Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

12 tháng 04 năm 2007

1. GIỜ ĐÂY TA BIẾT VÌ SAO VI KHUẨN BỆNH DỊCH HẠCH CÓ ĐỘC LỰC MẠNH NHƯ THỂ

Nếu vi khuẩn Yersinia Pestis tỏ ra nguy hiểm đến như thế, đó là bởi vì chính vi khuẩn này đã bị nhiễm trùng bởi một siêu vi trùng khác! Đây là một khám phá đầy hứa hẹn của Pháp.

       Độc lực cực mạnh của vi khuẩn gây bệnh dịch hạch,Yersinia Pestis,là do sự kiện chính bản thân vi khuẩn đã bị gây nhiễm bởi một siêu vi trùng cách nay gần 8000 năm.Đó là điều mà nhóm nghiên cứu của Elisabeth Carmiel đã khám phá lúc so sánh bộ gènes(génome) của vi khuẩn dịch hạch (Yersinia Pestis Filamentous) với bộ gènes của Yersinia Pseudotuberculosis,một vi khuẩn bà con nhưng ít nguy hiểm hơn.Thật vậy nhóm nghiên cứu đã tìm thấy những đoạn ADN của một siêu vi trùng gây nhiễm vi khuẩn (un virus de bactéries).Có lẽ một « thể ăn khuẩn »(phage), được mệnh danh là Yersinia Pestis , đã gây nhiễm vi khuẩn.Thế mà, không những vai trò của các « thể ăn khuẩn » trong việc phát sinh bệnh ở vài loại vi khuẩn đã được biết đến, nhưng những xét nghiệm phòng thí nghiệm còn cho phép chứng tỏ rằng Yersinia Pestis sẽ ít độc lực hơn nếu không có sự hiện diện của các « thể ăn khuẩn » này.Do tính độc lực mạnh, siêu vi trùng gây nhiễm vi khuẩn này có thể được tiết ra bởi ký chủ để gây nhiễm trùng trên các vi khuẩn kế cận.Đó là lý do tại sao cần tiến hành cuộc đấu tranh chống bệnh dịch hạch, một trong những bệnh gây nên bởi vi khuẩn nguy hiểm nhất trên thế giới,bằng cách đặc biệt nhắm vào các đoạn ADN gây nên độc lực này.Là nguyên nhân của hàng chục triệu người chết ở Trung Đông,dịch hạch vẫn tiếp tục hoành hành,chủ yếu ở Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ.Sự phát triển phương pháp trị liệu bằng kháng sinh đã cho phép ngăn chận nhưng không bao giờ làm biến mất được bệnh dịch hạch.Với 40.000 trường hợp trong vòng 15 năm qua,bệnh dịch hạch được Tổ Chức Y Tế Thế Giới xem như là một « bệnh tái xuất hiện » (maladie réémergente). (SCIENCE ET VIE 4/2007)

 

2. XÉT NGHIỆM PHÁT HIỆN SỚM BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

4 gènes tố bẩm làm dễ phát sinh bệnh tiểu đường loại 2 (dạng phổ biến nhất của bệnh tiểu đường) vừa được nhận diện bởi một nhóm nghiên cứu Pháp,Anh và Canada.Việc khám phá này sẽ nhanh chóng dẫn tới việc hiệu chính một xét nghiệm phát hiện nhằm vào các trẻ em và thiếu niên có cha hoặc mẹ bị bệnh tiểu đường.Những đột biến cùa 4 gènes này giải thích đến 70% những tố bẩm di truyền (prédispositions génétiques) làm dễ sự phát sinh bệnh tiểu đường loại 2 này. May mắn thay còn có thể chống lại sự phát sinh bệnh bằng một vệ sinh tốt về đời sống.Do đó,nếu được phát hiện trước tuổi xuất hiện bệnh, các thanh thiếu niên sẽ có thể thích ứng chế độ ăn uống, luyện tập thể thao và như vậy giảm được nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.Một vài trong số các gènes được nhận diện,đặc biệt là gène kiểm soát một chất vận chuyển kẽm(un transporteur de zinc) cần thiết cho sự tiết insuline bởi tụy tạng,là một trong các mục tiêu điều trị lý tưởng để chống lại bệnh.

