|
1/
NIỀM HY VỌNG CHỐNG LẠI BỆNH PARKINSON
Đó là thử nghiệm lâm sàng đầu tiên về điều trị gène
(thérapie génique) trong cố gắng chống lại bệnh Parkinson.Và
những kết quả được công bố trên The Lancet, mặc dầu chỉ mới là
sơ khởi lại vượt quá mức mong đợi.
Bệnh Parkinson là bệnh thoái hóa thần kinh gây nên bởi
sự thiếu hụt phức tạp dopamine và Gaba (acide glutamique
décarboxylase), những chất dẫn truyền thần kinh tác động lên sự
kiểm soát các cử động. Đứng trước bệnh này, các nhà nghiên cứu
của Đại Học Cornell Hoa Kỳ đã chọn một phương thức điều trị độc
đáo. Chúng ta biết rằng sự kích thích nhân dưới đồi thị (noyau
sous-thamique) nằm sâu trong não bộ sẽ kích thích sự tổng hợp
Gaba. Thay vì dùng các điện cực để kích thích vùng này của não
bộ như thường làm, nhóm nghiên cứu của Đại Học Cornell đã tiêm
trực tiếp vào đó một dung dịch chứa một adénovirus vô hại mang
một gène có khả năng tổng hợp enzyme cần thiết cho sự sản xuất
Gaba.
12 bệnh nhân bị bệnh Parkinson ở giai đoạn tiến triển đã được
điều trị như thế. Ba tháng sau khi tiêm dung dịch chứa gène này
vào não bộ, cả những nhà nghiên cứu lẫn các bệnh nhân đều ngạc
nhiên nhận thấy một sự cải thiện rõ rệt các triệu chứng, một cải
thiện luôn luôn được thấy rõ một năm sau đó. Đồng thời một nhóm
nghiên cứu khác của Northwestern University, Chicago, đã theo
một hướng điều trị khác, lần này được tiến hành trên chuột. Việc
cho một chất chống cao áp israpidine, đã gây nên sự trẻ hóa các
tế bào thần kinh ở một mức độ nào đó. Do đó các nhà nghiên cứu
tin rằng chất này có thể làm chậm hoặc ngăn cản sự tiến triển
của bệnh Parkinson. Một kết quả quá mức mong đợi trên một bệnh
lý mà từ 30 năm nay đã không có một đổi mới điều trị nào đã được
thực hiện. Một thử nghiệm lâm sàng được tiến hành trên một trăm
bệnh nhân bị bệnh Parkinson sẽ được khơi mào. (SCIENCES ET
AVENIR 8/2007)
2/ CHỨNG TRẦM CẢM VÀ BỆNH
PARKINSON
Sự run rẩy và các rối loạn vận động do cứng cơ
(rigidité musculaire) là những triệu chứng chính của bệnh
Parkinson. Chứng trầm cảm (dépression) cũng là một bộ phận của
bệnh cảnh lâm sàng và là một trong những triệu chứng báo hiệu
chính của bệnh này.
Thật vậy, một công trình nghiên cứu chứng tỏ rằng, bệnh
Parkinson thường xảy ra hơn ở các bệnh nhân đã bị mắc phải chứng
trầm cảm một năm trước khi sự chẩn đoán bệnh được thực hiện.
Điều trị chống trầm cảm hầu như không đóng một vai trò nào cả :
nguy cơ mắc bệnh Parkinson vẫn được nhận thấy dẫu được điều trị
với bất cứ loại thuốc chống trầm cảm nào. (SCIENCES ET AVENIR
8/2007)
3/ TỪ MELANINE
ĐẾN MELANOME
Mélanine là sắc tố chủ yếu trong việc tạo màu sắc của
da, tóc và mắt. Bằng cách phân tích vài thành phần của mélanine
ở da đầu bằng kỹ thuật chromatographie pha lỏng với hiệu năng
cao, ta có thể tiên đoán nguy cơ xuất hiện u hắc tố ác tính
(mélanome malin).
Theo các dữ kiện được quan sát 2 năm trong một công trình nghiên
cứu quy tụ khoảng 15 trung tâm ở Châu Âu và Châu Mỹ La Tinh,
những người có nồng độ PTCA (một trong những chất dẫn xuất của
mélanine) thấp trong mao mạch, có nguy cơ mắc phải u hắc tố ác
tính 4 lần nhiều hơn so với dân thường. Ngưỡng nguy cơ, được quy
định là 85 ng/mg, đã được xác lập đồng thời có xét đến màu tóc
hoặc mắt và số lượng nốt ruồi (grains de beauté).
(SCIENCES ET VENIR 8/2007)
4/ SINH SẢN: LẦN ĐẦU TIÊN TRÊN
THẾ GIỚI
Lần đầu
tiên một em bé được sinh ra từ một noãn còn non (un ovule
immature). Được trích ra từ một buồng trứng mà không cần phải
kích thích trước bằng hormone, noãn còn non được làm chín trong
phòng thí nghiệm bởi nhóm nghiên cứu ở Trung Tâm Sinh Sản của
Đại Học MacGill (Montréal) Canada và được làm đông lạnh sau đó.
Ba thai nghén khác đang trong thời kỳ tiến triển. Mãi đến tận
ngày nay, trong trường hợp trẻ sinh ra do thụ tinh bằng ống
nghiệm (bébé-éprouvette), các noãn luôn luôn được trích ra ở một
giai đoạn chín mùi nơi những buồng trứng trước đó đã chịu sự
kích thích hormone, trước khi được làm đông lạnh hoặc được phủ
bởi một lớp chất dẻo (vitrifié) tùy theo trường hợp, rồi được
làm thụ tinh sau đó .
