|
1/ LÀM GIẢM TÀN TẬT DO MỘT CƠN ĐỘT QỤY.
Sự nhanh chóng xử lý điều trị tai biến mạch máu não ở
mỗi giai đoạn có thể làm giảm tỷ lệ tử vong và nguy cơ bị tàn
tật. CHU Dijon vừa chứng minh điều đó.
Trong vòng 2 năm, Trung tâm bệnh viện đại học này đã
có khả năng làm giảm tỷ lệ tử vong và số những người bị tàn tật
sau một tai biến mạch máu não, bằng cách xử lý từng giai đoạn,
từ khâu bác sĩ gia đình đến khâu nhân viên khiêng cáng, nhằm cải
thiện sự nhanh chóng trong điều trị. Kinh nghiệm này là một đối
tượng của một bài báo khoa học, được công bố trong tạp chí Hoa
Kỳ Stroke.
Mỗi năm, ở Pháp có 150.000 người bị tai biến mạch máu
não, với các yếu tố làm dễ như tuổi tác, bệnh cao huyết áp,
chứng nghiện thuốc lá, tăng cholestérol huyết và bệnh đái đường.
Tai biến mạch máu não là nguyên nhân đứng đầu gây tàn tật mắc
phải.Trong 80% các trường hợp, tai biến mạch máu não là do một
động mạch của não bộ bị bít tắc bởi một huyết khối (thrombose)
(một cục máu đông). Vào cuối những năm 1990, một thuốc làm tan
sợi huyết (médicament fibrinolytique) đã được hiệu chính.Thuốc
này, lúc cho bằng đường tĩnh mạch, có thể góp phần làm tan cục
máu đông .
CUỘC CHẠY ĐUA VỚI THỜI GIAN
Những thử nghiệm lâm sàng
đã phát hiện tính hiệu quả không thể tranh cãi được trong sự
giảm tỷ lệ tử vong và mức độ tàn tật, với điều kiện là thuốc
làm tan sợi huyết được cho dưới 3 giờ sau khi xuất hiện các
triệu chứng đầu tiên. Bệnh nhân phải dưới 80 tuổi, không ở trong
tình trạng hôn mê và dĩ nhiên sự thiếu máu cục bộ não (ischémie
cérébrale) phải được xác nhận bằng chụp X quang.
Số bệnh nhân được hưởng một phép điều trị tiên
tiến như thế vẫn còn ít ở Pháp, vì lẽ thời hạn thuốc có thể được
cho là quá ngắn.
Tháng giêng 2006, giáo sư Maurice
Giroud, trưởng khoa bệnh lý mạch máu-thần kinh, đi từ điều chứng
thực rằng số những trường hợp dùng liệu pháp làm tan sợi huyết
(fibrinolyse) để điều trị tai biến mạch máu não là quá thấp, do
sự chậm trễ trong xử trí điều trị, nên đã tổ chức một khóa đào
tạo trong 3 tháng nhằm vào các đối tượng là các người chủ chốt
có liên quan, như các bác sĩ gia đình, các nhân viên điều phối
của Samu, các nhân viên khiêng cáng, các y tá làm việc ở phòng
cấp cứu, các nhân viên phòng xét nghiệm, các thầy thuốc quang
tuyến…Mục tiêu là, ngay sau khi nhận cú điện thoại của một người
bị một tai biến mạch máu não đột ngột, các khâu vận chuyển, chẩn
đoán và điều trị phải được thiết lập không được làm mất một giây
phút nào.
“ Thí dụ chúng tôi phải hiểu các danh từ được sử
dụng bởi các bệnh nhân hay các người thân của họ để mô tả bệnh
tai biến mạch máu não (ông ta không có thể nói nữa, ông ta bại
liệt, ông ta kêu van đau đầu) để cho nhân viên y tá phòng cấp
cứu đôi khi tiếp nhận trực tiếp bệnh nhân mà không phải qua khâu
vận chuyển y tế, hoặc có khả năng nghi ngờ một tai biến mạch máu
não và hành động nhanh chóng, giáo sư Maurice Giroud đã giải
thích như vậy. Chúng tôi đã gặp gỡ các nhân viên khiêng cáng,
một trong những mắc xích có thể làm chậm trễ trong việc mang các
bệnh nhân đến những đơn vị điều trị mạch máu- thần kinh (unités
de soins neuro-vasculaires), để giải thích cho họ tầm quan trọng
của một thái độ xử trí điều trị nhanh chóng ”
Cuối năm 2007, sự đánh giá một hành động xử trí như
thế đã được thực hiện và cho thấy rằng các thời hạn can thiệp
cho một bệnh nhân bị tai biến mạch máu não đã giảm đi đáng kể.
