|
1/ ĐỊNH NGHĨA HỘI CHỨNG TRẦM CẢM.
+ Hội chứng tâm thần :
- tính khí trầm cảm và/hoặc ý
nghĩ tự tử
- sự
trì chậm tâm thần vận động (ralentissement psychomoteur)
+ Hội chứng vật lý :
- mất ngủ
- chán ăn
- suy nhược
- rối loạn tình dục (toubles de
la libido)
2/ NÓI VỀ NHỮNG TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH
TRẦM CẢM .
Triệu
chứng chính của bệnh trầm cảm là tính khí
u sầu (sad mood). Để chẩn đoán trầm cảm, một tính khí trầm uất
(depressed mood) phải hiện diện ít nhất một nửa thời gian trong
một thời kỳ 2 tuần lễ. Phải có ít nhất 4 trong số các triệu
chứng sau đây suốt trong cùng thời gian này : mất ngủ, mất thích
thú hoặc
lạc thú trong những hoạt động bình thường,
cảm giác tội lỗi hoặc không xứng đáng, thiếu nghị lực, khả năng
tập trung và năng lực quyết định bị giảm, sự thèm ăn bị rối loạn
(thường là giảm), những thay đổi về tâm thần vận động ( kích
động hoặc chậm chạp) và có ý nghĩ tự tử (suicidal thought).
3/ TẠI SAO BỆNH TRẦM CẢM ĐƯỢC XEM LÀ
MỘT RỐI LOẠN VỀ TÍNH KHÍ ?
Tính khí (mood, humeur) chỉ tình
trạng chủ quan, nội tại của một người và được người ấy phát biểu
ra. Cảm xúc (affect) là về khách quan, bên ngoài của một người
và được đánh giá bởi người khác.Thuật ngữ rối loạn tính khí
(mood disorder) đã thay thế rối loạn cảm xúc (affective
disorder) trong các tư liệu về tâm thần học hiện nay. Rối loạn
tính khí chủ yếu là chứng trầm cảm nặng (major depression) (
hoặc rối loạn đơn cực : unipolar disorder, trong đó rối loạn duy
nhất là trầm cảm ), và loạn tâm thần hưng trầm cảm (
manic-depressive psychosis ) (hay rối loạn lưỡng cực : bipolar
disorder, trong đó trầm uất với bệnh sử có ít nhất một đợt hưng
cảm ).
4/ SỰ KHÁC NHAU GIỮA
TRẦM CẢM NGUYÊN PHÁT VÀ THỨ PHÁT
Bệnh trầm cảm thể nặng
được xếp loại thành nguyên phát (primary) nếu như phức hợp triệu
chứng xuất hiện trước và không liên hệ với bất cứ một bệnh nội
khoa hoặc tâm thần có ý nghĩa nào khác. Được xem là thứ phát
(secondary) khi chứng trầm cảm xảy ra sau và có liên hệ với một
bệnh nội khoa hoặc tâm thần khác.
5/ LIỆT KÊ NHỮNG BỆNH NỘI KHOA CÓ THỂ GÂY NÊN TRẦM CẢM THỨ PHÁT.
CÁC RỐI LOẠN NỘI TIẾT :
- giảm năng tuyến giáp
(hypothyroidism)
- bệnh đái đường
- hợp chứng Cushing
CÁC RỐI LOẠN THẦN KINH :
- các tai biến mạch máu não
- khối máu tụ dưới màng cứng
(subdural hematoma)
- bệnh xơ cứng rải rác (multiple
sclerosis)
- u não
- bệnh parkinson
- bệnh co giật
- sa sút
trí tuệ (dementia)
CÁC BỆNH CỦA MÔ LIÊN KẾT :
- lupus
ban đỏ (systemic lupus erythematosus)
UNG THƯ :
- ung thư tụy tạng.
6/ NGUYÊN NHÂN NỘI TIẾT CHÍNH CẦN TÌM KIẾM TRƯỚC MỘT CƠN TRẦM
CẢM ?
