Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

E-Mail: bsnguyenvanthinh@khoahoc.net

10 tháng 04 năm 2008

1/ LÀM GIẢM TÀN TẬT DO MỘT CƠN ĐỘT QỤY.  
         Sự nhanh chóng xử lý điều trị tai biến mạch máu não ở mỗi giai đoạn có thể làm giảm tỷ lệ tử vong và nguy cơ bị tàn tật. CHU Dijon vừa chứng minh điều đó.                          
          Trong vòng 2 năm, Trung tâm bệnh viện đại học này đã có khả năng làm giảm tỷ lệ tử vong và số những người bị tàn tật sau một tai biến mạch máu não, bằng cách xử lý từng giai đoạn, từ khâu bác sĩ gia đình đến khâu nhân viên khiêng cáng, nhằm cải thiện sự nhanh chóng trong điều trị. Kinh nghiệm này là một đối tượng của một bài báo khoa học, được công bố trong tạp chí Hoa Kỳ Stroke.                   
          Mỗi năm, ở Pháp có 150.000 người bị tai biến mạch máu não, với các yếu tố làm dễ như tuổi tác, bệnh cao huyết áp, chứng nghiện thuốc lá, tăng cholestérol huyết và bệnh đái đường. Tai biến mạch máu não là nguyên nhân đứng đầu gây tàn tật mắc phải.Trong 80% các trường hợp, tai biến mạch máu não là do một động mạch của não bộ bị bít tắc bởi một huyết khối (thrombose)  (một cục máu đông). Vào cuối những năm 1990, một thuốc làm tan sợi huyết  (médicament fibrinolytique) đã được hiệu chính.Thuốc này, lúc cho bằng đường tĩnh mạch, có thể góp phần làm tan cục máu đông .

 

CUỘC CHẠY ĐUA VỚI THỜI GIAN 
            Những thử nghiệm lâm sàng đã phát hiện tính hiệu quả không thể tranh cãi được trong sự giảm tỷ lệ tử vong và mức độ tàn tật, với điều kiện là thuốc  làm tan sợi huyết  được cho dưới 3 giờ sau khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên. Bệnh nhân phải dưới 80 tuổi, không ở trong tình trạng hôn mê và dĩ nhiên sự thiếu máu cục bộ não (ischémie cérébrale) phải được xác nhận bằng chụp X quang. Số bệnh nhân được hưởng một phép điều trị tiên tiến như thế vẫn còn ít ở Pháp, vì lẽ thời hạn thuốc có thể được cho là quá ngắn. 