Tỷ lệ chụp scanner được thực hiện trong 3 giờ đầu sau những
triệu chứng đầu tiên đã gia tăng từ 46% lên 83%, thời hạn từ khi
bệnh nhân đến phòng cấp cứu đến khi được chụp X quang đã giảm từ
87 phút xuống còn 37 phút, thời hạn từ khi bệnh nhân đến cho đến
lúc có được kết quả xét nghiệm đã giảm từ 70 phút xuống còn 32
phút. Số bệnh nhân được nhận liệu pháp tan sợi huyết
(fibrinolyse) tăng lên gấp 3. Tỷ lệ tử vong ở bệnh viện đã giảm
từ 12% năm 2006 xuống còn 9% năm 2007 và nhất là tỷ lệ bệnh nhân
bị tàn tật sau một tai biến mạch máu não đã giảm từ 60% năm 2006
xuống còn 40% năm 2007. “ Hai yếu tố quan trọng trong trường hợp
tai biến mạch máu não là sự can thiệp nhanh chóng và sự nhập
viện trong một đơn vị mạch máu-thần kinh cho phép làm giảm tỷ lệ
tử vong và nguy cơ bị tàn tật ”, giáo sư Giroud đã nói thêm như
thế.
Vào tháng 3 năm 2007, một bản thông
tri buộc tất cả các trung tâm bệnh viện, thành lập một đơn vị
điều trị mạch máu-thần kinh (unité de soins neurovasculaires).Từ
nay, tất cả các Trung tâm bệnh viện đại học (CHU) đều có những
đơn vị này, nhưng còn cần phải thực hiện nhiều điều để cho tất
cả các bệnh viện toàn khoa cũng sẽ có những đơn vị điều trị như
thế bởi vì các bệnh viện toàn khoa là nơi tiếp nhận bộ phận quan
trọng nhất các bệnh nhân bị tai biến mạch máu não. Thí dụ của
Dijon chứng tỏ rằng chỉ cần một ít thiện chí, chúng ta có thể
thắng được cuộc chạy đua với thời gian đôi khi được diễn ra
trong trường hợp tai biến mạch máu não.
Nguồn
: LE FIGARO 26/3/2008
2/
RUỘT THỪA VIÊM : CHỤP NHIỀU SCANNER HƠN, ÍT DÙNG DAO MỔ HƠN.
Trong
trường hợp đau bụng tỏa lan và nghi ruột thừa viêm, làm sao
tránh cần phải nhờ đến qua nhanh và nhất là vô ích lưỡi dao mổ ?
Bằng cách thực hiện một scanner bụng trước khi can thiệp phẫu
thuật, công trình của một nhóm nghiên cứu Los Angeles (Hoa Kỳ)
đã xác nhận như vậy. Trong một thời kỳ theo dõi 10 năm, các thầy
thuốc ngoại khoa đã có thể xác lập mối tương quan giữa các khám
nghiệm trước phẫu thuật và các xét nghiệm giải phẫu bệnh lý của
các tổ chức mô được lấy ra bằng phẫu thuật.
Họ đã chứng nhận rằng việc chụp
scanner bụng đã làm giảm rất nhiều số những trường hợp mổ cắt bỏ
ruột thừa vô ích, làm hạ tỷ lệ mổ từ 24% xuống còn 3%, hoặc chia
8 ! Một công trình nghiên cứu khác, được tiến hành ở Pháp năm
2003, đã chứng tỏ rằng việc sử dụng một cách hệ thống scanner
bụng đã cho phép làm giảm tỷ lệ cắt bỏ ruột thừa, từ 22% xuống
còn 10%. Các công trình khác đang được tiến hành để đánh giá lợi
ích của chụp résonance magnétique (IRM). Nhưng phương cách này,
trong tình hình y tế của Pháp hiện nay, gặp phải trở ngại do
thời hạn đợi chờ, vì tình trạng thiếu máy.