- giảm năng tuyến giáp (
hypothyroidie )
7/ XÉT NGHIỆM SINH HỌC NÀO CẦN ĐỀ NGHỊ TRƯỚC MỘT CƠN TRẦM CẢM ?
- bilan thyroidien : T4 libre
,TSH ultrasensible
8/ LIỆT KÊ CÁC THUỐC CÓ THỂ GÂY NÊN
TRẦM CẢM THỨ PHÁT.
- các thuốc chống tăng huyết áp (
réserpine, beta-blockers, methyldopa )
- thuốc ngủ và thuốc an thần (
benzodiazepines và barbiturates ).
- corticosteroids
- cimetidine
- ranitidine.
- neuroleptiques ( phénothiazines )
- anticholinestérases
- isoniazide
- indométacine
9/ TẠI SAO NHÀ LÂM SÀNG LUÔN LUÔN HỎI VỀ VIỆC UỐNG RƯỢU LÚC ĐÁNH
GIÁ TRẦM CẢM ?
Uống rượu và lạm dụng ruợu là là
một tình trạng bệnh lý rất thường xảy ra đồng thời với chứng
trầm cảm và thường được hỏi đến vì nhiều lý do. Trước hết uống
ruợu có thể có tác dụng làm mất ức chế (disinhibiting) đối với
hành vi, khiến một người bị trầm cảm và có ý định tự tử có nguy
cơ gia tăng bị thúc đẩy chuyển qua hành động tự tử . Thứ hai,
chứng trầm cảm không thể được điều trị có hiệu quả nếu chứng lạm
dụng rượu vẫn tiếp tục xảy ra. Thứ ba, rượu là một chất làm trầm
cảm (a depressant) và là một nguyên nhân thông thường của trầm
cảm, một vấn đề được gọi là rối loạn tính khí do rượu
(alcohol-induced mood disorder). Có thể là chứng trầm cảm của
bệnh nhân là thứ phát của việc uống rượu và được điều trị tốt
nhất bằng cách kiêng rượu hơn là cho một thuốc chống trầm cảm
(antidepressant). Tình hình này phải được nghĩ đến khi khởi đầu
của các rối loạn tính khí (mood disturbance) xảy ra trong thời
gian dài uống rượu đều đặn (thường là mỗi ngày) hơn là trước
đây.
10/ KHI BỆNH NHÂN CÓ NHỮNG TRIỆU CHỨNG RA SAO LÀM NGHI NGỜ CHỨNG
TRẦM CẢM ?
Nghiên cứu thăm dò bệnh trầm cảm khi
các bệnh nhân có những triệu chứng không đặc hiệu, như « đau
khắp người ”, yếu và xâm xoàng” , hoặc “ thấy khó chịu ». Thường
bệnh trầm cảm được thể hiện bằng những triệu chúng vật lý hơn là
tâm thần. Những triệu chứng vật lý không đặc hiệu như mệt (
fatigue ), kiệt sức (exhaustion), đau đầu, triệu chứng tiêu hóa,
đau cơ và đau không đặc hiệu, là thường xảy ra. Sự lo lắng (
anxiety ) thường được thấy đi kèm chứng trầm cảm và có thể được
thể hiện bởi khó thở ( shortness of breath ), nóng nảy
(nervousness), cáu kỉnh (irritability) và khó nuốt cùng những
triệu chứng khác.
Các cơn hoảng sợ ( panic attacks ), một dạng
nghiêm trọng của chứng lo lắng ,thường xảy ra trong bối cảnh
trầm cảm và là một nguyên nhân thông thường khiến bệnh nhân đến
phòng cấp cứu với cơn đau ngực không điển hình (atypical chest
pain).
11/ CÓ KHI NÀO BỆNH TRẦM CẢM ĐƯỢC THẾ HIỆN BẰNG NHỮNG TRIỆU
CHỨNG LOẠN TÂM THẦN KHÔNG ?