            Tháng giêng 2006, giáo sư Maurice Giroud, trưởng khoa bệnh lý mạch máu-thần kinh, đi từ điều chứng thực rằng số những trường hợp dùng liệu pháp làm tan sợi huyết (fibrinolyse) để điều trị tai biến mạch máu não là quá thấp, do sự chậm trễ trong xử trí điều trị, nên đã tổ chức một khóa đào tạo trong 3 tháng nhằm vào các đối tượng là các người chủ chốt có liên quan, như các bác sĩ gia đình, các nhân viên điều phối của Samu, các nhân viên khiêng cáng, các y tá làm việc ở phòng cấp cứu, các nhân viên phòng xét nghiệm, các thầy thuốc quang tuyến…Mục tiêu là, ngay sau khi nhận cú điện thoại của một người bị một tai biến mạch máu não đột ngột, các khâu vận chuyển, chẩn đoán và điều trị phải được thiết lập không được làm mất một giây phút nào.
             “ Thí dụ chúng tôi phải hiểu các danh từ được sử dụng bởi các bệnh nhân hay các người thân của họ để mô tả bệnh tai biến mạch máu não (ông ta không có thể nói nữa, ông ta bại liệt, ông ta kêu van đau đầu) để cho nhân viên y tá phòng cấp cứu đôi khi tiếp nhận trực tiếp bệnh nhân mà không phải qua khâu vận chuyển y tế, hoặc có khả năng nghi ngờ một tai biến mạch máu não và hành động nhanh chóng, giáo sư Maurice Giroud đã giải thích như vậy. Chúng tôi đã gặp gỡ các nhân viên khiêng cáng, một trong những mắc xích có thể làm chậm trễ trong việc mang các bệnh nhân đến những đơn vị điều trị mạch máu- thần kinh (unités de soins neuro-vasculaires), để giải thích cho họ tầm quan trọng của một thái độ xử trí điều trị nhanh chóng ”
           Cuối năm 2007, sự đánh giá một hành động xử trí như thế đã được thực hiện và cho thấy rằng các thời hạn can thiệp cho một bệnh nhân bị tai biến mạch máu não đã giảm đi đáng kể. Tỷ lệ chụp scanner được thực hiện trong 3 giờ đầu sau những triệu chứng đầu tiên đã gia tăng từ 46% lên 83%, thời hạn từ khi bệnh nhân đến phòng cấp cứu đến khi được chụp X quang đã giảm từ 87 phút xuống còn 37 phút, thời hạn từ khi bệnh nhân đến cho đến lúc có được kết quả xét nghiệm đã giảm từ 70 phút xuống còn 32 phút. Số bệnh nhân được nhận liệu pháp tan sợi huyết (fibrinolyse) tăng lên gấp 3. Tỷ lệ tử vong ở bệnh viện đã giảm từ 12% năm 2006 xuống còn 9% năm 2007 và nhất là tỷ lệ bệnh nhân bị tàn tật sau một tai biến mạch máu não đã giảm từ 60% năm 2006 xuống còn 40% năm 2007. “ Hai yếu tố quan trọng trong trường hợp tai biến mạch máu não là sự can thiệp nhanh chóng và sự nhập viện trong một đơn vị mạch máu-thần kinh cho phép làm giảm tỷ lệ tử vong và nguy cơ bị tàn tật ”, giáo sư Giroud đã nói thêm như thế.

             Vào tháng 3 năm 2007, một bản thông tri buộc tất cả các trung tâm bệnh viện, thành lập một đơn vị điều trị mạch máu-thần kinh (unité de soins neurovasculaires).Từ nay, tất cả các Trung tâm bệnh viện đại học (CHU) đều có những đơn vị này, nhưng còn cần phải thực hiện nhiều điều để cho tất cả các bệnh viện toàn khoa cũng sẽ có những đơn vị điều trị như thế bởi vì các bệnh viện toàn khoa là nơi tiếp nhận bộ phận quan trọng nhất các bệnh nhân bị tai biến mạch máu não. Thí dụ của Dijon chứng tỏ rằng chỉ cần một ít thiện chí, chúng ta có thể thắng được cuộc chạy đua với thời gian đôi khi được diễn ra trong trường hợp tai biến mạch máu não.
                               
Nguồn :  LE FIGARO 26/3/2008

 

2/ RUỘT THỪA VIÊM : CHỤP NHIỀU SCANNER HƠN, ÍT DÙNG DAO MỔ HƠN.

             Trong trường hợp đau bụng tỏa lan và nghi ruột thừa viêm, làm sao  tránh cần phải nhờ đến qua nhanh và nhất là vô ích lưỡi dao mổ ? Bằng cách thực hiện một scanner bụng trước khi can thiệp phẫu thuật, công trình của một nhóm nghiên cứu Los Angeles (Hoa Kỳ) đã xác nhận như vậy. Trong một thời kỳ theo dõi 10 năm, các thầy thuốc ngoại khoa đã có thể xác lập mối tương quan giữa các khám nghiệm trước phẫu thuật và các xét nghiệm giải phẫu bệnh lý của các tổ chức mô được lấy ra bằng phẫu thuật.

            Họ đã chứng nhận rằng việc chụp scanner bụng đã làm giảm rất nhiều số những trường hợp mổ cắt bỏ ruột thừa vô ích, làm hạ tỷ lệ mổ từ 24% xuống còn 3%, hoặc chia 8 ! Một công trình nghiên cứu khác, được tiến hành ở Pháp năm 2003, đã chứng tỏ rằng việc sử dụng một cách hệ thống scanner bụng đã cho phép làm giảm tỷ lệ cắt bỏ ruột thừa, từ 22% xuống còn 10%. Các công trình khác đang được tiến hành để đánh giá lợi ích của chụp résonance magnétique (IRM). Nhưng phương cách này, trong tình hình y tế của Pháp hiện nay, gặp phải trở ngại do thời hạn đợi chờ, vì tình trạng thiếu máy.
                  Nguồn :  SCIENCES ET AVENIR 4/2008


