn não bộ đặc thù của bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques). Cần được xác nhận.

         Những kết quả đầy hứa hẹn đầu tiên nhưng cần phải được xác nhận. Nhà miễn dịch thần kinh học (neuro-immunologiste) Amit Bar-Or ( Viện thần kinh Montréal ) đã đánh giá như vậy thực nghiệm đầu tiên của một thuộc chủng chữa bệnh (vaccin curatif) trên những nạn nhân của chứng xơ cứng rải rác. Được thực hiện trên một nhóm nhỏ 30 bệnh nhân, thuốc chủng dường như làm chậm lại nhịp độ xuất hiện các thương tổn mới của não bộ, chịu trách nhiệm những rối loạn thần kinh nghiêm trọng  ( vận động, tâm lý ).Tốt hơn nữa, vaccin chữa bệnh này sẽ làm giảm phản ứng tự miễn dịch (réaction auto-immune) đặc thù của bệnh xơ cứng rải rác. Thật vậy, bệnh này là hậu quả của một cuộc tấn công của hệ thần kinh trung ương bởi hệ miễn dịch của chính bệnh nhân. Các tế bào miễn dịch tấn công protéine PBM của các bao myéline ( gaine de myéline ).Các bao myéline này bình thường có nhiệm vụ bảo đảm sự lưu thông  tốt của thông tin giữa các tế bào thần kinh, bằng cách làm  cách điện các trục thần kinh nối chúng lại với nhau.Thế mà, « vaccin chứa ADN mã hóa cho protéine PBM, điều này gây nên một hiện tượng dung nạp (phénomène de tolérance), do đó đưa đến giảm phản ứng tự miễn dịch », Amit Bar-Or đã giải thích như vậy.Tính đến nay, chỉ có một điểm dường như được thừa nhận : vaccin thí nghiệm tỏ ra không nguy hiểm và được dung nạp tốt. Nhưng để xác nhận hiệu quả của vaccin này, toán nghiên cứu đã đi vào một thử nghiệm nhiều trung tâm (un essai multicentrique) giai đoạn II, gồm gần 290 bệnh nhân.( SCIENCE T VIE 11/2007)

 

2/ GHÉP VÀO TRONG DẠ DÀY, MỘT MÁY TẠO NHỊP LÀM MẤT CẢM GIÁC ĐÓI.

          Làm mất cảm giác ngon miệng của những người thèm ăn bằng cách gởi một luồng điện vào trong não bộ của họ. Giáo sư Charles-Henri Malbert đã tin như vậy! Với nhóm nghiên cứu gồm nhiều nghành khác nhau của Inra (Rennes), ông vừa đưa đơn văn bằng sáng chế của một máy tạo nhịp (pacemaker) có thể cắm vào trong dạ dày. Máy bắt chước các tín hiệu chạy theo dây thần kinh phế vị (nerf vague) lên đến não bộ và làm nảy sinh cảm giác no nê. Máy tạo nhịp này được điều khiển qua da (trancutanée) này hiện nay đang được nghiên cứu trên heo mắc chứng béo phì : con heo mang máy tạo nhịp giảm lượng thức ăn ăn vào và thay đổi thức ăn được ưa thích (chọn đồ ăn nhiều sợi hơn là glucides) Hiện nay còn cần phải biết xem khám phá không có tác dụng phụ này ở đông vật sẽ có thể áp dụng được trên người hay không  ( SCIENCE ET VIE 11/2007)

 

3/ CÁC TRẺ EM SINH VÀO MÙA HÈ DỄ BỊ CẬN THỊ HƠN.

          Các trẻ em sinh vào mùa hè sẽ có nguy cơ trở thành cận thị cao hơn so với các trẻ sinh vào mùa đông ! Thật vậy thời gian có ánh mặt trời lâu hơn khiến nhãn cầu bị kéo dài ra, bởi một cơ chế hiện nay chưa được biết rõ. “ Vì nhãn cầu bị kéo dài, các tia sáng hội tụ trước võng mạc (rétine), do đó sự nhìn xa bị mờ đi ”, Giáo sư Michael Belkin của Goldschleger Institut ( Tel -Aviv ) sau khi đã thực hiện một cuộc phân tích trên khoảng 300.000 thiếu niên, đã phát biểu như vậy.