Nguồn : SCIENCES
ET AVENIR 4/2008
3/
TIÊN ĐOÁN SẨY THAI TỰ PHÁT
Từ 40 đến 50% các thai kỳ
được chấm dứt bởi một sẩy thai ngẫu nhiên trước tuần lễ thai
nghén thứ 20. Các nghiên cứu trên động vật đã chứng tỏ rằng một
endocannabinoide, anandamide (N-arachidonoyl-éthanolamine), là
thiết yếu cho sự phát triển đồng bộ của các phôi bào
(blastocyte) và của nội mạc tử cung nhằm chuẩn bị cho sự làm tổ.
Để sự làm tổ thành công, chỉ cần một nồng độ anandamide ít cao.
Các nồng độ huyết thanh của anandamide được điều hòa bởi một
hydrolase, FAAH (fatty acid amide hydrolase). Enzyme này chuyển
hóa anandamide thành acide arachidonique và éthanolamine. Các
nồng độ trong máu ngoại biên của FAAH thấp hơn một cách đáng kể
nơi các phụ nữ sau đó bị sẩy thai. Các nhà nghiên cứu của đại
học Leicester, O.Habayeb và các cộng sự viên đã thực hiện một
công trình nghiên cứu tiền phong nơi các phụ nữ dọa sẩy thai và
đã nhận xét rằng các nồng độ cao trong huyết thanh của
anandamide liên kết với một sẩy thai sau đó. Các kết quả của
công trình nghiên cứu quy mô nhỏ này (45 phụ nữ) sẽ phải được
xác nhận bởi một công trình rộng lớn hơn và trong các dân số
khác nhau. Các nhà nghiên cứu hy vọng có thể phát triển một trắc
nghiệm có thể sử dụng trong thực hành lâm sàng.
Nguồn :
LE JOURNAL DU MEDECIN
28/3/2008
4/ KHI EO
THẮT LƯNG RỘNG RA, NGUY CƠ SA SÚT TRÍ TUỆ TĂNG LÊN
Một cái bụng phệ sẽ có nguy cơ
lớn hơn là tiền sử gia đình, trong việc làm tăng khả năng bị
những rối loạn về nhận thức (cognitive disorders), như bệnh
Alzheimer, một công trình nghiên cứu đã gợi ý như thế.
Việc có một cái bụng phệ ở tuổi trung niên sẽ làm gia
tăng khả năng phát triển chứng sa sút trí tuệ (démence) lúc về
già, theo một nghiên cứu mới được công bố hôm thứ tư. Công trình
nghiên cứu gợi ý rằng sự tích tụ mỡ ở bụng là một yếu tố nguy cơ
còn lớn hơn cả tiền sử gia đình.
Công trình nghiên cứu này đã được thực
hiện nơi 6.583 người trưởng thành, và nhận thấy rằng những người
trong lứa tuổi từ 40 đến 45 với lượng mỡ bụng cao nhất, có khả
năng phát triển chứng sa sút trí tuệ 3 lần nhiều hơn những người
có lượng mỡ thấp nhất.
Trái lại, những người có cha mẹ hoặc anh hay chị
em ruột bị bệnh Alzheimer, sẽ có nguy cơ phát triển bệnh 2 lần
nhiều hơn.
Báo cáo đăng trên tờ Neurology là báo cáo mới nhất cho
thấy rằng mỡ bụng có thể đưa đến những nguy cơ nghiêm trọng đối
với sức khỏe, ngay cả đối với những người không bị chứng béo phì
(obese). Các công trình nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ rằng
những người có bụng phệ có khả năng mắc phải bệnh đái đường, bị
đột quỵ và bệnh tim nhiều hơn.
“ Điều này phải là một lời kêu gọi nhằm
thức tỉnh các người ở tuổi trung niên về chế độ ăn uống và thể
dục ”, BS Sam Gandy, một phát ngôn viên của Hiệp Hội Alzheimer
đã nói như vậy. “ Nếu họ không e sợ lắm về bệnh tim, có lẽ họ sẽ
lo âu hơn về việc mất chức năng trí tuệ ”.