3
/ TIÊN ĐOÁN SẨY THAI TỰ PHÁT      
           
Từ 40 đến 50% các thai kỳ được chấm dứt bởi một sẩy thai ngẫu nhiên trước tuần lễ thai nghén thứ 20. Các nghiên cứu trên động vật đã chứng tỏ rằng một endocannabinoide, anandamide (N-arachidonoyl-éthanolamine), là thiết yếu cho sự phát triển đồng bộ của các phôi bào (blastocyte) và của nội mạc tử cung nhằm chuẩn bị cho sự làm tổ. Để sự làm tổ thành công, chỉ cần một nồng độ anandamide ít cao. Các nồng độ huyết thanh của anandamide được điều hòa bởi một hydrolase, FAAH (fatty acid amide hydrolase). Enzyme này chuyển hóa anandamide thành acide arachidonique và éthanolamine. Các nồng độ trong máu ngoại biên của FAAH thấp hơn một cách đáng kể nơi các phụ nữ sau đó bị sẩy thai. Các nhà nghiên cứu của đại học Leicester, O.Habayeb và các cộng sự viên đã thực hiện một công trình nghiên cứu tiền phong nơi các phụ nữ dọa sẩy thai và đã nhận xét rằng các nồng độ cao trong huyết thanh của anandamide liên kết với một sẩy thai sau đó. Các kết quả của công trình nghiên cứu quy mô nhỏ này (45 phụ nữ) sẽ phải được xác nhận bởi một công trình rộng lớn hơn và trong các dân số khác nhau. Các nhà nghiên cứu hy vọng có thể phát triển một trắc nghiệm có thể sử dụng trong thực hành lâm sàng.

Nguồn : LE JOURNAL DU MEDECIN 28/3/2008


4/ KHI EO THẮT LƯNG RỘNG RA, NGUY CƠ SA SÚT TRÍ TUỆ TĂNG LÊN   
          
Một cái bụng phệ sẽ có nguy cơ lớn hơn là tiền sử gia đình, trong việc làm tăng khả năng bị những rối loạn về nhận thức (cognitive disorders), như bệnh Alzheimer, một công trình nghiên cứu đã gợi ý như thế.  
          Việc có một cái bụng phệ ở tuổi trung niên sẽ làm gia tăng khả năng phát triển chứng sa sút trí tuệ (démence) lúc về già, theo một nghiên cứu mới được công bố hôm thứ tư. Công trình nghiên cứu gợi ý rằng sự tích tụ mỡ ở bụng là một yếu tố nguy cơ còn lớn hơn cả tiền sử gia đình.    

         Công trình nghiên cứu này đã được thực hiện nơi 6.583 người trưởng thành, và nhận thấy rằng những người trong lứa tuổi từ 40 đến 45 với lượng mỡ bụng cao nhất, có khả năng phát triển chứng sa sút trí tuệ 3 lần nhiều hơn những người có lượng mỡ thấp nhất.

Trái lại, những người có cha mẹ hoặc anh hay chị em ruột bị bệnh Alzheimer, sẽ có nguy cơ phát triển bệnh 2 lần nhiều hơn.
          Báo cáo đăng trên tờ Neurology là báo cáo mới nhất cho thấy rằng mỡ bụng có thể đưa đến những nguy cơ nghiêm trọng đối với sức khỏe, ngay cả đối với những người không bị chứng béo phì (obese). Các công trình nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ rằng những người có bụng phệ có khả năng mắc phải bệnh đái đường, bị đột quỵ và bệnh tim nhiều hơn.

        “ Điều này phải là một lời kêu gọi nhằm thức tỉnh các người ở tuổi trung niên  về chế độ ăn uống và thể dục ”, BS Sam Gandy, một phát ngôn viên của Hiệp Hội Alzheimer đã nói như vậy. “ Nếu họ không e sợ lắm về bệnh tim, có lẽ họ sẽ lo âu hơn về việc mất chức năng trí tuệ ”.

