|
1/ SIÊU ÂM CHỐNG U XƠ TỬ CUNG.
Điều trị u xơ tử cung không cần phẫu thuật,và do đó
không phải mang sẹo do giải phẫu cũng như không cần phải gây mê,
từ nay là điều có thể thực hiện được ở Pháp, nhờ kỹ thuật siêu
âm được hướng dẫn bởi IRM (imagerie par résonance magnétique).
Nhờ nhiệt phóng xuất ra từ các siêu âm, kỹ thuật mới này, được
mệnh danh là Exablate 2000, làm hoại tử các huyết quản của u xơ
tử cung vốn có rất nhiều mạch máu. Mặc dầu lành tính, tính đến
ngày nay, các u xơ tử cung buộc phải thực hiện phẫu thuật vì
không đáp ứng với điều trị nội khoa trong 50% trường hợp. 3000
phụ nữ ở Hoa Kỳ và Anh đã được điều trị bởi siêu âm từ gần 6 năm
nay với tỷ lệ thành công 75%. Hiện tại ở Pháp, bệnh viện Tours
là bệnh viện duy nhất có thiết bị để điều trị theo kỹ thuật mới
này
Với kỹ thuật mới này, bệnh nhân vẫn thức tỉnh, nằm dài trong một
máy IRM được thích ứng và cặp với một máy đo siêu âm (une sonde
à ultrasons). Sau khi đã định vị một cách chính xác vùng cần
điều trị nhờ hình ảnh, « người ta « bắn » vào u xơ bằng các
phóng xuất siêu âm với một độ chính xác 0,5 mm. Trong các tuần
lễ sau đó, thể tích khối u thu nhỏ lại.Và nhiên hậu các cơn đau
đớn và sự băng huyết sẽ biến mất ». Giáo Sư François Tranquard,
phụ trách phòng siêu âm của bệnh viện Tours đã xác định như vậy.
Cùng với các đồng nghiệp, thầy thuốc phụ khoa Henri Marret và
chuyên viên quang tuyến thần kinh Denis , ông đã điều trị bệnh
nhân đầu tiên vào tháng 7.Thời gian thực hiện kỹ thuật kéo dài
(3 giờ) nhưng thời gian bệnh nhân nằm bất động ngắn hơn so với
phẫu thuật cắt bỏ tử cung : 24 giờ thay vì 18 ngày !
Exablate 2000 vừa bổ sung hai phép điều trị khác đang
được sử dụng : cắt bỏ u cơ (myomectomie : phẫu thuật ngoại khoa
nhằm cắt bỏ các u xơ ít lớn ) và thủ thuật gây nghẽn mạch
(embolisation des vaisseaux : chích vào mạch máu các bi
acrylique (billes d’acrylique) để làm tắc các mạch máu. « Ngoài
một vài u xơ tử cung, chúng tôi cũng sẽ điều trị các di căn
xương gây đau đớn », nhà chuyên gia xác nhận như vậy. Những can
thiệp trên các di căn khác và ngay cả trên vài ung thư đã được
được dự kiến.Trung tâm bệnh viên đại học Bordeaux chẳng bao lâu
cũng sẽ có được kỹ thuật mới này. Kinh phí : 1 triệu Euro.
( SCIENCES ET AVENIR 10/2007)
2/ BỆNH ALZHEIMER SẼ ĐƯỢC PHÁT HIỆN SỚM
HƠN.
Những
loại xét nghiệm mới sẽ được sử dụng để phát hiện các triệu chứng
sớm và chẩn đoán bệnh trước giai đoạn toàn phát.
Đã đến lúc phải làm tiến hóa các tiêu chuẩn chẩn đoán
của bệnh Alzheimer ! Một tập thể quốc tế các thầy thuốc, được
điều hành bởi GS Bruno Dubois (Inserm), đề nghị sử dụng hình ảnh
não (imagerie cérébrale) và phát hiện phân tử (dépistage
moléculaire) để tìm ra căn bệnh sớm hơn và tránh nhầm lẫn bệnh
với các dạng sa sút trí tuệ khác. Hiện nay, chẩn đoán dựa trên
các xét nghiệm lâm sàng và các trắc nghiệm về trí nhớ.Tuy vậy,
các tiến bộ về hình ảnh được thực hiện trong những năm gần đây
cho phép phát hiện các biến đổi trong não bộ nhiều năm trước khi
xuất hiện các rối loạn quan trọng về trí nhớ.