Chứng sa sút trí tuệ là một tình trạng
bệnh lý có liên quan đến sự mất trí nhớ và các chức năng nhận
thức khác. Bệnh này ảnh hưởng đến 5,7 triệu người Mỹ, và gây
bệnh khoảng 1 trên 10 người ở lứa tuổi trên 65. Bệnh Alzheimer
là dạng thông thường nhất của chứng sa sút trí tuệ, chịu trách
nhiệm 60% đến 80% các trường hợp bệnh lý này.
Chứng tăng thể trọng (surpoids, overweight)) cũng đã
trở thành một vấn đề y tế
đáng kể ở Hoa Kỳ. Khoảng 50% những người trưởng thành ở Hoa Kỳ
có một lượng mỡ bụng không lành mạnh, theo một báo cáo mới nhất.
Những người có khuynh hướng có mỡ tập trung ở bụng
thường được mô tả là có dạng hình quả táo (apple-shaped) và có
tỷ suất eo thắt lưng-hông lớn hơn 1/1 nếu là đàn ông và lớn hơn
0,8/1 nếu là đàn bà. Nhóm có gia tăng thể trọng quan trọng khác
được mô tả là có dạng hình quả lê (pear-shaped), với đặc điểm mỡ
bao quanh đùi và phần dưới của thân.
Những người tham gia công trình
nghiên cứu là các hội viên của Kaiser Permanente ở Bắc
California. Những người này có mỡ bụng được đo trong khoảng thời
gian giữa năm 1964 và 1973.
Các nhà lâm sàng đã đo mỡ bụng bằng cách đặt một đầu
của một dụng cụ có hình kềm lên lưng của mỗi người tham dự, và
đầu kia lên bụng. Một người có nhiều
mỡ bụng nếu khoảng cách giữa hai đầu của dụng cụ (đường kính)
lớn hơn 25 cm, hay 9,8 inches.
Trung bình 36 năm sau, 16% những người tham dự công
trình nghiên cứu này đã được chẩn đoán là bị chứng sa sút trí
tuệ.
Những người với tăng thể trọng và có
một bụng phệ vào lúc được đo, có khả năng phát triển chứng sa
sút trí tuệ lúc về già, 2,3 lần nhiều hơn những người có một
trọng lượng và kích thước bụng lành mạnh khi họ trẻ tuổi hơn.
Các nhà nghiên cứu đã xếp loại những
người tham dự là tăng thể trọng (overweight) nếu những người
này có chỉ số khối lượng cơ thể (body mass index) từ 25 đến
29,9. Chỉ số này (cũng được gọi là BMI) là một tỷ suất của chiều
cao và trọng lượng.
Những người béo phì (obese) (với BMI lớn hơn 30) và
có một bụng phệ ở tuổi trung niên, có nguy cơ phát triển chứng
sa sút trí tuệ 3,6 lần nhiều hơn những người có trọng lượng và
kích thước của bụng ở mức lành mạnh.
Theo báo cáo, việc gia tăng mỡ ở đùi không làm gia tăng
nguy cơ mắc phải chứng sa sút trí tuệ,
Tác giả của công trình, Rachel A.
Whitmer, một nhà nghiên cứu của Kaiser Permanente, nói rằng công
trình nghiên cứu này nhấn mạnh sự cần thiết đối với các thầy
thuốc phải “ kiểm tra không chỉ trọng lượng cơ thể, mà còn phải
biết bao nhiêu mỡ bệnh nhân hiện đang có vào lúc họ ở trong lứa
tuổi trung niên ”
Whitmer nói rằng các nhà khoa học đã không biết mỡ ở
bụng có thể góp phần như thế nào vào nguy cơ phát triển của
chứng sa sút trí tuệ.
Một giả thuyết nói rằng hormones và proteines
được phóng thích bởi mỡ bụng, đã kích thích sự tạo thành các
mảng dạng tinh bột (amyloid plaques) trong não bộ. Mà các mảng
này lại liên kết với bệnh Alzheimer. Mỡ bụng về phương diện sinh
học hoạt tính hơn mỡ nằm ở những vùng khác của cơ thể, Whitmer
đã nói như vậy.