          Chứng sa sút trí tuệ là một tình trạng bệnh lý có liên quan đến sự mất trí nhớ và các chức năng nhận thức khác. Bệnh này ảnh hưởng đến 5,7 triệu người Mỹ, và gây bệnh khoảng 1 trên 10 người ở lứa tuổi trên 65. Bệnh Alzheimer là dạng thông thường nhất của chứng sa sút trí tuệ, chịu trách nhiệm 60% đến 80% các trường hợp bệnh lý này.     
         Chứng tăng thể trọng (surpoids, overweight)) cũng đã trở thành một vấn đ y tế đáng kể ở Hoa Kỳ. Khoảng 50% những người trưởng thành ở Hoa Kỳ có một lượng mỡ bụng không lành mạnh, theo một báo cáo mới nhất.
          Những người có khuynh hướng có mỡ tập trung ở bụng thường được mô tả là có dạng hình quả táo (apple-shaped) và có tỷ suất eo thắt lưng-hông lớn hơn 1/1 nếu là đàn ông và lớn hơn 0,8/1 nếu là đàn bà. Nhóm có gia tăng thể trọng quan trọng khác được mô tả là có dạng hình quả lê (pear-shaped), với đặc điểm mỡ bao quanh đùi và phần dưới của thân.

           Những người tham gia công trình nghiên cứu là các hội viên của Kaiser Permanente ở Bắc California. Những người này có mỡ bụng được đo trong khoảng thời gian giữa năm 1964 và 1973. 
           Các nhà lâm sàng đã đo mỡ bụng bằng cách đặt một đầu của một dụng cụ có hình kềm lên lưng của mỗi người tham dự, và đầu kia lên bụng. Một người có nhiu mỡ bụng nếu khoảng cách giữa hai đầu của dụng cụ (đường kính) lớn hơn 25 cm, hay 9,8 inches.
          Trung bình 36 năm sau, 16% những người tham dự công trình nghiên cứu này đã được chẩn đoán là bị chứng sa sút trí tuệ.

           Những người với tăng thể trọng và có một bụng phệ vào lúc được đo, có khả năng phát triển chứng sa sút trí tuệ lúc về già, 2,3 lần nhiều hơn những người có một trọng lượng và kích thước bụng lành mạnh khi họ trẻ tuổi hơn.

          Các nhà nghiên cứu đã xếp loại những người tham dự là tăng thể trọng  (overweight) nếu những người này có chỉ số khối lượng cơ thể (body mass index) từ 25 đến 29,9. Chỉ số này (cũng được gọi là BMI) là một tỷ suất của chiều cao và trọng lượng.
           Những người béo phì (obese)  (với BMI lớn hơn 30) và có một bụng phệ ở tuổi trung niên, có nguy cơ phát triển chứng sa sút trí tuệ 3,6 lần nhiều hơn những người có trọng lượng và kích thước của bụng ở mức lành mạnh.
         Theo báo cáo, việc gia tăng mỡ ở đùi không làm gia tăng nguy cơ mắc phải chứng sa sút trí tuệ, 

         Tác giả của công trình, Rachel A. Whitmer, một nhà nghiên cứu của Kaiser Permanente, nói rằng công trình nghiên cứu này nhấn mạnh sự cần thiết đối với các thầy thuốc phải “ kiểm tra không chỉ trọng lượng cơ thể, mà còn phải biết bao nhiêu mỡ bệnh nhân hiện đang có vào lúc họ ở trong lứa tuổi trung niên ”
          Whitmer nói rằng các nhà khoa học đã không biết mỡ ở bụng có thể góp phần như thế nào vào nguy cơ phát triển của chứng sa sút trí tuệ.

Một giả thuyết nói rằng hormones và proteines được phóng thích bởi mỡ bụng, đã kích thích sự tạo thành các mảng dạng tinh bột (amyloid plaques) trong não bộ. Mà các mảng này lại liên kết với bệnh Alzheimer. Mỡ bụng về phương diện sinh học hoạt tính hơn mỡ nằm ở những vùng khác của cơ thể, Whitmer đã nói như vậy.

