PARIS

(phần 1)


 

Đại Linh

10 tháng 05 năm 2007

Lời giới thiệu của Uyên Hạnh:

PARIS.. Thành phố của tình yêu. Đến Paris ta thấy được cái huy hòang của kinh đô ánh sáng, vẻ nguy nga tráng lệ lộng lẫy của lâu đài cung điện, Tháp Eiffel ngọan mục, dòng sông Seine mang âm hưởng chất thơ của những cuộc tình. Nhìn dòng sông Seine ta nghe tiếng thơ Nguyên Sa dào dạt trong hồn. Nhìn những chiếc cầu bắt ngang dòng sông ta thấy được nỗi lòng của những nhịp chân trên đó. Những bước chân rời rạc trong lạc lõng cô đơn hay những bước chân quấn quýt rụng rơi hơi hưởng nồng nàn. Những cung điện đền đài với bao chuyện tình lãng mạn oan trái, sầu đau hay nồng cháy... Thành phố của nguồn tình mà con người của một thuở xa xưa hay con người của những vật vả hôm nay đã, đang và sẽ có dịp nuôi dưỡng để rải xuống đời mùi tình ngọt bùi cay đắng từ trái tim đầy phức tạp của nhau.

 

Lọat bài của Đại Linh, viết theo yêu cầu của khoahoc.net sẽ cống hiến qúy vị hình ảnh và lịch sử  các nơi nỗi tiếng của Paris. Đọc lọat bài viết nầy trước khi đến Paris các bạn sẽ có cái nhìn thông rõ hơn và các bạn sẽ có được cảm giác mình đang tiếp cận với Paris, gần gủi với Paris, thở những hơi thở ươm nồng nắng ấm Paris, để lắng hồn mình với sao ngàn lấp lánh trên bầu trời đêm Paris…

 

Hãy cùng Đại Linh, qua một chuyến du lịch bằng tư tưởng, đi vào lòng Paris, đi trên Champs Elysées - Đại lộ Tình nhân, và bước vào cung điện nguy nga đồ sộ qua những cánh cửa hé mở đưa ta đi vào một hay nhiều thiên tình sử thời vàng son vương gỉa của nếp sống kiêu sa, trước khi thực hiện một cuộc du lịch thực thụ để được đứng giữa lòng Paris mà nghe nhạc tình ngân vang trên các nẻo đường của thành phố hoa lệ rực rỡ nầy. Biết đâu bạn còn nghe được tiếng gió Paris lùa trong tóc mơn man khe khẻ nói lời đón chào. Biết đâu bạn còn nghe được tiếng gió như những hơi thở thật dài, thật buồn cho những cuộc tình đã qua mà hương nồng năm xưa vẫn còn phảng phất.

 

Mời các bạn theo Đại Linh đến Paris, để đứng trước Notre Dame chiêm ngưỡng một công trình kiến trúc vĩ đại kéo dài 40 năm, đứng giữa trời đêm Paris, dưới ngọn tháp Eiffel rực sáng, hay trên dòng sông Seine mà nghe lời tình tự của ngàn xưa nối tiếp ngàn sau …

 

Uyên Hạnh  ĐTĐT  

Khoahoc.net 

 

* * *

PARIS VÀ NAPOLEON

Bonaparte lợi dụng sự bất ổn định của chế độ tổng tài (Directoire) để chiếm lấy chính quyến và vào Điện Tuileries tháng 11 năm 1799 với chức vụ Đệ Nhất Tổng Tài (premier consul). Ngày 2 tháng 12 năm 1804,ở Notre-Dame de Paris, Napoléon Bonaparte được tôn phong Hoàng đế bởi Giáo Hoàng Pie VII. Biến cố này kết thúc một thời kỳ đầy sóng gió được mở ra bởi Cuộc Cách Mạng 1789. Napoléon thiết đặt trong nước một chế độ độc đoán và hiếu chiến, chỉ kéo dài 10 năm nhưng đánh dấu một trong những thời kỳ chói lọi nhất của lịch sử Pháp: Đệ Nhất Đế Chế.

Ngoài những cải cách về hành chánh, bộ dân luật,hệ thống giáo dục,ông ra sức làm cho Paris trở thành thủ đô của thế giới. Ông mở Rue de Rivoli, xây dựng cầu cống và các công trình nghệ thuật, làm giàu có thành phố bằng những chiến lợi phẩm thu được qua các cuộc chiến thắng. Nhưng chính quyền của ông vẫn luôn luôn bấp bênh vì ông không vãn hồi được hoà bình và năm 1814, liên quân Phổ,Áo và Nga đã xâm chiếm Paris và buộc Napoléon phải rút về trên Đảo Elbe. Napoléon đã trở lại Pháp năm 1815, nhưng lại bị đánh bại ở Waterloo. Ông mất năm 1821 trong lúc còn đang bị lưu đày ở Sainte-Hélène.