Bệnh trầm cảm có thể được kèm theo
bởi những triệu chứng loạn tâm thần (psychotic symptoms), báo
hiệu một thể nặng và nguy hiểm hơn của trầm cảm. Nếu là như vậy
cần hội chẩn BS chuyên khoa tâm thần và thường có chỉ định nhập
viện khoa tâm thần. Các bệnh nhân với trầm cảm loạn tâm thần
(psychotic depression) có nguy cơ tự tử cao hơn, đặc biệt là khi
có những ảo giác (hallucinations) ra lệnh họ tự hại mình. Những
triệu chứng loạn tâm thần khác là nghe những lời nói xui khiến
phạm tội (guilt-provoking) hoặc tự phê bình (self-critical) được
gọi là ảo giác thính giác (auditory hallucinations) và những
niềm tin sai lầm và chắc nịch, được gọi là hoang tưởng
(delusions), có thể là bị truy đuổi (persecutory) hoặc paranoid.
12/ CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT MỘT CƠN TRẦM CẢM VỚI CÁC BỆNH TÂM THẦN ?
- sự
buồn rầu bình thường (tristesse normale)
- tình trạng tang chế (état de
deuil)
- tình trạng lo âu (état anxieux)
- tâm
thần lú lẫn (confusion mentale)
- tâm thần phân liệt
(schizophrénie)
- loạn
thần kinh (névroses)
13/ LÀM SAO PHÂN BIỆT GIỮA TÌNH TRẠNG TANG CHẾ BÌNH THƯỜNG VÀ SỰ
TRẦM CẢM ?
- sự phân biệt giữa tình trạng
tang chế bình thường (deuil normal) và chứng trầm cảm được căn
cứ trên thời gian, cường độ và mức độ ảnh hưởng
- theo vài người, cần điều trị
chống trầm cảm khi sau 2 tháng tang chế bệnh nhân vẫn còn chìm
đắm trong sự trầm cảm có mức độ quan trọng với giảm lòng tự tin
và xuất hiện các ý tưởng tự tử (idéations suicidaires)
14/ KỂ CÁC THỂ LÂM SÀNG CỦA BỆNH TRẦM
CẢM :
- trầm
cảm u sầu ( dépression mélancolique)
- trầm cảm hoang tưởng (
dépression délirante)
- trầm cảm lo âu (dépression
anxieuse, formes à dominance anxieuse)
- trầm cảm được che dấu
(dépression masquée)
- trầm cảm theo mùa (dépression
saisonnière)
- trầm cảm tuổi mãn kinh
(dépression d’involution)
- trầm cảm hậu sản ( dépression du
postpartum)
- dạng trầm cảm theo thể địa ( trẻ
em, thiếu niên , người già)
- dạng trầm cảm theo giới tính
15/ KỂ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA MỘT TRẦM CẢM U SẦU ?
- trầm cảm u sầu (dépression
mélancolique) là một dạng lâm sàng của bệnh trầm cảm nặng.
- cường độ của khí chất trầm cảm
(humeur dépressive) : đau đớn về tinh thần (douleur morale)
- những ý nghĩ hoang tưởng (idées
délirantes) : khánh kiệt, tội lỗi , không xứng đáng
- nguy cơ tự tử ++
- tầm quan trọng của sự trì chậm
tâm thần vận động (psychomoteur)
- tầm quan trọng của hội chứng vật
lý
16/ NHỮNG CHỦ ĐỀ NÀO CÓ THỂ NHẬN THẦY TRONG MỘT TRẦM CẢM HOANG
TƯỞNG ( DEPRESSION DELIRANTE ) ?
- xấu xa không xứng đáng
(indignité)
- mặc cảm
tội lỗi (culpabilité)
- sự truy đuổi (persécution)
- sự khánh kiệt (ruine)
- bệnh
tưởng ( hypochondriaque)
17/ NÊU NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA TRẦM CẢM THEO MÙA
?