         Một khả năng khác, Whitmer nói, là chứng sa sút trí tuệ không liên quan trực tiếp với mỡ bụng nhưng liên kết với các bệnh liên quan với chứng béo phì như đột quỵ, đái đường hay bệnh tim mạch.

         Mặc dầu việc làm mất thể trọng là một thách thức, bà nói, nhưng dầu sao sự làm mất mỡ ở bụng là dễ làm hơn so với các loại mỡ ở những nơi khác.

          “ Tin tốt lành là chứng sa sút trí tuệ sẽ biến mất với chế độ ăn uống kiêng cử và tập thể dục ”, Whitmer đã nói như vậy
                        
Nguồn : LOS ANGELES TIME 27/3/2008

          

5/ RƯỢU VÀ CHỨNG TINH HOÀN ẨN

              Chứng tinh hoàn ẩn ( cryptorchidie) tương ứng với sự ngừng di chuyển của tinh hoàn ở một điểm nào đó trong lộ trình bình thường giữa vùng thắt lưng (nơi tinh hoàn được tạo thành) và bao tinh hoàn (scrotum), nơi tinh hoàn hiện diện vào lúc sinh.Theo các dữ kiện thu được ở Phần Lan và Đan Mạch, nguy cơ bị chứng tinh hoàn ẩn nơi trẻ em càng lớn khi việc uống rượu càng quan trọng nơi bà mẹ trong thời kỳ có thai. Sự gia tăng nguy cơ này độc lập với các yếu tố nguy cơ khác như tuổi của bà mẹ, số lần đẻ, trọng lượng lúc sinh, hay là chứng nghiện thuốc lá.
                        Nguồn : SCIENCES ET AVENIR 4/2008

 

6/ CHÈ XANH, LYCOPENE, SELENIUM VÀ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN.

           Ung thư tiền liệt tuyến (cancer de la prostate) thường xảy ra nhất nơi đàn ông trên 50 tuổi.Trên thế giới có 680.000 trường hợp mới được phát hiện mỗi năm. Ở Pháp có 40.000 trường hợp mỗi năm.

            Đây là một ung thư hiển nhiên liên kết với tuổi tác, với các tiền sử gia đình, và đôi khi với nguồn gốc chủng tộc.Từ lâu, mối liên hệ  giữa ung thư này với cách ăn uống đã gây nhiều tranh cãi. Nhưng theo những dữ kiện mới nhất của WCRF (World Cancer Research Fund), những thức ăn giàu lycopène và sélénium đúng là có tác dụng bảo vệ chống ung thư tiền liệt tuyến. Cái sắc tố đỏ (lycopène) đem lại sắc màu cho quả cà chua này, được khuyên nên dùng để làm giảm nguy cơ bị ung thư tiền liệt tuyến hay để làm giảm tiến triển của bệnh ung thư này. Sélénium, có trong nhiều thức ăn khác nhau (gan, loài tôm cua...) cũng được khuyến nghị.
          Vào năm 2005, một công trình nghiên cứu đã muốn đánh giá tác động của một sự thay đổi lối sống lên ung thư tiền liệt tuyến. Công trình đã chứng tỏ rằng có thể làm ngừng sự tiến triển của khối u và ngay cả làm thoái bộ khối u này bằng cách thay đổi căn bản lối sống và chế độ ăn uống. Một nhóm nghiên cứu ở California đã tuyển mộ 100 người với chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt được xác định. Những người tình nguyện được phân chia thành hai nhóm, một nhóm gồm những người thay đổi triệt để vệ sinh đời sống của họ, theo một chế độ ăn chay (régime végétarien) kết hợp với luyện tập aérobic và yoga, nhóm kia là những người từ chối sự thay đổi này vì lý do cá nhân. Sau một năm theo dõi, những nhà nghiên cứu đã chứng nhận rằng nồng độ PSA trong máu, một chỉ dấu đặc hiệu của ung thư tiền liệt tuyến, đã giảm 4% trong nhóm theo chế độ ăn uống mới trong khi tăng 6% trong nhóm kia !
          Cuối năm 2007, một công trình nghiên cứu Nhật Bản đã chứng tỏ lợi ích của chè xanh. Sau khi đã nhận xét một tần số ít hơn của ung thư tiền liệt tuyến nơi những người châu Á, các nhà nghiên cứu đã phân tích các thói quen ăn uống của 50.000 công dân của nước họ. Họ đã chứng nhận rằng các nguy cơ phát triển một ung thư tuyến tiền liệt ở một giai đoạn tiến triển là 50% thấp hơn nơi những người uống ít nhất 5 tách chè xanh mỗi ngày, so với những người uống ít hơn một tách.