        “ Mặc dầu môi trường có thể đóng một vai trò nào đó, nhưng dầu sao di truyền vẫn là nguyên nhân chủ yếu của chứng cận thị, GS José-Alain Sahel của bệnh viện XV-XX (Paris) đã bình luận như vậy.  « Do đó những quan sát trên đây cần phải được xem xét một cách thận trọng » ( SCIENCE ET VIE 11/2007)

 

4/ SỰ CÔ ĐƠN ĐÃ CÓ TỪ TRONG MÁU

          Phải chăng sự cô đơn (solitude) đã có một chữ ký phân tử (signature moléculaire)  ? Một công trình độc đáo, được công bố trong tạp chí Genome Biology lần đầu tiên chứng tỏ rằng một vài loại gène được biểu hiện một cách khác nhau nơi những người cô độc (solitaire) và nơi những người dễ giao tiếp (sociable) hơn. Hai nhóm nghiên cứu của Hoa Kỳ, một nhóm của Los Angeles và nhóm kia của Chicago, đã nghiên cứu tỉ mĩ 200 gène được biểu hiện bởi các bạch cầu của 2 nhóm sinh viên. Nhóm đầu tiên bao gồm những người độc thân tự bảo là cô đơn trong khi nhóm thứ hai gồm những người sống lứa đôi và tự cho là dễ gần gũi hơn. Các nhà khoa học đã nhận thấy rằng, nơi những người cô đơn cô độc, 78 trong số 209 gène được khảo sát là quá được biểu hiện (surexprimé). Can dự vào trong việc hoạt hóa hệ miễn dịch và những phản ứng viêm, các gène này đã chế tạo nhiều protéines hơn bình thường.

        Mặt khác, 131 gène còn lại, can thiệp vào trong đáp ứng chống virus, có một hoạt tính dưới mức trung bình. Nhưng phải chăng chính sự cô đơn làm biến đổi sinh lý của con người hay chính sự di truyền ảnh hưởng lên tính dễ gần gũi của anh ta ? Công trình nghiên cứu này đã được tiến hành trên một số lượng người tham dự quá ít ỏi (14 người) nên không thể đưa ra kết luận được. Tuy nhiên các tác giả hy vọng rằng công trình nghiên cứu này nhiên hậu sẽ hiệu chính các chỉ dấu sinh học (biomarqueur) để nghiên cứu những hậu quả của sự cô đơn lên sức khỏe.Và cho phép làm sáng tỏ lý do tại sao những người cô đơn cô độc có một tỷ lệ tử vong cao hơn. ( SCIENCES ET AVENIR 11/2007)

 

5/ MỘT ĐIỀU TRỊ MỚI CHỐNG BỆNH SIDA

          Maraviroc tác dụng lên HIV bằng cách ngăn cản virus đi vào bên trong tế bào.

           Một tin vui và một tin buồn trong cuộc chiến chống lại bệnh Sida.Tin vui đó là Cơ quan dược phẩm châu Âu vừa bật đèn xanh cho lưu hành một thuốc mới chống bệnh Sida.Thuốc này là đại diện đầu tiên của một lớp thuốc mới (và là thuốc thứ năm), được gọi là thuốc đối kháng CCR5 hay còn được gọi là thuốc cản lối vào (inhibitrice d’entrée). Được cho bằng đường miệng, maraviroc (Celsentri) của Hãng bào chế Pfitzer được dành cho các bệnh nhân đã bị thất bại trong điều trị. Cơ chế tác dụng của thuốc hoàn toàn độc đáo : trong khi các thuốc chống virus của 4 loại thuốc điều trị kia tấn công virus một khi virus này đã vào náu mình trong tâm của tế bào, thì maraviroc có tác dụng ngăn cản virus đi vào bên trong tế bào bằng cách tác dụng lên cửa vào chính.Thật vậy người ta đã xác nhận rằng ở một giai đoạn hơi tiến triển của nhiễm trùng, virus thích sử dụng thụ thể CCR5 để tấn công các tế bào lympho CD4 và các đại thực bào. Nhưng phép điều trị này có giới hạn của nó : tùy theo tính hướng (tropisme), virus cũng có thể chọn một lối vào khác, lối vào CXRC4. Do đó các bệnh nhân cần được trắc nghiện trước để biết họ là CCR5+ hay không. Nhưng hiện thời xét nghiệm được sử dụng hiện không có ở châu Âu. Các mẫu nghiệm phải được gởi qua Californie, cần thời hạn từ 3 đến 4 tuần.

         Tin xấu là việc đình chỉ một công trình thử nghiệm tiêm chủng lâm sàng rộng lớn được tiến hành bởi phòng bào chế Merck trên 3000 người tình nguyện lành mạnh. Những kiểm tra của một cơ quan độc lập đã phát hiện rằng phép điều trị với V520 đã không bảo vệ bệnh nhân chống lại nhiễm trùng HIV .( SCIENCES ET AVENIR 11/20007)

 

6/ TÌNH YÊU CÓ MANG LẠI SỰ THÔNG MINH ?