- hội chứng trầm cảm
- xuất hiện vào mùa thu hoặc mùa
đông
- cải thiện vào mùa xuân hoặc mùa
hè
- ngủ nhiều (hypersomnie)
- ăn nhiều (hyperphagie)
- điều trị bằng ánh sáng
(luminothérapie hay photothérapie) : đợt điều trị 8 đến 10 ngày
: bệnh nhân được đặt 1m cách một nguồn sáng 3000 lux, trong một
giờ, sáng và chiều.
18/ KỂ NHỮNG TRIỆU CHỨNG CỦA TRẦM CẢM HẬU SẢN ?
- những
đợt khóc lóc (crises de larmes)
- cáu kỉnh
- cảm giác không đủ khả năng
(incapacité), không thể dung nạp (intolérance) đối với đứa trẻ
- suy nhược
- mất ngủ
- lo âu.
19/ NÊU NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA HỘI CHỨNG TRẦM CẢM CỦA NGƯỜI GIÀ ?
- các triệu chứng thân thể
(plaintes somatiques) nhiều, mơ hồ và mối bận tâm về bệnh tật
thường nằm hàng đầu (nhất là trong lãnh vực tiêu hóa) : trầm cảm
bị che dấu (dépression masquée)
- dao động lo âu (agitation
anxieuse) với rối loạn về tính tình, bực bội
- trì chậm, suy nhược, chán ăn,
rối loạn giấc ngủ
- thường có những ý nghĩ hoang
tưởng (idées délirantes) ( bệnh ám, bị truy đuổi ) : trầm cảm
hoang tưởng (dépression délirante)
- nguy cơ tự tử : tỷ lệ tự tử 3 lần cao hơn đối với
dân thường. Bệnh trầm cảm nơi nguời già có nguy cơ tự tử đặc
biệt cao. Pháp là nước ở châu Âu có tỷ lệ tự tử ở người già cao
nhất ( 3000 người trên 65 tuổi năm 1998 ). Ở người già, những ý
nghĩ tự tử (idées suicidaires) hiếm khi được biểu lộ và khi được
biểu lộ thì không được xem thường.Triệu chứng của các tình trạng
trầm cảm nơi người già không khác lắm với các triệu chứng của
nguời trưởng thành nhưng do tuổi tác đưa lại những biến đổi có
thể là nguồn gốc của những sai lầm chẩn đoán. Các triệu chứng
thân thể thường được thấy nhiều hơn. Cũng vậy, những thay đổi về
hành vi thuộc loại bực tức (irritabilité) hay chống đối có thể
làm không để ý đến tình trạng trầm cảm.
20 / KỂ NHỮNG PHÉP ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH TRẦM
CẢM.
thuốc chống
trầm cảm, tâm lý trị liệu (psychotherapy) và sốc điện
(electroconvulsive therapy).
21/ KỂ NHỮNG NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ CỦA MỘT HỘI CHỨNG TRẦM CẢM ?
- điều trị ngoại trú hoặc nhập viện
nếu trầm cảm thể nặng ( nhập viện theo yêu cầu của một đệ tam
nhân nếu cần thiết )
- cấp cứu tâm thần nếu là bệnh u sầu
(mélancolie) hoặc nếu có nguy cơ tự tử
- phòng ngừa nguy cơ tự tử
- loại bỏ nguyên nhân thực thể
(étiologie organique)
- điều chỉnh rối loạn điện giải , bù
nước (réhydratation)
- loại bỏ những chống chỉ định khi
điều trị bằng thuốc chống trầm cảm (đặc biệt là đối với thuốc
chống trầm cảm ba vòng )
- điều trị chống trầm cảm : thuốc
chống trầm cảm ba vòng (tricycliques) hay IRS ( inhibiteurs de
la recapture de la sérotonine)
- kê toa cho thuốc trong 6 đến 12
tháng
- điều trị bằng liệu pháp chấn động (sismothérapie) nếu
là bệnh u sầu (mélancolie) hay nếu có chống chỉ định dùng
thuốc chống trầm cảm
- điều trị triệu chứng lo âu và mất
ngủ
- theo dõi hiệu quả và độ dung nạp
của điều trị
- tâm lý
trị liệu (psychothérapie)
22/ NHỮNG BIẾN CHỨNG CỦA MỘT HỘI CHỨNG TRẦM CẢM ?