         Trái lại, về các yếu tố làm dễ, các chuyên viên của WCRF đánh giá rằng việc cho bổ sung quá nhiều calcium ( hơn 200 g mỗi ngày, hoặc 2 lít sữa hoặc hơn 2 camemberts..) là điều cần phải nên tránh.
                       
Nguồn : SCIENCES ET VENIR 4/2008

 

7/ NAM NỮ KHÔNG BÌNH ĐẲNG TRƯỚC CHỨNG TRẦM CẢM.

            Bây giờ người ta hiểu rõ hơn tại sao các phụ nữ bị chứng trầm cảm (dépression) nhiều hơn đàn ông.

            Hệ sérotoninergique của não bộ khác nhau tùy theo giới tính. Sérotonine can thiệp đặc biệt  trong sự điều hòa tính khí (humeur) và giấc ngủ. Nhờ chụp X quang não bộ, các nhà nghiên cứu Thụy Điển thuộc Viện Karolinska đã quan sát nhận thấy rằng các phụ nữ có những thụ thể (récepteur) đối với sérotonine, nhiều hơn so với đàn ông. Mặt khác, các bà có những protéines để tái thu và vận chuyển sérotonine ít hơn so với các ông. Thế mà phần lớn các thuốc chống trầm cảm tác dụng lên các protéines này. Theo Anna-Lena Nordstrom, người lãnh đạo công trình nghiên cứu, “ điều này giúp hiểu được tại sao các ông và các bà đáp ứng đôi khi khác nhau với các điều trị chống trầm cảm ”
                         
Nguồn :  SCIENCE ET VIE 4/2008


8/ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG : KHI NÀO TIÊM CHỦNG ?

         Có nên đợi đến 14 tuổi thay vì 11 tuổi để tiêm chủng các thiếu nữ chống lại các papillomavirus người (HPV), loại 16 và 18, căn nguyên của 70% các trường hợp ung thư cổ tử cung ? Vấn đề này vừa được tranh luận bởi Viện Hàn Lâm Y Học Pháp. “ Vaccin này phải được chủng trước khi bắt đầu đời sống sinh dục, bởi vì người ta biết rằng các HPV, rất độc lực, thường mắc nhiễm trong 3 năm đầu của đời sống tình dục ”, giáo sư Bégué nhắc lại như thế. Căn cứ trên chỉ dẫn này, các chuyên viên Pháp, từ năm qua, đã đề nghị thực hiện tiêm chủng vào lúc 14 tuổi. Nhưng vào lứa tuổi này không một thăm khám nào được dự kiến cho các tiêm chủng nhắc lại. Do đó sự chủng ngừa có khả năng bị bỏ sót bởi các thiếu nữ . Tiêm chủng vào năm 11 tuổi có lợi điểm là tương ứng với các tiêm chủng nhắc lại. Nhưng vẫn còn một ẩn số : Thời hạn bảo vệ do việc tiêm chủng mang lại sẽ là bao lâu và có phải tiêm nhắc lại vào tuổi thiếu niên hay không, vì như vậy lại sẽ có khả năng bị bỏ sót như trường hợp tiêm chủng vào lúc 14 tuổi ? Hiện nay thời gian nhìn lại chỉ mới 5 nam, tuy nhiên, sau khi tính toán thiệt hơn, Hội Hàn Lâm Y Học Pháp đã quyết định đề nghị tiêm chủng chống ung thư cổ tử cung vào năm 11 tuổi .
                     
