Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

E-Mail: bsnguyenvanthinh@khoahoc.net

09 tháng 08 năm 2007

 1/ NIỀM HY VỌNG CHỐNG LẠI BỆNH PARKINSON

          Đó là thử nghiệm lâm sàng đầu tiên về điều trị gène (thérapie génique) trong cố gắng chống lại bệnh Parkinson.Và những kết quả được công bố trên The Lancet, mặc dầu chỉ mới là sơ khởi lại vượt quá mức mong đợi.

          Bệnh Parkinson là bệnh thoái hóa thần kinh gây nên bởi sự thiếu hụt phức tạp dopamine và Gaba (acide glutamique décarboxylase), những chất dẫn truyền thần kinh tác động lên sự kiểm soát các cử động. Đứng trước bệnh này, các nhà nghiên cứu của Đại Học Cornell Hoa Kỳ đã chọn một phương thức điều trị độc đáo. Chúng ta biết rằng sự kích thích nhân dưới đồi thị (noyau sous-thamique) nằm sâu trong não bộ sẽ kích thích sự tổng hợp Gaba. Thay vì dùng các điện cực để kích thích vùng này của não bộ như thường làm, nhóm nghiên cứu của Đại Học Cornell đã tiêm trực tiếp vào đó một dung dịch chứa một adénovirus vô hại mang một gène có khả năng tổng hợp enzyme cần thiết cho sự sản xuất Gaba.

 

        12 bệnh nhân bị bệnh Parkinson ở giai đoạn tiến triển đã được điều trị như thế. Ba tháng sau khi tiêm dung dịch chứa gène này vào não bộ, cả những nhà nghiên cứu lẫn các bệnh nhân đều ngạc nhiên nhận thấy một sự cải thiện rõ rệt các triệu chứng, một cải thiện luôn luôn được thấy rõ một năm sau đó. Đồng thời một nhóm nghiên cứu khác của Northwestern University, Chicago, đã theo một hướng điều trị khác, lần này được tiến hành trên chuột. Việc cho một chất chống cao áp israpidine, đã gây nên sự trẻ hóa các tế bào thần kinh ở một mức độ nào đó. Do đó các nhà nghiên cứu tin rằng chất này có thể làm  chậm hoặc ngăn cản sự tiến triển của bệnh Parkinson. Một kết quả quá mức mong đợi trên một bệnh lý mà từ 30 năm nay đã không có một đổi mới điều trị nào đã được thực hiện. Một thử nghiệm lâm sàng được tiến hành trên một trăm bệnh nhân bị bệnh Parkinson sẽ được khơi mào. (SCIENCES ET AVENIR 8/2007)



2/ CHỨNG TRẦM CẢM VÀ BỆNH  PARKINSON

           Sự run rẩy và các rối loạn vận động do cứng cơ (rigidité musculaire) là những triệu chứng chính của bệnh Parkinson. Chứng trầm cảm (dépression) cũng là một bộ phận của bệnh cảnh lâm sàng và là một trong những triệu chứng báo hiệu chính của bệnh này.

         Thật vậy, một công trình nghiên cứu chứng tỏ rằng, bệnh Parkinson thường xảy ra hơn ở các bệnh nhân đã bị mắc phải chứng trầm cảm một năm trước khi sự chẩn đoán bệnh được thực hiện. Điều trị chống trầm cảm hầu như không đóng một vai trò nào cả : nguy cơ mắc bệnh Parkinson vẫn được nhận thấy dẫu được điều trị với bất cứ loại thuốc chống trầm cảm nào. (SCIENCES ET AVENIR 8/2007)

 


3/ TỪ MELANINE ĐẾN MELANOME
 

         Mélanine là sắc tố chủ yếu trong việc tạo màu sắc của da, tóc và mắt. Bằng cách phân tích vài thành phần của mélanine ở da đầu bằng kỹ thuật chromatographie pha lỏng với hiệu năng cao, ta có thể tiên đoán nguy cơ xuất hiện u hắc tố ác tính (mélanome malin).

        Theo các dữ kiện được quan sát 2 năm trong một công trình nghiên cứu quy tụ khoảng 15 trung tâm ở Châu Âu  và Châu Mỹ La Tinh, những người có nồng độ PTCA (một trong những chất dẫn xuất của mélanine) thấp trong mao mạch, có nguy cơ mắc phải u hắc tố ác tính 4 lần nhiều hơn so với dân thường. Ngưỡng nguy cơ, được quy định là 85 ng/mg, đã được xác lập đồng thời có xét đến màu tóc hoặc mắt và số lượng nốt ruồi (grains de beauté). (SCIENCES ET VENIR 8/2007)



4/ SINH SẢN: LẦN ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI

         Lần đầu tiên một em bé được sinh ra từ một noãn còn non (un ovule immature). Được trích ra từ một buồng trứng mà không cần phải kích thích trước bằng hormone, noãn còn non được làm chín trong phòng thí nghiệm bởi nhóm nghiên cứu ở Trung Tâm Sinh Sản của Đại Học MacGill (Montréal) Canada và được làm đông lạnh sau đó. Ba thai nghén khác đang trong thời kỳ tiến triển. Mãi đến tận ngày nay, trong trường hợp trẻ sinh ra do thụ tinh bằng ống nghiệm (bébé-éprouvette), các noãn luôn luôn được trích ra ở một giai đoạn chín mùi nơi những buồng trứng trước đó đã chịu sự kích thích hormone, trước khi được làm đông lạnh hoặc được phủ bởi một lớp chất dẻo (vitrifié) tùy theo trường hợp, rồi được làm thụ tinh sau đó .