- nguy cơ
tự tử
- nghiện
rượu (alcoolisme)
- nghiện ma túy (toxicomanie)
- lo âu (anxiété)
- cô lập về mặt xã hội và nghề nghiệp
( isolement socioprofessionnel )
23/ BIẾN CHỨNG NGHIÊM TRỌNG NHẤT CỦA BỆNH
TRẦM CẢM ?
- Tự tử.
Những trường hợp trầm cảm thể nặng (major depression) chịu trách
nhiệm khoảng 50% các trường hợp tự tử.
24 / CÁC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM NÀO ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH
TRẦM CẢM ?
- thuốc chống trầm cảm ba vòng ( TCA :
tricyclic antidepressant) và MAOI (monoamine oxidase inhibitor)
là hai loại thuốc tương đối bị bỏ đi không dùng đến do khả năng
có tác dụng phụ nghiêm trọng và do việc hạn chế ăn uống (trường
hợp của MAOI)
- các thuốc mới hơn, selective
serotonin reuptake inhibitors (SSRIs) ( hay IRS : inhibiteurs de
la recapture de la sérotonie ), bây giờ là những thuốc chống
trầm cảm chiếm ưu thế và được cho toa thường nhất, chủ yếu do
hiệu quả giống nhau nhưng dễ sử dụng hơn nhiều. Những thuốc
thuộc loại này gồm có fluoxetine ( Prozac ), paroxetine (
Paxil, Seroxat, Aropax), sertraline ( Zoloft, Serlain ),
citalopram ( Celexa, Cipramil ) và fluvoxamine ( Luvox,
Floxyfral ). Những thuốc mới hơn và đắt tiền hơn tác dụng lên
nhiều chất dẫn truyền thần kinh ( neurotransmitter ) nhưng với
ít tác dụng phụ hơn so với TCAs và MAOI. Những thuốc này gồm có
venlafaxine ( Effexor), bupropion ( Wellbutrin ), nefazodone (
Serzone ) và mirtazapine ( Remeron ). Lithium, các thuốc kích
thích tâm thần (psychostimulant) và hormone tuyến giáp (thyroid
hormone) là những thuốc điều trị bổ sung thông thường.
25/ NHỮNG XÉT NGHIỆM ĐÁNH GIÁ TỐI THIỂU TRƯỚC KHI BẮT ĐẦU ĐIỀU
TRỊ VỚI THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM BA VÒNG ?
- khám lâm
sàng
- điện tâm đồ
- thăm khám trực tràng (toucher
rectal)
- khám mắt (examen ophtalmologique).
26/ CÁC CHỐNG CHỈ ĐỊNH DÙNG THUỐC CHỐNG TRÂM CẢM BA VÒNG
(ANTIDEPRESSEURS TRICYCLIQUES) ?
- bệnh tăng nhãn áp góc đóng (glaucome
à angle fermé)
- phì đại
tiền liệt tuyến (hypertrophie prostatique).
- suy tim, rối loạn nhịp, bloc nhĩ thất
(BAV), nhồi máu cơ tim
- thai nghén
, cho con bú
- tính quá nhạy cảm
- dùng phối hợp với IMAO
27/ CÁC TÁC DỤNG PHỤ CHÍNH CỦA THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM BA VÒNG ?