Một khả năng khác, Whitmer nói, là
chứng sa sút trí tuệ không liên quan trực tiếp với mỡ bụng nhưng
liên kết với các bệnh liên quan với chứng béo phì như đột quỵ,
đái đường hay bệnh tim mạch.
Mặc dầu việc làm mất thể trọng là một
thách thức, bà nói, nhưng dầu sao sự làm mất mỡ ở bụng là dễ làm
hơn so với các loại mỡ ở những nơi khác.
“ Tin tốt lành là chứng
sa sút trí tuệ sẽ biến mất với chế độ ăn uống kiêng cử và tập
thể dục ”, Whitmer đã nói như vậy
Nguồn
:
LOS ANGELES TIME 27/3/2008
5/ RƯỢU VÀ CHỨNG TINH
HOÀN ẨN
Chứng tinh hoàn ẩn (
cryptorchidie) tương ứng với sự ngừng di chuyển của tinh hoàn ở
một điểm nào đó trong lộ trình bình thường giữa vùng thắt lưng
(nơi tinh hoàn được tạo thành) và bao tinh hoàn (scrotum), nơi
tinh hoàn hiện diện vào lúc sinh.Theo các dữ kiện thu được ở
Phần Lan và Đan Mạch, nguy cơ bị chứng tinh hoàn ẩn nơi trẻ em
càng lớn khi việc uống rượu càng quan trọng nơi bà mẹ trong thời
kỳ có thai. Sự gia tăng nguy cơ này độc lập với các yếu tố nguy
cơ khác như tuổi của bà mẹ, số lần đẻ, trọng lượng lúc sinh, hay
là chứng nghiện thuốc lá.
Nguồn :
SCIENCES ET AVENIR 4/2008
6/
CHÈ XANH, LYCOPENE, SELENIUM VÀ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN.
Ung thư tiền liệt tuyến (cancer de la
prostate) thường xảy ra nhất nơi đàn ông trên 50 tuổi.Trên thế
giới có 680.000 trường hợp mới được phát hiện mỗi năm. Ở Pháp có
40.000 trường hợp mỗi năm.
Đây là một ung thư hiển nhiên liên
kết với tuổi tác, với các tiền sử gia đình, và đôi khi với nguồn
gốc chủng tộc.Từ lâu, mối liên hệ
giữa ung thư này với cách ăn uống đã gây nhiều tranh
cãi. Nhưng theo những dữ kiện mới nhất của WCRF (World Cancer
Research Fund), những thức ăn giàu lycopène và sélénium đúng là
có tác dụng bảo vệ chống ung thư tiền liệt tuyến. Cái sắc tố đỏ
(lycopène) đem lại sắc màu cho quả cà chua này, được khuyên nên
dùng để làm giảm nguy cơ bị ung thư tiền liệt tuyến hay để làm
giảm tiến triển của bệnh ung thư này. Sélénium, có trong nhiều
thức ăn khác nhau (gan, loài tôm cua...) cũng được khuyến nghị.
Vào năm 2005, một công trình nghiên cứu đã muốn đánh
giá tác động của một sự thay đổi lối sống lên ung thư tiền liệt
tuyến. Công trình đã chứng tỏ rằng có thể làm ngừng sự tiến
triển của khối u và ngay cả làm thoái bộ khối u này bằng cách
thay đổi căn bản lối sống và chế độ ăn uống. Một nhóm nghiên cứu
ở California đã tuyển mộ 100 người với chẩn đoán ung thư tuyến
tiền liệt được xác định. Những người tình nguyện được phân chia
thành hai nhóm, một nhóm gồm những người thay đổi triệt để vệ
sinh đời sống của họ, theo một chế độ ăn chay (régime
végétarien) kết hợp với luyện tập aérobic và yoga, nhóm kia là
những người từ chối sự thay đổi này vì lý do cá nhân. Sau một
năm theo dõi, những nhà nghiên cứu đã chứng nhận rằng nồng độ
PSA trong máu, một chỉ dấu đặc hiệu của ung thư tiền liệt tuyến,
đã giảm 4% trong nhóm theo chế độ ăn uống mới trong khi tăng 6%
trong nhóm kia !