         Khi tôi yêu chàng (hay nàng), cái nền sinh học của trí nhớ tôi được tăng lên 30%.

        Trong cuộc sống, có hai thời điểm khác nhau, trong đó tình yêu mang lại sự thông minh.Trước hết khi chúng ta còn là bé thơ, trước khi biết nói, và sau đó lúc chúng ta ở tuổi tình dục. Lúc còn bé thơ , nếu quanh chúng ta không có một lớp vỏ bọc tình cảm ( những người sờ mó, nói , tắm rửa, vuốt ve…) thì não bộ của chúng ta sẽ bị teo đi và tất cả những phát triển sinh học và tâm lý của chúng ta sẽ bị dừng lại. Các kỹ thuật chụp ảnh thần kinh ( neuro-imagerie ) hiện đại cho phép đo lường cả sự tan não ( fonte cérébrale ) gây nên bởi sự cô lập về mặt giác quan ( isolement sensoriel ) và sự thiếu tình cảm.

        Sự teo các thùy trước trán xảy ra làm ngăn cản, biến hóa hoặc ngay cả hủy bỏ cái nền thần kinh (socle neurologique) cho phép có được khả năng dự đoán ( anticipation ). Một vùng khác được gọi là hệ limbique cũng bị teo đi. Hệ này là cái nền thần kinh của trí nhớ và các cảm xúc . Năm 1985, khi tôi được mời đến Roumanie để gặp các trẻ em bị bỏ rơi dưới thời Ceaucescu, mọi người đã nói với tôi rằng đó là những trẻ bị bệnh não (encéphalopathe) hoặc bệnh tự kỷ ( autiste ).Vì tôi là nhà  tập tính học (ethologue) nên tôi biết được rằng một sự biến đổi về mặt giác quan có thể gây nên một sự teo lại của vùng tương ứng của não bộ. Khi đó tất cả các scanner được thực hiện đã cho thấy các thùy trán, limbique bị teo lại. Do đó một trẻ thiếu tình cảm không có khả năng cảm thấy trước cũng như không thể sử dụng trí nhớ của mình vì lẽ cái nền thân kinh đã không được kích thích. Các trẻ em roumain này không thể nói thành câu, không thể tư duy, và ngay cả không thể tự  biểu thị thời gian… Trước khi biết nói , món ăn tình cảm là một kích thích não bộ  các nền móng cho phép sự biểu thị thời gian (nghĩa là các câu chuyện), toán học, hình học…

         Thời điểm thứ hai là lúc chúng ta đến tuổi của khát vọng tình dục. Lúc đó chúng ta sẽ học yêu theo một cách mới, mạnh mẽ, buộc phải từ giã cách yêu đầu tiên (cha,mẹ..). Dục tình buộc chúng ta thử làm một cuộc phiêu lưu thăm dò kẻ khác. Chúng ta buộc phải có được sự thông minh của một thế giới khác, phát triển sự tha giác (empathie) của chúng ta. Thế mà, khi tôi yêu, điều gì sẽ xảy ra trên bình diện sinh học ? Luôn luôn thức tỉnh, tôi chỉ nghĩ đến chàng (hoặc nàng).Và khi tôi ngủ, độ dài của các giai đoạn của giấc ngủ nghịch lý (sommeil paradoxal ) của tôi sẽ gia tăng 30%.
        Ngoài ra, sự việc yêu ( một người phụ nữ, một người đàn ông, một đất nước khác, một văn hóa khác, một ngôn ngữ khác, một cuốn sách ) thúc giục tôi thực hiện cuộc thăm dò. Tôi phải học cái ngôn ngữ đó, cái thế giới tinh thần của người đàn bà ( người đàn ông) mà tôi mơ tưởng … như thế về phương diện sinh học, tôi chuẩn bị để học hỏi ;  về phương diện tâm lý cũng vậy.

       Và ngay cả ở lứa tuổi rất cao (120 tuổi), yêu thương vẫn là một kích thích chủ yếu của não bộ chúng ta và của thế giới tâm linh thầm kín của chúng ta ! Mặc dầu cách yêu thương một lần nữa đã thay đổi. Vậy thì, vâng, tình yêu đem lại sự thông minh ở các giai đoạn của sự phát triển của con người.  (Boris Cyrulnik, Neuropsychiatre, Université de Toulon). ( SCIENCES ET AVENIR 11/20007)

 

7/ CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ TIẾN TRIỂN NHANH NƠI NHỮNG NGƯỜI CÓ HỌC VẤN

         Như một con ma hút máu, chứng sa sút trí tuệ tuồng như được nuôi sống bởi vốn kiến thức của nạn nhân. Bệnh nhân càng có học vấn cao, bệnh càng tiến triển nhanh. Đó là điều được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu được công bố trên báo y học Neurology.