- tim đập nhanh, hạ huyết áp thế đứng (
hypotension orthostatique )
- run , loạn vận ngôn (dysarthrie)
- khô miệng
- táo bón
- khó tiểu, bí tiểu
- rối loạn điều tiết
- lên cân
- lên cơn co giật , lú lẫn tâm thần
(confusion mentale)
- khí chất chuyển hướng về hưng cảm
- tác dụng cản vận động tâm thần bị
loại bỏ (nguy cơ tự tử)
28/ KỂ CÁC TÁC DỤNG PHỤ CỦA SSRI (
IRS) ?
- về tiêu hóa : nôn, đi chảy, chán ăn,
sụt cân
- rối loạn dục tình ( bất lực, mất
khoái dục )
- đau đầu
- mất ngủ
- run
29/ MÔ TẢ HỘI CHỨNG SEROTONINERGIQUE CÓ THỂ THẤY LÚC SỬ DỤNG
SSRI ?
- xuất hiện đột ngột
- trạng thái không yên, lú lẫn
- run, giật rung cơ (myoclonie), cứng
cơ (rigidité musculaire)
- tăng thân nhiệt (hyperthermie)
- cao huyết áp kịch phát
- khả năng gây chết người
- xảy ra khi dùng kết hợp SSRI với
MAOI, sumatriptan (Imigrane), lithium
30/ NHỮNG CẤP CỨU HAY NHỮNG THẬN TRỌNG VỀ THUỐC HƯỚNG TÂM THẦN ?
MAOI phối hợp với các thuốc giống
giao cảm (sympathomimetic) có thể gây nên cơn tăng giải phóng
adrénaline (hyperadrenergic crisis) và phối hợp với meperidine
hoặc dextromethorphan có thể gây nên tính không ổn định về tim
mạch và tính dễ bị kích thích của hệ thần kinh trung ương.Thuốc
an thần kinh (neuroleptics) có thể gây nên loạn trương lực
(dystonia), bao gồm co thắt thanh quản và hợp chứng an thần kinh
ác tính (neuroleptic malignant syndrome) (mê sảng, cứng đơ, sốt
và bất bình thường hệ thần kinh tự trị ), cả hai đều là cấp cứu
nội khoa. Độc tính chống tiết choline
(anticholinergic) có thể xảy ra vì nhiều thuốc hướng tâm thần
(psychotropics) có đặc tính chống tiết choline (anticholinergic)
và thường được sử dụng phối hợp ; những thuốc này bao gồm
benztropine mesylate (Cogentin), trihexyphenidyl (Artane),
diphenydramine (Benadryl), TCAs và các thuốc an thần kinh có
hiệu lực thấp hoặc trung bình.
Nhiều tác nhân khác hay được sử dụng thường
có những tác dụng phụ độc tính, đặc biệt là các thuốc làm ổn
định tính khí (mood stabilizers), gồm có lithium và các thuốc
chống co giật valproic acid và carbamazepine
31/ KHI NÀO THẦY THUỐC PHÒNG CẤP CỨU
NÊN BẮT ĐẦU ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM ?
Bởi vì các
thuốc chống trầm cảm thường cần nhiều tuần để bắt đầu có tác
dụng và thường cần theo dõi các tác dụng phụ và điều chỉnh liều
lượng, do đó nên tránh cho thuốc chống trầm cảm ở phòng cấp cứu
chừng nào có thể được. Những ngoại lệ là những bệnh nhân đang
được điều trị và cần cho lại toa hoặc một bệnh nhân bắt đầu một
điều trị mới sau khi được đánh giá cấp cứu bởi một thầy thuốc
chuyên khoa tâm thần. Lý tưởng là trong cả hai trường hợp, có
thể cho toa thuốc đủ dùng trong 2 đến 4 ngày và bệnh nhân có thể
tiếp tục theo dõi điều trị ngoại trú tâm thần.