Cuối năm 2007, một công trình nghiên cứu Nhật Bản đã
chứng tỏ lợi ích của chè xanh. Sau khi đã nhận xét một tần số ít
hơn của ung thư tiền liệt tuyến nơi những người châu Á, các nhà
nghiên cứu đã phân tích các thói quen ăn uống của 50.000 công
dân của nước họ. Họ đã chứng nhận rằng các nguy cơ phát triển
một ung thư tuyến tiền liệt ở một giai đoạn tiến triển là 50%
thấp hơn nơi những người uống ít nhất 5 tách chè xanh mỗi ngày,
so với những người uống ít hơn một tách.
Trái lại, về các yếu tố làm dễ, các
chuyên viên của WCRF đánh giá rằng việc cho bổ sung quá nhiều
calcium ( hơn 200 g mỗi ngày, hoặc 2 lít sữa hoặc hơn 2
camemberts..) là điều cần phải nên tránh.
Nguồn : SCIENCES
ET VENIR 4/2008
7/
NAM NỮ KHÔNG BÌNH ĐẲNG TRƯỚC CHỨNG TRẦM CẢM.
Bây giờ người ta hiểu rõ hơn tại sao
các phụ nữ bị chứng trầm cảm (dépression) nhiều hơn đàn ông.
Hệ sérotoninergique của não bộ khác
nhau tùy theo giới tính. Sérotonine can thiệp đặc biệt trong sự
điều hòa tính khí (humeur) và giấc ngủ. Nhờ chụp X quang não bộ,
các nhà nghiên cứu Thụy Điển thuộc Viện Karolinska đã quan sát
nhận thấy rằng các phụ nữ có những thụ thể (récepteur) đối với
sérotonine, nhiều hơn so với đàn ông. Mặt khác, các bà có những
protéines để tái thu và vận chuyển sérotonine ít hơn so với các
ông. Thế mà phần lớn các thuốc chống trầm cảm tác dụng lên các
protéines này. Theo Anna-Lena Nordstrom, người lãnh đạo công
trình nghiên cứu, “ điều này giúp hiểu được tại sao các ông và
các bà đáp ứng đôi khi khác nhau với các điều trị chống trầm cảm
”
Nguồn
: SCIENCE ET VIE
4/2008
8/ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG : KHI NÀO
TIÊM CHỦNG ?
Có nên đợi đến 14 tuổi thay vì 11 tuổi
để tiêm chủng các thiếu nữ chống lại các papillomavirus người
(HPV), loại 16 và 18, căn nguyên của 70% các trường hợp ung thư
cổ tử cung ? Vấn đề này vừa được tranh luận bởi Viện Hàn Lâm Y
Học Pháp. “ Vaccin này phải được chủng trước khi bắt đầu đời
sống sinh dục, bởi vì người ta biết rằng các HPV, rất độc lực,
thường mắc nhiễm trong 3 năm đầu của đời sống tình dục ”, giáo
sư Bégué nhắc lại như thế. Căn cứ trên chỉ dẫn này, các chuyên
viên Pháp, từ năm qua, đã đề nghị thực hiện tiêm chủng vào lúc
14 tuổi. Nhưng vào lứa tuổi này không một thăm khám nào được dự
kiến cho các tiêm chủng nhắc lại. Do đó sự chủng ngừa có khả
năng bị bỏ sót bởi các thiếu nữ . Tiêm chủng vào năm 11 tuổi có
lợi điểm là tương ứng với các tiêm chủng nhắc lại. Nhưng vẫn còn
một ẩn số : Thời hạn bảo vệ do việc tiêm chủng mang lại sẽ là
bao lâu và có phải tiêm nhắc lại vào tuổi thiếu niên hay không,
vì như vậy lại sẽ có khả năng bị bỏ sót như trường hợp tiêm
chủng vào lúc 14 tuổi ? Hiện nay thời gian nhìn lại chỉ mới 5
nam, tuy nhiên, sau khi tính toán thiệt hơn, Hội Hàn Lâm Y Học
Pháp đã quyết định đề nghị tiêm chủng chống ung thư cổ tử cung
vào năm 11 tuổi .
Nguồn
: SCIENCE ET VIE
4/2008
9/ UNG THƯ BÀNG
QUANG : MỘT CHẨN ĐOÁN MỚI BẰNG NHÌN HUỲNH QUANG.