Arc de Triomphe và Arc de Triomphe du Carrousel là 2 công trình nghệ thuật nổi tiếng nhất trong số các công trình Napoléon đã cho xây dựng. Chính Napoléon đã đặt viên đá đầu tiên năm 1806 cho công trình xây dựng Arc de Triomphe (Khải Hòan Môn) nhưng binh sĩ của ông đã không có cơ hội diễn hành dưới vòm Khải Hoàn Môn này bởi vì công cuộc xây dựng đã bị gián đoạn do sự sụp đổ của Đế Chế.

Công trình xây dựng nầy đã được hoàn tất dưới triều đại Louis-Philippe.Theo đồ án của kiến trúc sư Jean Chalgrin (mất năm 1811) thì Khải Hoàn Môn cao 50 m và rộng 45m. Arc de Triomphe du Carrousel được xây dựng để mừng các trận chiến thằng của Napoléon năm 1805. Khải Hoàn Môn Carrousel được Napoléon cho xây dựng từ năm 1806 đến 1808 để dùng làm cổng chiến thắng dẫn đến Điện Tuileries (Palais des Tuileries).

      Cũng trong lúc ông trị vì, người ta đã khánh thành Nhà Thờ Madeleine và tái xây dựng một phần lớn Điện Louvre. Malmaison và Musée Carnavalet là những thí dụ về phong cách (style) xây dựng thời Đế Chế.



 

ARC DE TRIOMPHE (KHẢI HOÀN MÔN)

Arc de Triomphe hay Khải Hoàn Môn nằm ở Place Charles-De-Gaule (còn gọi là Place de L’Etoile), thuộc quận 8. Quảng trường này là ngã ba của các quận 8, 16 và 17, có đường kính 240m và là nơi gặp gỡ của 12 đại lộ tỏa ra các hướng khác nhau như các vì sao. Mỗi đại lộ mang tên một vị danh tướng (Kléber, Hoche, Foch, Mac Mahon) hoặc một địa danh thắng trận (Iéna, Wagram). Quảng trường là ngã tư giao thông lớn nhất thế giới.

Khải Hoàn Môn được xây dựng là để vinh danh các chiến công của quân đội Napoléon đệ nhất. Năm 1806, Napoléon đệ nhất đã quyết định xây dựng công trình này nhưng mãi đến lúc qua đời công trình vẫn còn dang dở. Chính những thất trận của các cuộc chiến tranh mà ông ta tiến hành sau đó rồi sự thoái vị của Hoàng Đế đã làm đình chỉ các công trình được dự kiến. Cuối cùng chính Louis Philippe đã khánh thành Khải Hoàn Môn năm 1836. Bốn năm sau đó hài cốt của Napoléon được trưng bày ở đây trước khi được chuyển về Điện Invalides.Từ đó Arc de Triomphe đã và đang là chứng nhân lịch sử của những biến cố trọng đại của đời sống Paris.

     Năm 1919 diễn ra cuộc diễn binh đại thắng sau đệ nhất thế chiến. Ngày 11 tháng 11 năm 1920, thi hài của một chiến sĩ vô danh lấy từ Verdun được đem chôn dưới vòm của Khải hoàn Môn. Người chiến sĩ vô danh này là đại diện cho 1.500.000 chiến sĩ đã bỏ mình trong cuộc Đại Chiến. Từ đó một ngọn lửa không bao giờ tắt được thắp sáng ở Mộ Người Chiến Sĩ Vô Danh nầy.

Ngày 26.8.1944 sau khi Paris được giải phóng tướng De Gaule đã đến nghiêng mình trước ngôi mộ này trước khi diễn hành vinh quang trên Đại Lộ Champs-Elysées. Nhưng 4 năm trước đó, năm 1940 chính Hitler vào một sáng sớm và trong một Paris hoang vắng cũng đã đặt bước chân của ông ta trên cùng con đường vinh quang của De Gaule.

       Từ Khải Hoàn Môn du khách sẽ có được một cái nhìn tuyệt vời: một bên là Điện Louvre (Palais du Louvre) và Place de La Concorde cổ kính, còn bên kia là Arche de La Défense cực kỳ hiện đại. Từ Quảng Trường Charles-de-Gaule còn có Đại Lộ Champs-Elyséees, là đại lộ đẹp nhất thế giới, nối liền quảng trường với Place de La Concorde, với Jardin des Tuileries,với Viện Bảo Tàng Louvre (Musée du Louvre). Avenue de Kléber sẽ nối Khải Hoàn Môn với Place du Trocadéro, mà từ đây du khách có thể chiêm ngưỡng Tháp Eiffel sừng sững ở bên kia cầu Iena. Và còn nhiều danh lam thắng cảnh khác.