Cũng có thể phát hiện hai phân tử đặc hiệu
của bệnh trong nước não tủy trước khi các triệu chứng xuất hiện.
Nhờ những xét nghiệm này, người ta có thể chẩn đoán bệnh 3 đến 4
năm sớm hơn hiện nay với độ tin cậy gần 100%. Theo GS Dubois,
các tiêu chuẩn mới này là một phương tiện để xử lý tốt hơn các
bệnh nhân bị Alzheimer, và trấn an những người không bị bệnh
này. Chỉ có điều là việc phát hiện sớm này chỉ sẽ có ý nghĩa khi
có thể đề nghị cho bệnh nhân một phép điều trị có hiệu quả.
Nhưng không phải luôn luôn là như vậy.
( SCIENCES ET VIE 9/2007)
3/ XƯƠNG CHỨA ĐỰNG MỘT PHƯƠNG THUỐC CHỐNG
BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG
Ostéocalcine có hiệu quả hơn insulin ! Hormone được
tổng hợp bởi xương này là một phát hiện mới lạ trong việc chống
lại bệnh đái đường. Khám phá này là quan trọng. Bộ xương của
chúng ta có lẽ chứa một trong những phương thuốc của tương lai
chống lại bệnh đái đường và các bệnh chuyển hóa khác ! Thật vậy,
theo các nghiên cứu còn sơ khởi, ostéocalcine (hormone được tổng
hợp bởi vài loại tế bào xương) có thể là một thuốc hiệu quả hơn
insuline để chống lại bệnh đái đường. Mãi đến tận ngày nay,
ostéocalcine được biết đến trong vai trò remodelage xương.
Ostéocalcine cũng có can dự trong chuyển hóa năng lượng. Hormone
này tăng cường sự sản xuất insuline bằng cách thúc đẩy sự tăng
sinh các tế bào tiết. Nhưng ostéocalcine chủ yếu làm gia tăng
tính nhạy cảm của các tế bào đối với insuline, do đó cho phép
chúng thu nhận tốt hơn glucose. Một khám phá hợp thời để chống
lại sự đề kháng đối với insuline xuất hiện nơi một vài bệnh nhân
được điều trị. Chính trong lúc nghiên cứu trên chuột (sự sản
xuất ostéocalcine được bội hoạt hóa) mà nhóm nghiên cứu của GS
Karsenty (đại học Columbia) đã thực hiện khám phá này.Theo nhà
nghiên cứu, ostéocalcine, vì dễ tổng hợp và không gây một tác
dụng phụ nào, nên sẽ là một ứng viên lý tưởng để điều trị bệnh
đái đường, nếu như các kết quả này được xác nhận trên người. Và
theo giáo sư thì điều này rất là có khả năng. Ngoài ra thí
nghiệm này sẽ giải thích mối liên hệ giữa việc mất khối lượng
xương (masse osseuse) và sự xuất hiện « cái bụng to » lúc lớn
tuổi ( SCIENCE ET VIE 10/2007)
4/ SAU CÙNG CHÚNG TA BIẾT ĐƯỢC SỐT PHÁT XUẤT TỪ ĐÂU TRONG NÃO
BỘ.
Các thụ thể (récepteur) neurone chịu trách nhiệm phát khởi sốt
(EP3) vừa được định vị trong vùng tiền thị (aire préoptique) của
não bộ. Đây là vùng mãi cho đến ngày nay được biết là can dự vào
giấc ngủ. Khám phá của Michael Lazarus (institut de biosciences
d’Osaka) có thể cho phép tác động một cách đặc hiệu trên vùng
này lúc điều trị. Cơ chế tăng thân nhiệt (hyperthermie) cũng đã
được biết đến : sự đột nhập của tác nhân sinh bệnh vào trong cơ
thể gây nên một phản ứng dây chuyền đưa đến sự hoạt hóa các thụ
thể EP3 và do đó gây nên đáp ứng miễn dịch.( SCIENCE ET VIE
10/2007)
5/ VIỆC NGHIỆN THUỐC LÁ ĐƯỢC ĐỌC TRÊN CÁC GENES CỦA CHÚNG TA.