Nguồn : SCIENCE ET VIE 4/2008


9/ UNG THƯ BÀNG QUANG : MỘT CHẨN ĐOÁN MỚI BẰNG NHÌN HUỲNH QUANG
.
          Giáo Sư Thierry Lebret, thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu của bệnh viện Foch de Suresnes, bình luận những tiến bộ về ung thư bàng quang, được trình bày nhân hội nghị chuyên đề mới đây về các ung thư niệu-sinh dục ở San Francisco.  
            Hỏi : Người ta ít nói về ung thư bàng quang.
Có phải loại ung thư này hiếm xảy ra chăng ? 
            Giáo sư Thierry Lebret : Trái lại là khác ! Về mức độ thường xảy, thì đó là ung thư đứng hàng thứ 4 ở đàn ông và đứng hàng thứ 7 ở phụ nữ.Tính tổng cộng, người ta thống kê được 10.000 trường hợp ung thư bàng quang mới mỗi năm ở Pháp.     
            Hỏi : Có những người có bẩm chất bị ung thư bàng quang và có những yếu tố nguy cơ đặc biệt không ?    
            Giáo sư Th.L : Không có khuynh hướng gia đình trong sự phát sinh ung thư này.Thuốc lá là nguyên nhân chính của sự phát triển các khối u bàng quang. Bàng quang là một cơ quan đặc biệt dễ bị gây thương tổn bởi các hợp chất hóa học. Thuốc lá giải thích sự khác nhau về tần số mắc bệnh giữa hai giới tính. Nhiễm độc thuốc lá ở đàn ông phổ biến hơn đàn bà. Cũng không nên quên vài độc chất nghề nghiệp, như thuốc nhuộm (thí dụ aniline) và vài dẫn xuất hóa học được dùng trong chế tạo cao su và các chất cách nhiệt (isolants de chauffage
            Hỏi
: Nếu được phát hiện kịp thời, đó có phải là một ung thư mà ta thuờng chữa lành ? 
            Giáo sư Th.L: Nhìn toàn bộ, ung thư bàng quang được chữa lành trong 80% các trường hợp. Nhưng điều chủ yếu là sự phát hiện sớm và chất lượng của chẩn đoán.  
            Hỏi : Những triệu chứng thường thấy nhất của ung thư bàng quang là gì ?    
            Giáo sư Th.L : Hầu như luôn luôn chính sự xuất hiện của máu trong nước tiểu báo động bệnh nhân. Bất thường này không nhất thiết phải tương quan với một khối u bàng quang và cũng có thể chỉ do một nhiễm trùng đường tiết niệu, sỏi hay một thương tổn của thận. Dầu sao đi nữa, việc chứng nhận nước tiểu hồng hay đỏ, có hay không có cục máu đông, đều cần phải được thăm dò. Những triệu chứng khác có thể được biểu hiện, như muốn đi tiểu không cưỡng được hoặc đi tiểu quá nhiều lần, đôi khi đau bụng.  
            Hỏi : Ung thư bàng quang được chẩn đoán như thế nào ?

            G.S Th.L : Bắt đầu bằng tìm kiếm trong nước tiểu những tế bào bất thường (frottis urinaire) nhưng xét nghiệm duy nhất cho phép dẫn đến chẩn đoán cuối cùng là nội sợi soi bàng quang (fibroscopie vésicale).

             Hỏi : Thăm dò này được tiến hành như thế nào ?

             G.S Th.L : công cuộc thăm dò này chỉ cần 5 phút, được thực hiện ở phòng khám và chủ yếu là đưa vào đường tiết niệu những vi sợi quang học (microfibres optiques), được đẩy ngược dòng cho đến bàng quang để thăm dò. Việc làm nhỏ dụng cụ quang học đã cho phép làm cho khám nghiệm này rất ít đau đớn và chịu đựng được tốt bởi các ông cũng như các bà. Trong bàng quang, khi có một khối u, khối u này thường xuất hiện dưới dạng một polype màu dâu tây, phải được lấy đi vài ngày sau đó.

              Hỏi : Cho đến nay, những kết quả nào đã thu được với phương cách cổ điển này và những điều bất lợi nào đã buộc phải hiệu chính một trắc nghiệm mới ?