Giáo Sư Thierry Lebret, thầy thuốc chuyên khoa
tiết niệu của bệnh viện Foch de Suresnes, bình luận những tiến
bộ về ung thư bàng quang, được trình bày nhân hội nghị chuyên đề
mới đây về các ung thư niệu-sinh dục ở San Francisco.
Hỏi : Người ta ít nói về ung thư bàng quang.
Có phải loại ung thư này hiếm xảy ra
chăng ?
Giáo sư Thierry Lebret : Trái lại là khác !
Về mức độ thường xảy, thì đó là ung thư đứng hàng thứ 4 ở đàn
ông và đứng hàng thứ 7 ở phụ nữ.Tính tổng cộng, người ta thống
kê được 10.000 trường hợp ung thư bàng quang mới mỗi năm ở
Pháp.
Hỏi : Có những người có bẩm chất bị ung thư
bàng quang và có những yếu tố nguy cơ đặc biệt không ?
Giáo sư Th.L : Không có khuynh hướng gia đình
trong sự phát sinh ung thư này.Thuốc lá là nguyên nhân chính của
sự phát triển các khối u bàng quang. Bàng quang là một cơ quan
đặc biệt dễ bị gây thương tổn bởi các hợp chất hóa học. Thuốc lá
giải thích sự khác nhau về tần số mắc bệnh giữa hai giới tính.
Nhiễm độc thuốc lá ở đàn ông phổ biến hơn đàn bà. Cũng không nên
quên vài độc chất nghề nghiệp, như thuốc nhuộm (thí dụ aniline)
và vài dẫn xuất hóa học được dùng trong chế tạo cao su và các
chất cách nhiệt (isolants de chauffage)
Hỏi : Nếu được phát hiện kịp thời, đó có phải là
một ung thư mà ta thuờng chữa lành ?
Giáo sư Th.L: Nhìn toàn bộ, ung thư bàng
quang được chữa lành trong 80% các trường hợp. Nhưng điều chủ
yếu là sự phát hiện sớm và chất lượng của chẩn đoán.
Hỏi : Những triệu chứng thường thấy nhất của
ung thư bàng quang là gì ?
Giáo sư Th.L : Hầu như luôn luôn chính sự
xuất hiện của máu trong nước tiểu báo động bệnh nhân. Bất thường
này không nhất thiết phải tương quan với một khối u bàng quang
và cũng có thể chỉ do một nhiễm trùng đường tiết niệu, sỏi hay
một thương tổn của thận. Dầu sao đi nữa, việc chứng nhận nước
tiểu hồng hay đỏ, có hay không có cục máu đông, đều cần phải
được thăm dò. Những triệu chứng khác có thể được biểu hiện, như
muốn đi tiểu không cưỡng được hoặc đi tiểu quá nhiều lần, đôi
khi đau bụng.
Hỏi : Ung thư bàng quang được chẩn đoán như
thế nào ?
G.S Th.L : Bắt đầu bằng
tìm kiếm trong nước tiểu những tế bào bất thường (frottis
urinaire) nhưng xét nghiệm duy nhất cho phép dẫn đến chẩn đoán
cuối cùng là nội sợi soi bàng quang (fibroscopie vésicale).
Hỏi : Thăm dò này được
tiến hành như thế nào ?
G.S Th.L : công cuộc thăm
dò này chỉ cần 5 phút, được thực hiện ở phòng khám và chủ yếu là
đưa vào đường tiết niệu những vi sợi quang học (microfibres
optiques), được đẩy ngược dòng cho đến bàng quang để thăm dò.
Việc làm nhỏ dụng cụ quang học đã cho phép làm cho khám nghiệm
này rất ít đau đớn và chịu đựng được tốt bởi các ông cũng như
các bà. Trong bàng quang, khi có một khối u, khối u này thường
xuất hiện dưới dạng một polype màu dâu tây, phải được lấy đi vài
ngày sau đó.
Hỏi : Cho đến nay, những
kết quả nào đã thu được với phương cách cổ điển này và những
điều bất lợi nào đã buộc phải hiệu chính một trắc nghiệm mới ?