 

TÌNH YÊU BẤT HẠNH:  NAPOLEON và JOSEPHINE

     Napoléon (1769-1821), một bá chủ của phần lớn Châu Âu, ấy thế mà ông đã phải vất vả trong việc chinh phục người đàn bà mà ông thương mến.      

     Joséphine, sinh năm 1763 ở Martinique và mất năm 1814 ở Malmaison, là Hoàng Hậu nước Pháp, vợ đầu tiên của Napoléon. Khi còn trẻ Joséphine đã kết hôn với Tử tước Alexandre de Beauharnais (1779). Ông này bị xử trảm trong thời kỳ Khủng Bố (La Terreur) năm 1794 và Joséphie cũng đã suýt chút nữa phải bước lên đoạn đầu đài. Joséphine có hai con là Eugène và Hortense. Thời gian sau đó bà trở nên một trong những phụ nữ nổi tiếng trong các salon parisien và đã gặp tướng Bonaparte vào năm 1795.

Tháng 3 năm 1796, Bonaparte kết hôn với Joséphine de Beauharnais qua một lễ cưới dân sự (cérémonie civile). Đối với nàng Joséphine, goá phụ quý tộc đang tìm kiếm điểm tựa về tài chánh và an ninh chính trị trong thời kỳ nhiễu nhương sau Cách mạng, thì cuộc hôn nhân này chỉ là một hôn nhân theo lý trí (mariage de raison). Trái lại, đối với vị Hoàng Đế tương lai đang yêu tha thiết, thì đó là một mối tình chân thật phát xuất từ tiếng gọi của con tim.                                                                                      

      Trong nhiều thư tình mà Napoléon đã gởi cho Joséphine thường đuợc kết thúc bằng những câu sau đây:  " Em ra đi vào 12 giờ trưa, anh sẽ gặp lại em trong 3 giờ nữa. Trong lúc chờ đợi, người tình yêu dấu của anh ơi, anh sẽ cho em một ngàn nụ hôn nhưng em đừng cho anh một nụ hôn nào bởi vì như thế sẽ làm máu của anh sôi sục lên".                                                       

     Bonaparte phải đi viễn chinh ở Ý và khẩn khoản Joséphine đi theo cùng. Nàng đi theo...nhưng lại đi kèm với người tình đẹp trai là trung úy kỵ binh Hyppolite Charles!

     Đôi vợ chồng đã trải qua những giây phúc hạnh phúc nhất ở lâu đài Malmaison. Nhưng rồi Napoléon đã đòi ly dị Joséphine năm 1809 vì lẽ nàng đã không có con trai thừa kế. Tuy vậy Napoléon vẫn tiếp tục tài trợ cho nếp sống hoang phí của Joséphine, đồng thời ông khẩn khoản yêu cầu nàng hãy giảm chi tiêu bớt lại. Dẫu thế, lúc mất Joséphine vẫn còn nợ 3 triệu francs.

 



PLACE DE LA CONCORDE

      Quảng trường ở phía tây nối với Place de L’Etoile bởi Avenue des Champs Elysées, ở phía nam nhìn ra sông Seine mà phía bên kia Pont de La Concorde là Assemblée Nationale, tiếp giáp phía đông với Jardin des Tuileries. Quảng trường được đóng lại ở phía bắc bởi Bộ Hải Quân và Hotel Crillon.

Place de La Concorde được thực hiện bởi kiến trúc sư Jaques-Ange Gabriel từ năm 1753 đến năm 1763 để đón nhận tượng vua Louis XV cưỡi ngựa để vinh danh nhà vua. Quảng trường lúc đó được gọi là Quảng trường Louis XV, nhưng rồi năm 1792 bức tượng bị đập phá và quảng trường được đổi tên là Quảng Trường Cách Mạng (Place de La Révolution).

Trong thời kỳ Khủng Bố (La Terreur) hơn 1200 người bị chặt đầu ở đây, trong số đó có vua Louis XVI (21/1/1793), hoàng hậu Marie Antoinette, Robespierre (1794), Danton. Năm 1796 trong tinh thần hoà giải quốc gia, quảng trường được đặt tên lại là Place de La Concorde (Quảng Trường Hoà hợp).

Vua Louis Philippe cho dựng ở trung tâm quảng trường một Obélisque de Luxor (cao 23m) bằng cẩm thạch hồng được làm cách nay 3300 năm. Đây là món quà của Phó Vương Ai cập Muhammad Ali trao tặng năm 1829.  Đài Tháp (obélisque) này là « anh em song sinh » với một đài tháp khác ở Đền Luxor (Ai Cập). Để vận chuyển món quà này từ Ai cập về Pháp không phải là chuyện nhỏ, bởi cần đóng một con tàu đặc biệt để chuyên chở món quà kềnh càng nặng 230 tấn bằng cẩm thạch này.