        Các nhà nghiên cứu đã theo dõi trong 6 năm :  117 người đã phát triển chứng sa sút trí tuệ (démence) trên tổng số ban đầu  448 người tình nguyện. Những người tham dự thuộc nhiều mức độ học vấn khác nhau : từ dưới 3 năm ở trường tiểu học đến những người tốt nghiệp cấp 3.

        Kết quả cho thấy rằng bệnh sa sút trí tuệ xuất hiện muộn hơn nơi những người có trình độ học vấn cao. Nghiên cứu chứng tỏ rằng đối với mỗi năm đào tạo bổ sung, sự suy thoái trí nhớ được chậm lại khoảng 2 tháng rưỡi.

        Nhưng sự học vấn không phải là cái khiên che chở lâu dài. Một khi đạt đến giai đoạn quyết định, chứng sa sút trí tuệ, như thể để gỡ lại sự chậm trễ của mình, sẽ tiến triển nhanh hơn nơi những người « có văn bằng ». Khi đó nhịp độ mất trí nhớ sẽ là 4% nhanh hơn cho mỗi năm học bổ sung.

          Như vậy một người đã theo 16 năm đào tạo ( mà chứng sa sút trí tuệ được chẩn đoán lúc 85 tuổi ) đã bắt đầu giai đoạn gia tốc mất trí nhớ ở tuổi 81.Trong khi đó một người được chẩn đoán ở cùng tuổi nhưng chỉ có 4 năm học vấn sẽ đi vào trong một giai đoạn sa sút trí tuệ ở tuổi 79, một cách ít « ngấu nghiến » hơn. Tiến triển của bệnh ở người này sẽ 50% chậm hơn so với người có học vấn.( LE SOIR 24/10/2007 )

 

8/ RỤNG RĂNG VÀ CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ

         Stein (Hoa Kỳ) và các cộng sự đã cố gắng tìm biết xem có một mối liên hệ giữa các tiền sử về các vấn đề ở miệng và sự phát triển của chứng sa sút trí tuệ. Các nhà nghiên cứu đã dựa trên các dữ kiện liên quan đến 144 nữ tu sĩ tuổi từ 75 đến 98 đã tham dự vào công trình nghiên cứu Nun Study, một công trình nghiên cứu dọc về sự lão hóa và bệnh Alzheimer. Các tác giả đã phân tích các dữ kiện y học liên quan đến sự mọc răng và đã đặt chúng trong mối tương quan với các kết quả trắc nghiệm chức năng não bộ được thu thập trong 12 năm. Có những dữ kiện cơ thể bệnh lý của 118 người tham dự chết trước khi chấm dứt công trình nghiên cứu. Các tác giả đã xác nhận rằng các nữ tu sĩ không có các dấu chứng của chứng sa sút trí tuệ lúc bắt đầu công trình nghiên cứu nhưng đã rụng nhiều răng nhất có nguy cơ quan trọng nhất phát triển chứng sa sút trí tuệ về sau này. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 30/10/2007 )

 

9/ THỦ THUẬT CHỌC MÀNG ỐI ĐỂ KÍCH THÍCH CHUYỂN DẠ BỊ XÉT LẠI

          Một duyệt xét quy mô các công trình nghiên cứu gợi ý rằng một thủ thuật thường được áp dụng trong lúc chuyển dạ, chọc màng ối (amniotomy) nhân tạo, là không có hiệu quả trong việc làm giảm thời gian chuyển dạ hoặc đảm bảo sức khỏe của trẻ sơ sinh.

         Thủ thuật chọc màng ối (amniotomy) nhằm làm vỡ bọc ối (poche des eaux ) để xúc tiến các co bóp của tử cung.Thủ thuật này đã được sử dụng từ 250 năm nay mặc dầu tính phổ biến đã biến thiên thay đổi

         Các nhà nghiên cứu đã xem lại 14 thử nghiệm có kiểm tra nơi khoảng 5000 phụ nữ và nhận thấy ít có bằng chứng về một lợi ích nào đó của thủ thuật  này.
         Thủ thuật chọc màng ối đã không thu ngắn thời gian chuyển dạ, không làm giảm nhu cầu dùng thuốc kích thích chuyển dạ oxytocin, không làm giảm cơn đau , không làm giảm số lần sinh với dụng cụ hỗ trợ hoặc dẫn đến tử vong hoặc các thương tổn nghiêm trọng nơi sản phụ.