Nguyên tắc cổ điển là không cho thuốc chống trầm cảm ở
phòng cấp cứu trước khi thực hiện tổng kết đầy đủ về tình trạng
của bệnh nhân và trước khi một khung điều trị được xác định một
cách dứt điểm. Như vậy, nếu bệnh nhân được nhập viện thì điều
trị sẽ được thiết lập trong lúc bệnh nhân nằm viện. Nếu bệnh
nhân được theo dõi điều trị ngoại trú thì chính người thầy thuốc
sẽ đảm nhận việc khởi đầu điều trị này.Tuy nhiên chúng ta biết
rằng nhiều bệnh nhân không theo đề nghị điều trị được đề nghị ở
phòng cấp cứu
32/ CÓ CHỈ ĐỊNH ĐIỀU
TRỊ BẰNG THUỐC AN THẦN Ở PHÒNG CẤP CỨU KHÔNG ?
Điều trị
bằng thuốc an thần đặc biệt hữu ích trong điều trị cấp cứu bệnh
trầm cảm. Mục đích của điều trị bằng thuốc an thần trong khung
cảnh này là để ngăn ngừa nguy cơ tự tử trong lúc chờ đợi tác
dụng của thuốc chống trầm cảm.
Một điều trị như vậy
có thể được thực hiện rất sớm, ngay khi chuyển bệnh nhân
đến khoa tâm
thần.Việc lựa chọn thuốc an thần được thực hiện tùy theo tầm
quan trọng của tác dụng an thần được đòi hỏi. Có thể chọn hoặc
thuốc an thần (tranquillisants) hoặc thuốc an thần kinh có tác
dụng an thần (neuroleptiques sédatifs).Việc cho benzodiazépines
song song với việc tiến hành một điều trị chống trầm cảm là một
vấn đề còn đang được tranh cãi vì lẽ benzodiazépines có thể có
tác dụng làm mất ức chế (effet désinhibiteur) và do đó làm cho
bệnh nhân dễ chuyển qua hành động tự tử. Trong cấp cứu và để
ngăn ngừa khả năng một hành động tự tử có thể xảy ra, lựa chọn
tốt hơn hết là hướng về một thuốc an thần không phải
benzodiazépine , ví dụ thuốc an thần kinh có tác dụng an thần .
33/ BỆNH NHÂN TRẦM CẢM NÀO CẦN ĐƯỢC
NHẬP VIỆN ?
- nói chung là những bệnh nhân trầm
cảm biểu lộ ý định tự tử (suicidal intent) hoặc có một kế hoạch
tự tử và những bệnh nhân trầm cảm có triệu chứng loạn tâm thần
(psychotic depressed patients).
- những bệnh nhân vừa thực hiện một
toan tính tự tử hung bạo, những bệnh nhân trong lúc toan tính tự
tử đã cố tránh sự cứu thoát và từ chối sự giúp đỡ .
- việc nhập viện những bệnh nhân bị
trầm cảm trong môi trường tâm thần được khuyên trong trường hợp
có nguy cơ tự tử và trong vài thể nặng của bệnh (có những triệu
chứng loạn tâm thần hoặc thân thể kết hợp, hoặc không đáp ứng
điều trị đầy đủ trong lúc cơn trầm cảm nặng)
34 / NÊU LÊN NHỮNG LÝ LẼ ĐỂ NHẬP VIỆN
MỘT BỆNH NHÂN TRẦM CẢM ?
- nguy cơ
tự tử (risque suicidaire)
- nguy cơ sinh tồn (risque vital) :
bệnh nhân hoàn toàn chán ăn (anorexie totale).
- ảnh hưởng lên tình trạng thân thể
(gầy ốm)
- trầm cảm u sầu (dépression
mélancolique)
- trầm cảm hoang tưởng (dépression
délirante)
References :
- Emergency Medicine Secrets
- Psychiatrie : Questions et
Réponses.
BS
NGUYỄN VĂN THỊNH
( 6/11/2007)
Trở về Trang Chính
|