        Công trình này, được trình bày ở Lyon, tại hội nghị thường niên châu Âu của các chuyên viên về sinh sản, đã được tiến hành trên các phụ nữ bị bệnh đa u nang buồng trứng (polykystose ovarienne)  , một bệnh đưa đến vô sinh và cấm không được điều trị bằng hormone. Công trình nghiên cứu này có thể đem lại hy vọng cho các phụ nữ bị các bệnh ung thư phụ khoa. (SCIENCES ET AVENIR 8/2007)

 


5/ DÙNG METHOTREXATE ĐIỀU TRỊ CÓ THAI NGOÀI TỬ CUNG

        Méthotrexate là một chất cản sự tổng hợp các acide nucléique và được sử dụng trong Ung Thư Học. Lợi ích của thuốc này trong điều trị ung thư ngoài tử cung khu trú ở cổ tử cung vừa được xác nhận trong một nghiên cứu.
       Méthotrexate được sử dụng như là một phương thức điều trị thay thế phẫu thuật và cho phép tránh phải nạo thai. Được tiêm tại chỗ sau khi chọc dò có hướng dẫn bởi siêu âm qua thành âm đạo, méthotrexate đảm bảo việc khống chế nhanh chóng các thai ngoài tử cung. Trong 85% các trường hợp sau đó có thể có thai nghén bình thường. (SCIENCES ET AVENIR 8/2007)

 

6/  ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI BẰNG QUANG ĐỘNG

         Điều trị bằng quang động (thérapie photodynamique) mang lại những kết quả đáng phấn khởi trong điều trị vài loại ung thư được chẩn đoán sớm nhưng không thể mổ được vì loại ung thư mắc phải và tình trạng lâm sàng của bệnh nhân. Kỹ thuật này nhằm tiêm bằng đường tĩnh mạch một chất gây nhạy cảm với ánh sáng (un agent photosensibilisant) gắn vào khối u ung thư, rồi phá hủy các tổ chức ung thư thấm chất gây nhạy cảm này nhờ một tia laser được đưa đến bằng đường soi phế quản. Đã có được những trường hợp bệnh nhân sống trên 6 năm nhờ phép trị liệu này. (SCIENCES ET AVENIR 8/2007)
 


7/  CÁC TIỂU CẦU LÀM TĂNG NHANH SỰ HÓA SẸO

         Các tiểu cầu (plaquettes) là những yếu tố của máu đảm bảo sự đông máu. Một công trình nghiên cứu thí điểm đã chứng tỏ rằng, có thể gia tốc đáng kể quá trình hóa sẹo của các vết thương ở da, bằng cách đặt lên vết thương một gel được cấu tạo bởi các tiểu cầu lấy từ người bị thương. Các người tình nguyện khỏe mạnh đã nhận ở đùi chân 80 cú đục lỗ để sinh thiết (poinçons à biopsie) với đường kính 6 mm. So sánh với những vết thương « nhân chứng » được điều trị bằng băng bó cổ điển, thì các vết thương trên đó loại gel này đã được sử dụng, đã hóa sẹo nhanh hơn và quá trình hóa sẹo có chất lượng hơn. (SCIENCES ET AVENIR 8/2007)

 

8/ TRUYỀN MÁU KHÔNG LÀM LÂY TRUYỀN UNG THƯ
           Nhóm nghiên cứu của Gustaf Edgren thuộc Viện Karolinska (Stockholm) đã tham cứu 350.000 hồ sơ truyền máu được thực hiện từ năm 1968 đến 2002, trong đó có 3% người cho máu (donneur) trong tình trạng « tiền ung thư » (précancéreux).

          Kết luận: với thời gian lùi lại 34 năm, người ta chứng nhận rằng một người nhận máu (receveur) từ một người cho máu (donneur) mà ung thư chưa được chẩn đoán, đã không bị nguy cơ phát sinh ung thư nhiều hơn so với những người không bị truyền máu. (SCEINCE ET VIE 8/2007)


 

9/ STRESS CÓ THỂ LÀM TĂNG KÝ

         Đó là điều vừa được chứng minh, ít nhất là trên loài chuột.

         Stress mãn tính kích thích sự tăng sinh các tế bào mỡ và sự tích tụ mỡ bụng. Một công trình nghiên cứu được công bố trong Nature Medicine chứng tỏ rằng stress tác động bằng cách thúc đẩy sự phóng thích neuropeptide, được mệnh danh là NPY. Các nhà nghiên cứu hy vọng chống lại chứng béo phì ở người bằng cách ngăn cản thụ thể (récepteur) của NPY. (SCIENCES ET VENIR 8/2007)


 

10/  LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHONG BẾ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA STRESS LÀM GIA TĂNG THỂ TRỌNG

          Có lẽ giải pháp sẽ có được từ những nghiên cứu tiến hành trên chuột béo phì và bị gây stress ở Đại Học Georgetown, Hoa kỳ. Zofia Zukowka và nhóm nghiên cứu đã nhận diện ở động vật peptide Y2, một phân tử nhỏ bình thường được sản xuất bởi não bộ trong trường hợp bị stress. Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện rằng chất peptide Y2 có khả năng kích thích khối mỡ (masse grasse) ngay cả trong trường hợp không được cung cấp calorie. Các nhà nghiên cứu sau đó đã phong bế các thụ thể (récepteurs) của peptide Y2 này trong mỡ. Kết quả: các con chuột bị stress không còn lên cân nữa, trái với các con chuột có các thụ thể không được phong bế. (SCIENCE ET VIE 8/2007)

 
                                                   BS NGUYỄN VĂN THỊNH
                                                            (2/8/2007)
                                                                     

 

Trở về Trang Chính