         Báo cáo được công bố ngày 17 tháng 10 trong Cochrane Reviews, đã nhận thấy rằng thủ thuật này có thể liên kết với một sự gia tăng số lần phẫu thuật césarienne và một giảm nguy cơ trẻ sơ sinh có trị số thấp trên thang Apgar ( thang Apgar dùng để đánh giá và cho điểm số tình trạng của thai nhi lúc sinh ). Nhưng cả hai điều tìm thấy này không có ý nghĩa về mặt thống kê.
        « Chúng tôi khuyên các phụ nữ với chuyển dạ tiến triển bình thường hãy yêu cầu đừng chọc màng ối để kích thích chuyển dạ », tác giả lãnh đạo công trình, BS Rebecca Smyth, một cộng tác viên nghiên cứu của Đaị Học Liverpool đã nói như vậy. « Không có bằng cớ cho rằng để màng ối nguyên vẹn sẽ gây nên vấn đề và cũng không có đủ chứng cớ để gợi ý một lợi ích nào đó cho chính bản thân các sản phụ hoặc trẻ sơ sinh do việc chọc màng ối để kích thích chuyển dạ ».( INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 1/11/2007 )

 

10/ VIỆC THAY ĐỔI TƯ THẾ CÓ THỂ LÀ GIẢM CƠN ĐAU DO CHUYẾN DẠ

          Các sản phụ bò trên hai tay và hai đầu gối trong lúc chuyển dạ có thể có khả năng làm giảm cơn đau lúc sinh, các nhà nghiên cứu đã nói như vậy.

          Các nữ hộ sinh ở Hoa Kỳ thường khuyên các sản phụ giữ tư thế này lúc chuyển dạ với niềm tin rằng điều này sẽ làm cho sự sinh đẻ ít đau đớn hơn ( bằng cách giúp thai nhi chuyển vào vị thế tốt nhất) và nhanh hơn.

        Các nhà nghiên cứu đã viết trong số tháng 10 của The Cochrane Library rằng đã có các bằng cớ tốt cho đề nghị thứ nhất (chuyển dạ ít đau đớn hơn) nhưng không có chứng cớ cho đề nghị thứ hai (chuyển dạ nhanh hơn).

        Công trình nghiên cứu đã không tìm thấy điều hổ trợ cho lời khuyên nói rằng vào cuối thời kỳ thai nghén, các phụ nữ bò trên hai tay và hai đầu gối trong 10 phút, hai lần mỗi ngày sẽ giúp thai nhi đạt được vị thế tốt trong tử cung .

      “ Điều này không có ý gợi ý rằng các sản phụ không nên giữ tư thế bò trên hai tay và hai đầu gối mặc dầu họ thấy thoải mái ”, các nhà nghiên cứu đã viết như vậy.

       Công trình căn cứ trên một duyệt xét nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của tư thế của bà mẹ lên việc sinh đẻ. Các nhà nghiên cứu chú ý  vào 3 nghiên cứu, hai nhằm vào những phụ nữ đang chuyển dạ và một nhằm vào các phụ nữ cuối kỳ thai nghén.Tổng cộng có hơn 2700 phụ nữ đã tham gia vào các công trình nghiên cứu này.
          Tư thế tốt nhất cho một thai nhi trong lúc sinh là đầu hướng xuống dưới, với phần sau của đầu hướng về phía trước. Khi phần sau của đầu hướng về phía bên hay phía lưng của bà mẹ, thì cuộc sinh đẻ có thể bị kéo dài hơn hoặc đau đớn hơn.

        Công trình nghiên cứu đã nhận thấy rằng các phụ nữ bò trên hai tay và hai đầu gối trong lúc sinh cảm thấy thoải mái hơn. “ Việc giữ tư thế này trong lúc chuyển dạ được liên kết với sự giảm đáng kể triệu chứng đau lưng dai dẳng ”, các nhà nghiên cứu đã viết như vậy.

        Mặc dầu trong một nghiên cứu đã có một bằng cớ nào đó cho thấy rằng tư thế bò đã giúp thai nhi chuyển về vị trí đúng đắn, nhưng còn cần nghiên cứu thêm nữa, các nhà nghiên cứu đã phát biểu như vậy. ( INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 18/10/2007)



                                       BS NGUYỄN VĂN THỊNH
                                      
   ( 3/11/2007)

                                         

Trở về Trang Chính