Về mặt di truyền tất cả chúng ta không bình đẳng khi
đối diện với vấn đề cai thuốc lá (sevrage tabagique). Một công
trình nghiên cứu của Viện sức khoẻ quốc gia (Hoa Kỳ) chứng minh
rằng có đến 30 gènes đóng một vài trò trong khả năng làm ngưng
hút thuốc của chúng ta.Thật vậy, việc vận hành của các gènes tỏ
ra rất khác nhau nơi những người nghiện thuốc lá thành công
ngưng hút thuốc. 30 gène này tương ứng một phần với các gènes đã
được biết là có ảnh hưởng lên tính nhạy cảm đối với các chất gây
nghiện (không phân biệt là chất nào).(
SCIENCE ET VIE 10/2007)
6/ VIRUS GÂY BỆNH CÚM CÓ KHẢ NĂNG BIẾN HÓA
NHỮNG TẾ BÀO GỐC … THÀNH MỠ.
Một nghiên cứu của Hoa Kỳ đã chứng tỏ rằng các tế bào gốc
(cellules souches : những tế bào có khả năng sinh ra bất cứ loại
tế bào nào) hầu như đều được biến đổi thành những tế bào mỡ
(cellules graisseuses) khi chúng bị nhiễm bởi adénovirus 36, một
siêu vi trùng thông thường của cảm cúm. Khoảng một chục virus đã
được chỉ rõ là liên kết với các dạng béo phì (obésité), và công
trình nghiên cứu này cho phép quan sát quá trình ở mức tế bào.
Ngoài ra chúng ta biết rằng một phần ba những người béo phì đều
mang adénovirus 36 trong khi đó chỉ 1/10 phần còn lại của dân
chúng là mang virus này mà thôi. (
SCIENCE ET VIE 10/2007)
7/ ECTASY PHÁ HUỶ DÀI LÂU CÁC TẾ BÀO THẦN KINH CỦA CHÚNG TA.
Nhiều năm tháng sau khi đã tiêu thụ ectasy hoặc những
métamphétamine khác, vẫn hiện diện nguy cơ phát triển các bệnh
thần kinh loại Parkinson.Thật vậy một công trình nghiên cứu của
Hoa Kỳ trên chuột đã cho phép chứng tỏ rằng các thuốc ma túy này
phá hủy một protéine gọi là GDNF (glial cell line-derived
factor). Protéine này thiết yếu cho sự tồn tại của các neurone
tiết dopamine.( SCIENCE ET VIE
10/2007)
8/ MỘT ĐIỀU TRỊ CHỐNG PEMPHIGUS
Pemphigus là một bệnh tự miễn dịch của da, được đặc
trưng bởi sự hình thành các bọng nước (bulle, blister) giữa biểu
bì (épiderme) và bì (derme). Pemphigus
là một bệnh tuy hiếm nhưng nghiêm trọng và có thể được chữa
lành. Đó là điều được xác nhận bởi GS Pascal Joly thuộc CHU de
Rouen . Ông này đã điều trị cho 20 bệnh nhân với rituximab.
Kháng thể này nhận diện các tế bào lympho tấn công da và tiêu
diệt chúng. 3 tháng sau khi nhận 4 mũi tiêm rituximab, 18 bệnh
nhân không còn một thương tổn nào nữa.
« Các kết quả này rất là ngoạn mục.
Hơn nữa lợi ích của điều trị vẫn được duy trì từ 3 năm nay. Các
bệnh nhân bị mắc phải những thể nặng thường đề kháng với những
điều trị hiện nay ». Giáo sư Pascal Joly đã giải thích như vậy.
Rituximab là thuốc rất đắc nhưng cho phép tránh, đôi khi
hoàn toàn, những tháng nhập viện và những phép điều trị rất nặng
nề bởi các chất làm suy giảm miễn dịch (immunosuppresseur) và
corticostéroides. Các công trình nghiên cứu cũng gợi ý rằng
rituximab cũng có thể hiệu quả trong những bệnh tự miễn dịch
khác như viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide) hoặc
lupus.