Phải mất 2 năm 25 ngày để tàu đến Toulon và phải đợi thêm 3 năm nữa đài tháp mới đuợc dựng lên. Trên đài tháp, chiến công của các vua triều đại Ramses II và III được ghi khắc bằng tiếng Ai Cập. Vua Louis Philippe còn cho dựng 2 đài nước (fontaine) và 4 tượng nữ ở 4 góc của quảng trường biểu hiện cho 8 thành phố lớn nhất của Pháp.

 



PHIÊN XỬ MARIE-ANTOINETTE

Vào lúc phiên xử vua Louis XVI, Marie-Antoinette (38 tuổi) bị giam trong nhà tù Le Temple cùng với con gái và em dâu là bà Elisabeth. Ngày 1 tháng 8 năm 1793, bà được chuyển qua Conciergerie và được giam trong một căn phòng ở đó có hai giám thị trại giam thường xuyên theo dõi.

       Ngày 11/9 bà bị hỏi cung trong phòng giam. Cuộc thẩm vấn này nhằm buộc bà phải thú nhận những mối liên hệ giữa bà với các người di tản ra nước ngoài. Ngày 11/10 một lục sự(greffier) và hai thừa phát lại (huissier) thông báo cho bà bản cáo trạng buộc tội bà.

      Ngày 14/10 bà ra trước toà án cách mạng được chủ tọa bởi  Herman đại biểu Hội nghị Công ước (le conventionnel). Bà được bào chữa bởi hai luật sư, Cheauveau-Lagarde và Tronson du Coudray. Công tố viên, Fouquier-Tinville đọc bản cáo trạng. Bản cáo trạng đưa ra những lời buộc tội về vai trò chính trị của hoàng hậu, đặc biệt là sự phung phí tiền công quỹ và làm nội ứng cho quân thù.

Phiên toà đúng ra đã có thể diễn biến thuận lợi cho hoàng hậu bởi vì Marie-Antoinette đã bào chữ tài tình và khôn khéo. Nhưng viên thẩm phán hung dữ Hébert, khi thấy nạn nhân tương lai của mình sắp thoát khỏi nanh vuốt của y, đã phóng ra những lời buộc tội bẩn thỉu chống lại bà mẹ của thái tử. Thầm phán Hébert báo cáo những lời khai bêu riếu, theo đó “bà góa phụ Capet” đã có những quan hệ loạn luân với con trai mình. Khi đó Hoàng Hậu đã phát biểu những lời lẽ mãi mãi sẽ còn làm xúc động do tính mộc mạc và lòng chân thật: Tôi kêu gọi tất cả các bà mẹ...” Các luật sư của bị cáo can thiệp nhưng lại bị cho là quá khoan hồng và bị bắt giữ ngay trong phiên toà!   

      Ngày 16/10, lúc 4 giờ sáng, sau khi tuyên đọc quyết định của ban bồi thẩm, ông chánh án đã kết án tử hình Marie-Antoinette. Vào tảng sáng, bà chuẩn bị để ra pháp trường. Mặc chiếc áo dài trắng, khoác trên vai chiếc khăn choàng trắng, bà bước lên chiếc xe độc mã của các tội phạm (charrette des criminels), đứng thẳng người đơn độc lưng hướng về phía con ngựa. Suốt trong lộ trình qua các đường phố dẫn đến pháp trường, bà đưa mắt chăm chú nhìn các số nhà bởi vì bà biết rằng một trong những ngôi nhà kia sẽ có một vị linh mục phản kháng đang sẵng sàng ban phước lành cho bà (Toà án buộc bà phải chấp nhận một linh mục tuyên thệ).

 

Sau khi đi xuyên qua Paris trên một chiếc xe độc mã hở trần, cựu hoàng hậu cuối cùng đã bị đưa đến đoạn đầu đài. Marie-Antoinette nhanh chóng bước lên các bậc cấp dẫn lên máy chém. Khi Samson (đao phủ thủ) đưa bà đến tấm ván thẳng đứng, bà vô ý bước lên chân ông ta và tức thì xin lỗi: “ Thưa ông, tôi xin ông tha lỗi, tôi đã không cố ý làm như vậy đâu.” Viên đao phủ thủ buộc bà vào tấm ván và còn nghe bà kêu lên: Con gái tôi ơi, các con ơi! Vĩnh biệt các con ! Mẹ sắp đi gặp cha của các con! «


 

                 ĐẠI LINH

                 (2/5/2007)

 

Trở về Trang Chính