G.S Th.L : Vào lúc cắt
bỏ, chúng tôi có thể loại bỏ hoàn toàn 70% các khối u bàng
quang. Sau đó, sự phân tích dưới kính hiển vi mô được lấy ra sẽ
hướng dẫn bước tiếp theo của điều trị. Nếu khối u ở nông, trường
hợp thông thường nhất, thì động tác giải phẫu sẽ dừng lại ở đó.
Người ta sẽ hoàn tất cuộc giải phẫu bằng cách tiêm vào bàng
quang các chất chống ung thư, mỗi tuần một lần, trong 6 tuần.
Nghi thức điều trị này cho phép chữa lành bệnh, không tái phát 2
trên 3 trường hợp. Nhưng tiếc thay, và rất thường xảy ra với
loại ung thư này, các vi thương tổn (microlésions) không nhìn
thấy được, vẫn hiện diện trong những nơi khác của bàng quang, và
về sau sẽ là mầm mống của tái phát và của sự phát triển ung thư
không được để ý đến. Một phần lớn của tiên lượng của ung thư này
là trong khả năng lấy đi toàn bộ các thương tổn ngay trong lần
giải phẫu bằng nội soi đầu tiên.
Hỏi : Kỹ thuật mới này là
gì và được thực hiện như thế nào ?
G.S Th.L : Một giờ trước
khi thủ thuật, người ta sẽ tiêm vào bàng quang một chất không
gây đau. Chất này sẽ gắn một cách đặc hiệu vào tất cả các thương
tổn hiện diện, dầu cho bé nhỏ thế nào đi nữa. Sau đó, dưới cái
nhìn của nhà ngoại khoa, các thương tổn này sẽ xuất hiện dưới
dạng huỳnh quang, nếu phẫu thuật viên nhìn bàng quang bằng ánh
sáng màu xanh. Trắc nghiệm này là một cuộc cách mạng thật sự
trong chẩn đoán sớm bệnh ung thư bàng quang bởi vì ung thư càng
khám phá sớm, thì cơ may chữa lành càng lớn.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã
chứng tỏ hiệu quả của trắc nghiệm mới này ?
G.S
Th.L : Nhiều công trình nghiên cứu đã xác nhận kỹ thuật này,
vừa nhận được sự chấp thuận sử dụng của 27 nước châu Âu. Trong
những thể ung thư hung hãn nhất và khó nhìn thấy nhất (các ung
thư tại chỗ : carcinomes in situ), tỷ lệ được phát hiện, trước
khi có trắc nghiệm này là dưới 50%.
Từ nay tỷ lệ này tăng
lên 95% dưới ánh sáng xanh ! Điều này cũng muốn nói rằng tỷ lệ
chữa lành của những ung thư bàng quang hẳn phải còn gia tăng và
số các trường hợp tái phát sẽ giảm rất rõ rệt.
Hỏi : Nếu các thương tổn
ung thư bàng quang tiến triển hơn (20-25% các trường hợp), có
những tiến bộ trong điều trị không ?
G.S Th.L: Khi ung thư thâm nhiễm sâu hơn
vào thành bàng quang, phải dự kiến cắt bỏ toàn bộ cơ quan và
thay thế bằng một đoạn ruột được khuôn theo. Một tiến bộ quan
trọng : ngày nay các kỹ thuật thay thế, mà trước kia dành cho
đàn ông, từ nay cũng được đề nghị cho phụ nữ. Kỹ thuật này cho
phép đảm bảo cho bệnh nhân không bị chứng són đái (incontinence
urinaire) sau khi mổ, phù hợp với một hoạt động xã hội bình
thường, mà không làm biến đổi sơ đồ của cơ thể.
Nguồn
: PARIS MATCH 20/3 -
26/3/2008
10/ 457%
Đó là con số gia tăng của số các phẫu
thuật thẩm mỹ ở Hoa kỳ trong 10 năm. Hoặc một tổng cộng 11,7
triệu trường hợp giải phẫu được thực hiện, nhất là ở các phụ nữ
(91%). 5 loại phẫu thuật thường được thực hiện nhất là tiêm
thuốc Botox, hút mỡ bụng (liposuccion), làm tăng hoặc làm giảm
thể tích vú và nâng mi mắt (relèvement des paupières).
Nguồn : SCIENCES
ET AVENIR 4/2008
BS Nguyễn Văn Thịnh
(4/4/2008)
Trở về Trang Chính
|