Công trình nghiên cứu này được công bố trong The New England of
Medicine và chỉ được tài trợ bởi Hội Bệnh Ngoài Da Pháp.
«
Để hợp thức hóa phép điều trị này đối với các thể bệnh kém
nghiêm trọng nhưng phổ biến hơn, chúng ta giờ đây sẽ cần phải
tìm kiếm những phương tiện tài chánh mới ». Nhà nghiên cứu báo
trước như vậy. (SCIENCES ET AVENIR
10/2007)
9/ VÙNG SỢ HÃI (L’AIRE DE LA PEUR)
Để nhận
diện những vùng não bộ phản ứng trước một mối đe dọa, Dean Mobbs
và các cộng sự viên của University College de Londres đã cho
những người tình nguyện chịu một buổi sốc điện (électrochoc).
Sốc điện được dùng để phạt những người bị thua trong một trò
chơi điện tử (jeu électronique) : những người chơi vừa phải đi
qua một mê cung vừa phải tránh một vật ăn mồi (un prédateur)
ảo.Trong trường hợp bị tiếp xúc với vật ăn mồi này, những người
tình nguyện sẽ nhận một phóng điện (décharge électrique) nhẹ.
Suốt trong lúc thí nghiệm, não bộ của những người tham dự được
theo dõi bởi IRM chức năng. Kết quả : Tùy theo khoảng cách giữa
người tình nguyện với mối hiểm nguy, tình trạng stress sẽ được
chi phối bởi các vùng não bộ khác nhau . Khi vật ăn mồi ở xa,
chính vùng vỏ não trước trán (cortex préfrontal) hoạt động. Vùng
não bộ tiến hóa này, trụ sở của những quyết định được hoạch định
và phức tạp, cho phép mỗi cá nhân lập ra chiến lược bỏ chạy tốt
nhất. Nhưng ngay khi vật ăn mồi đến gần, lưu lượng máu di chuyển
về một vùng cổ hơn về mặt tiến hóa, nằm ở trung tâm não bộ được
gọi là chất xám quanh cống (substance grise périaqueducale).
Chất xám này là trung tâm trung gian về cảm giác đau đớn và vài
chức năng vận động nguyên thủy.Việc xê dịch từ vùng vỏ não trước
trán sang chất xám quanh cống thể hiện sự tăng lên của mối hoảng
sợ (peur panique) và sự đáp ứng xung động (réponse impulsive).
Đối với các nhà nghiên cứu, việc quan tâm nhiều hơn nữa vùng này
có thể có những hữu ích trong việc điều trị những người mắc phải
vài dạng rối loạn về lo âu (troubles de l’anxiété). ( SCIENCES
ET AVENIR 10/2007)
10/ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO : NHỮNG LỜI HỨA HẸN
CỦA LASER
Những kết quả đáng phấn khởi vừa thu được trong điều trị các tai
biến mạch máu não do thiếu máu cục bộ (accidents vasculaires
cérébraux ischémiques) nhờ sử dụng laser hồng ngoại (laser
infrarouge). Nguồn laser này được sử dụng bằng đường qua sọ
(voie transcranienne) trong 24 giờ sau khi bị một tai biến mạch
máu não không phải do xuất huyết. Kỹ thuật mới này đã được đánh
giá trên 100 bệnh nhân với kết quả là khả năng sống sót của các
bệnh nhân nhiều hơn so với điều trị cổ điển nhưng không làm gia
tăng nguy cơ bị tác dụng phụ nghiêm trọng.Việc vãn hồi tri thức
trong một thời gian ngắn cũng như sự phục hồi chức năng sau 3
tháng được thỏa mãn hơn.
Kỹ thuật « kích thích sinh học bằng ánh sáng
(photobiostimulation) này sẽ có tác dụng hữu ích bằng cách kích
thích các thể hạt (mitochondries) nhưng đồng thời gìn giữ không
làm thương tổn các tổ chức não bộ. Vào tháng giêng năm đến, một
thử nghiệm mới được tiến hành trên hơn 600 người tình nguyện để
cố gắng kiểm chứng các dữ kiện này, sẽ được công bố.(
SCIENCES ET VIE 10/2007)
B.S NGUYỄN VĂN THỊNH
( 6/10/2007)
Trở về Trang Chính
|