|
I/ ACIDO-CETOSE DIABETIQUE :
Điều trị gồm 2
phần : truyền tĩnh mạch dịch với số lượng lớn và tiêm truyền
insuline.
1/ TRUYỀN DỊCH BẰNG ĐƯỜNG TĨNH MẠCH:
- sự tăng bài niệu thẩm thấu
(diurèse osmotique) dẫn đến mất nước quan trọng mặc dầu bệnh
nhân rất khát nước.
- dung lượng máu bị mất
(pertes volémiques) được đánh giá bằng 10-15% trọng lượng cơ thể
và dung dịch muối sinh lý (solution salé physiologique) là dịch
truyền được lựa chọn
- trường hợp giảm dung
lượng máu (hypovolémie) quan trọng, có thể truyền colloides lúc
khởi đầu để tái lập nhanh chóng dung lượng máu (volémie) mà
không gây phù quan trọng.
SƠ ĐỒ TRUYỀN DỊCH CƠ
BẢN
Một sợ đồ
cơ bản quy định truyền 4L dung dịch muối (0,9% NaCl) trong vòng
12 giờ theo cách sau đây:
1L trong 1 giờ
1L trong 2 giờ
1L trong 3 giờ
1L trong 6 giờ
(dĩ nhiên là cần phải thích ứng tùy
theo tình trạng huyết động học của bệnh nhân)
- trường hợp
tăng natri-huyết ( hypernatrémie ) (Na > 145 mEq/L), tiêm
truyền dung dịch muối có thể làm nặng thêm tình trạng tăng
natri-huyết , còn dung dịch glucose thì không nên sử dụng :
trong trường hợp này có thể sử dụng dung dịch muối 0,45% (cho
chảy đồng thời một dung dịch muối sinh lý và một dung dịch nước
vô trùng(solution d'eau stérile)
- khi
glucose-huyết giảm xuống dưới 250 mg/dl, truyền glucose 5% (vừa
tiếp tục tiêm truyền insuline).
- Bổ sung
KCL: Thường kali huyết (hypokaliémie) bị giảm ; nguyên nhân là
do tăng bài niệu thẩm thấu ( diurèse osmotique) gây nên thất
thoát một số lượng quan trọng K bằng đường tiểu.Tuy nhiên vào
giai đoạn khởi đầu của bệnh, nồng độ K trong máu có thể bình
thường bởi vì sự thiếu insuline, tăng tính thẩm thấu(
hyperosmolarité) và sự nhiễm acid (acidose) gây nên sự di chuyển
K ra khỏi các tế bào. Sự tiêm truyền insuline và sự điều chỉnh
sự nhiễm acid sau đó làm cho K vào trở lại các tế bào với số
lượng quan trọng.Vậy cần phải sớm bổ sung K và theo dõi nồng độ
kali huyết.
SƠ ĐỒ
TRUYỀN KCL
- Có thể bắt
đầu truyền 20mEq/L trong khi chờ đợi những kết quả xét nghiệm
đầu tiên.
- > 6 mEq/L : không cần bổ
sung
5-6 mEq/L : 10 mEq/h
4-5 mEq/L : 20 mEq/h
3-4 mEq/L : 30 mEq/h
< 3 mEq/L : 40 mEq/h
- Hypophosphatémie thường hiện diện vì
vậy thường cần tiêm truyền phosphate de potassium. Giảm
phosphore (hypophosphorémie) thường xảy ra trong những tình
trạng này và chủ yếu là do mất phosphore trong nước tiểu.Tiêm
truyền phosphate de K là cần thiết để tránh hypophosphorémie
nghiêm trọng : 40-60 mEq phosphate de K sau khi đã điều trị ổn
định giai đoạn sơ khởi.
- Không có bằng cớ về tính hiệu quả
của bicarbonate. Chứng acid huyết (acidémie) sẽ được điều chỉnh
bởi truyền dịch và insuline.Tuy nhiên có người cho bicarbonate
trong trường hợp pH rất thấp (<7,1) ở giai đoạn đầu.
2/ INSULINOTHERAPIE :
- các liều lượng insuline không nhất thiết phải rất quan trọng
nhưng chủ yếu phải được duy trì trong thời gian.
- có thể cho insuline
dưới dạng tiêm truyền liên tục (perfusion continue).
- một phương cách tiện
lợi là pha chế thành một dung dịch rồi truyền bằng bơm tiêm
điện( seringue électrique).
- trộn 50 U Actrapid
trong 50ml dụng dịch để có một dung dịch 1U/ml.
- bắt đầu truyền dụng
dịch với lưu lượng bằng 1/100 của glycémie. Ví dụ nếu
glycémie=550mg/dl , bắt đầu với lưu lượng 5,5 U/h.
- khi glycémie hạ xuống
gần với trị số bình thường, ta có thể áp dụng những trị số theo
bảng sau đây :
THÍCH NGHI
POMPE A L'INSULINE (1U/ml) VỚI GLYCEMIE CỦA BỆNH NHÂN
GLYCEMIE THÁI ĐỘ ĐIỀU TRỊ
<80mg/dl - ngưng
truyền
-
truyền glucose hypertonique
80-120mg/dl - giảm truyền
0,3U/L
120-180mg/dl - không thay
đổi
180-240mg/dl - gia tăng
truyền 0,3 U/L
> 250mg/dl - gia tăng
truyền 0,5 U/L
II/ COMA
HYPEROSMOLAIRE
- đây là hợp
chứng tăng glucose-huyết (hyperglycémie) nghiêm trọng với tăng
trương lực (hypertonicité) nhưng không có cétose, xảy ra ở người
trưởng thành có bệnh đái đường thể nhẹ hoặc có khi không có đái
đường. Sở đĩ không có cétose là vì ở bệnh nhân này insuline được
tiết đầy đủ. Glucose-huyết nói chung tăng cao, quan trọng hơn so
với acido-cétose ( > 900mg/dl thay vì 600 -700mg/dl)
- thường có
thể tìm thấy yêu tố phát khởi như nhiễm trùng, sử dụng
corticostéroides hay thuốc lợi tiểu
- mất nước
thường quan trọng và có thể liên kết với một ure huyết (urémie)
nguyên nhân ngoài thận
1/ LÂM SÀNG :
- đa số bệnh nhân thể hiện biến đổi trạng thái tâm thần nhưng
không nhất thiết bị hôn mê.
- các dấu chứng giảm dung
lượng máu (hypovolémie) và đôi khi sốc do giảm dung lượng máu
(choc hypovolémique) , nhưng những tình trạng này được điều
chỉnh dễ dàng.
2/ĐIỀU
TRỊ NATREMIE :
Do
tác dụng thẩm thấu (effet osmotique), tăng glucose máu
(hyperglycémie) làm nước di chuyển từ khoang trong tế bào ra
khoang ngoài tế bào, điều này dẫn đến sự hòa loãng sodium.Vậy
cần điều chỉnh natrémie tùy theo nồng độ đường trong máu. Gia
tăng glucose 100mg/dl trên nồng độ glycémie bình thường 100mg/dl
sẽ đưa đến giảm 1,6mEq/L natrémie.Vậy một bệnh nhân có
glycémie=800mg/dl và một natrémie= 138mEq thì thật ra bệnh nhân
này có một natrémie được điều chỉnh (natrémie corigée) là
149mEq/l.
MANUEL DE
REANIMATION,SOINS INTENSIFS ET
MEDECINE
D'URGENCE.
B.S NGUYỄN VĂN
THỊNH
09/08/2007
Trở về Trang Chính
|