              G.S Th.L : Vào lúc cắt bỏ, chúng tôi có thể loại bỏ hoàn toàn 70% các khối u bàng quang. Sau đó, sự phân tích dưới kính hiển vi mô được lấy ra sẽ hướng dẫn bước tiếp theo của điều trị. Nếu khối u ở nông, trường hợp thông thường nhất, thì động tác giải phẫu sẽ dừng lại ở đó. Người ta sẽ hoàn tất cuộc giải phẫu bằng cách tiêm vào bàng quang các chất chống ung thư, mỗi tuần một lần, trong 6 tuần. Nghi thức điều trị này cho phép chữa lành bệnh, không tái phát 2 trên 3 trường hợp. Nhưng tiếc thay, và rất thường xảy ra với loại ung thư này, các vi thương tổn (microlésions) không nhìn thấy được, vẫn hiện diện trong những nơi khác của bàng quang, và về sau sẽ là mầm mống của tái phát và của sự phát triển ung thư không được để ý đến. Một phần lớn của tiên lượng của ung thư này là trong khả năng lấy đi toàn bộ các thương tổn ngay trong lần giải phẫu bằng nội soi đầu tiên.

            Hỏi : Kỹ thuật mới này là gì và được thực hiện như thế nào ?    

            G.S Th.L : Một giờ trước khi thủ thuật, người ta sẽ tiêm vào bàng quang một chất không gây đau. Chất này sẽ gắn một cách đặc hiệu vào tất cả các thương tổn hiện diện, dầu cho bé nhỏ thế nào đi nữa. Sau đó, dưới cái nhìn của nhà ngoại khoa, các thương tổn này sẽ xuất hiện dưới dạng huỳnh quang, nếu phẫu thuật viên nhìn bàng quang bằng ánh sáng màu xanh. Trắc nghiệm này là một cuộc cách mạng thật sự trong chẩn đoán sớm bệnh ung thư bàng quang bởi vì ung thư càng khám phá sớm, thì cơ may chữa lành càng lớn.
            Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng tỏ hiệu quả của trắc nghiệm mới này ?

            G.S Th.L : Nhiều công trình nghiên cứu đã xác nhận kỹ thuật này, vừa nhận được sự chấp thuận sử dụng của 27 nước châu Âu. Trong những thể ung thư hung hãn nhất và khó nhìn thấy nhất (các ung thư tại chỗ : carcinomes in situ), tỷ lệ được phát hiện, trước khi có trắc nghiệm này là dưới 50%. Từ nay tỷ lệ này tăng lên 95% dưới ánh sáng xanh ! Điều này cũng muốn nói rằng tỷ lệ chữa lành của những ung thư bàng quang hẳn phải còn gia tăng và số các trường hợp tái phát sẽ giảm rất rõ rệt.

              Hỏi : Nếu các thương tổn ung thư bàng quang tiến triển hơn (20-25% các trường hợp), có những tiến bộ trong điều trị không ?
              G.S Th.L: Khi ung thư thâm nhiễm sâu hơn vào thành bàng quang, phải dự kiến cắt bỏ toàn bộ cơ quan và thay thế bằng một đoạn ruột được khuôn theo. Một tiến bộ quan trọng : ngày nay các kỹ thuật thay thế, mà trước kia dành cho đàn ông, từ nay cũng được đề nghị cho phụ nữ. Kỹ thuật này cho phép đảm bảo cho bệnh nhân không bị chứng són đái (incontinence urinaire) sau khi mổ, phù hợp với một hoạt động xã hội bình thường, mà không làm biến đổi sơ đồ của cơ thể.
                         
Nguồn : PARIS MATCH 20/3 - 26/3/2008

10/ 457%

         Đó là con số gia tăng của số các phẫu thuật thẩm mỹ ở Hoa kỳ trong 10 năm. Hoặc một tổng cộng 11,7 triệu trường hợp giải phẫu được thực hiện, nhất là ở các phụ nữ (91%). 5 loại phẫu thuật thường được thực hiện nhất là tiêm thuốc Botox, hút mỡ bụng (liposuccion), làm tăng hoặc làm giảm thể tích vú và nâng mi mắt  (relèvement des paupières).
                     
Nguồn : SCIENCES ET AVENIR 4/2008

 

BS Nguyễn Văn Thịnh

(4/4/2008)
 

 

Trở về Trang Chính