Công trình này, được trình bày ở Lyon, tại hội nghị thường niên
châu Âu của các chuyên viên về sinh sản, đã được tiến hành trên
các phụ nữ bị bệnh đa u nang buồng trứng (polykystose
ovarienne) , một bệnh đưa đến vô sinh và cấm không được điều
trị bằng hormone. Công trình nghiên cứu này có thể đem lại hy
vọng cho các phụ nữ bị các bệnh ung thư phụ khoa. (SCIENCES ET
AVENIR 8/2007)
5/ DÙNG METHOTREXATE ĐIỀU TRỊ CÓ
THAI NGOÀI TỬ CUNG
Méthotrexate là một chất cản sự tổng hợp các acide nucléique và
được sử dụng trong Ung Thư Học. Lợi ích của thuốc này trong điều
trị ung thư ngoài tử cung khu trú ở cổ tử cung vừa được xác nhận
trong một nghiên cứu.
Méthotrexate được sử dụng như là một phương thức điều trị
thay thế phẫu thuật và cho phép tránh phải nạo thai. Được tiêm
tại chỗ sau khi chọc dò có hướng dẫn bởi siêu âm qua thành âm
đạo, méthotrexate đảm bảo việc khống chế nhanh chóng các thai
ngoài tử cung. Trong 85% các trường hợp sau đó có thể có thai
nghén bình thường. (SCIENCES ET AVENIR 8/2007)
6/ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ
PHỔI BẰNG QUANG ĐỘNG
Điều trị bằng quang động (thérapie photodynamique) mang
lại những kết quả đáng phấn khởi trong điều trị vài loại ung thư
được chẩn đoán sớm nhưng không thể mổ được vì loại ung thư mắc
phải và tình trạng lâm sàng của bệnh nhân. Kỹ thuật này nhằm
tiêm bằng đường tĩnh mạch một chất gây nhạy cảm với ánh sáng (un
agent photosensibilisant) gắn vào khối u ung thư, rồi phá hủy
các tổ chức ung thư thấm chất gây nhạy cảm này nhờ một tia laser
được đưa đến bằng đường soi phế quản. Đã có được những trường
hợp bệnh nhân sống trên 6 năm nhờ phép trị liệu này. (SCIENCES
ET AVENIR 8/2007)
7/ CÁC TIỂU CẦU LÀM TĂNG NHANH SỰ
HÓA SẸO
Các tiểu cầu (plaquettes) là những yếu tố của máu đảm
bảo sự đông máu. Một công trình nghiên cứu thí điểm đã chứng tỏ
rằng, có thể gia tốc đáng kể quá trình hóa sẹo của các vết
thương ở da, bằng cách đặt lên vết thương một gel được cấu tạo
bởi các tiểu cầu lấy từ người bị thương. Các người tình nguyện
khỏe mạnh đã nhận ở đùi chân 80 cú đục lỗ để sinh thiết
(poinçons à biopsie) với đường kính 6 mm. So sánh với những vết
thương « nhân chứng » được điều trị bằng băng bó cổ điển, thì
các vết thương trên đó loại gel này đã được sử dụng, đã hóa sẹo
nhanh hơn và quá trình hóa sẹo có chất lượng hơn. (SCIENCES ET
AVENIR 8/2007)
8/ TRUYỀN MÁU KHÔNG
LÀM LÂY TRUYỀN UNG THƯ
Nhóm nghiên cứu của
Gustaf Edgren thuộc Viện Karolinska (Stockholm) đã tham cứu
350.000 hồ sơ truyền máu được thực hiện từ năm 1968 đến 2002,
trong đó có 3% người cho máu (donneur) trong tình trạng « tiền
ung thư » (précancéreux).
Kết luận: với thời gian lùi lại 34 năm, người ta chứng
nhận rằng một người nhận máu (receveur) từ một người cho máu
(donneur) mà ung thư chưa được chẩn đoán, đã không bị nguy cơ
phát sinh ung thư nhiều hơn so với những người không bị truyền
máu. (SCEINCE ET VIE 8/2007)
9/ STRESS CÓ THỂ LÀM
TĂNG KÝ
Đó là điều vừa được chứng minh, ít nhất là trên loài
chuột.
Stress mãn tính kích thích sự
tăng sinh các tế bào mỡ và sự tích tụ mỡ bụng. Một công trình
nghiên cứu được công bố trong Nature Medicine chứng tỏ rằng
stress tác động bằng cách thúc đẩy sự phóng thích neuropeptide,
được mệnh danh là NPY. Các nhà nghiên cứu hy vọng chống lại
chứng béo phì ở người bằng cách ngăn cản thụ thể (récepteur) của
NPY. (SCIENCES ET VENIR 8/2007)
10/
LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHONG BẾ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA STRESS LÀM GIA TĂNG
THỂ TRỌNG
Có lẽ giải pháp sẽ có được từ những nghiên cứu tiến hành trên
chuột béo phì và bị gây stress ở Đại Học Georgetown, Hoa kỳ.
Zofia Zukowka và nhóm nghiên cứu đã nhận diện ở động vật peptide
Y2, một phân tử nhỏ bình thường được sản xuất bởi não bộ trong
trường hợp bị stress. Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện rằng chất
peptide Y2 có khả năng kích thích khối mỡ (masse grasse) ngay cả
trong trường hợp không được cung cấp calorie. Các nhà nghiên cứu
sau đó đã phong bế các thụ thể (récepteurs) của peptide Y2 này
trong mỡ. Kết quả: các con chuột bị stress không còn lên cân
nữa, trái với các con chuột có các thụ thể không được phong bế.
(SCIENCE ET VIE 8/2007)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(2/8/2007)
Trở về Trang Chính
|