       Philippe Froguel (CNRS,Viện Pasteur Lille và Imperial College of London), người lãnh đạo công trình nghiên cứu này,đánh giá rằng sẽ cần một thời gian 2 hoặc 3 năm nữa để một xét nghiệm phát hiện sớm bệnh tiểu đường sẽ được sẵn sàng sử dụng.(SCIENCE ET VIE 4/2007)

 

3. NHỮNG NGHI VẤN VỀ CÁC PHẢN ỨNG PHỤ CỦA TAMIFLU

Sau khi xảy ra thêm hai trường hợp nhảy qua cửa sổ để tự vẫn của 2 thiếu niên xảy ra ít lâu sau khi sử dụng Tamiflu (một thuốc chống siêu vi trùng bệnh cúm), giới cầm quyền Nhật Bản đã tỏ ra hết sức lo lắng.Tháng hai vừa rồi đã có 2 thiếu niên khác nhảy vào khoảng không và đã tử vong. Chính Phủ Nhật Bản, lấy làm lo lắng bởi những hành động tự vẫn này,đã ra lệnh Hãng chế tạo dược phẩm Roche của Thụy Sĩ phải đưa vào trong bản chỉ dẫn sử dụng thuốc một lời cảnh cáo về khả năng có thể xảy ra của những tác dụng tâm thần lên các thiếu niên khi dùng thuốc.Tuy nhiên Hãng Roche bảo đảm tính vô hại của dược phẩm của mình.Một khẳng định đã được xác nhận bởi một điều tra của giới hữu trách y tế Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 2005,sau vài trường hợp tử vong khả nghi nơi những thiếu niên dưới 16 tuổi
      Mặc dầu với mối âu lo nầy, Nhật bản, nước tiêu thụ rất lớn Tamiflu chống cúm cổ điển,vẫn có ý định tiếp tục tích trữ dược phẩm này để dành cho một trận đại dịch cúm gia cầm toàn thế giới có thể xảy ra.Ở Châu Âu,Cơ Quan dược phẩm cũng đã quyết định thay đổi bảng chỉ dẫn sử dụng thuốc,(trên nguyên tắc kể từ tháng 4),nhấn mạnh vào việc theo dõi các hành vi bất thường và các ảo giác có thể xảy ra ở các thiếu niên sau khi dùng thuốc.

        B.S Carmen Kreft-Jais của cơ quan an toàn y tế các dược chất của Pháp đã tâm sự: » Bởi vì các tai nạn này làm chúng tôi rất suy nghĩ nhưng mặc dầu vậy vào giờ phút này chúng tôi vẫn không thể đưa ra lời giải thích « (LE FIGARO 23/3/2007)

 

4. HORMONE VÀ BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC

Tại sao những tháng thai nghén mang lại cho các phụ nữ bị bệnh xơ cứng rải rác một thời kỳ thuyên giảm ? Các nhà nghiên cứu Canada nghĩ rằng đã tìm ra một câu trả lời và đồng thời một phương pháp mới nhằm kềm hãm tiến triển của bệnh thoái hóa thần kinh này.Vào cuối thời kỳ thai nghén,nồng độ Prolactine (một hormone kích thích tạo sữa) gia tăng nhiều trong máu.

Phải chăng hiện tượng này có thể có một tác dụng làm chậm lại quá trình thoái hoá bao myéline của các tế bào thần kinh,đặc điểm bệnh lý của bệnh xơ cứng rải rác(sclérose en plaques) ?       

Có hai yếu tố tán trợ cho giả thuyết này.Samuel và các cộng sự viên của Đại Học Calgary đã quan sát trên chuột và nhận thấy rằng sự thai nghén làm xuất hiện các tế bào mới trong não bộ(các oligodendrocytes) có khả năng sửa chữa bao myéline của những tế bào thần kinh bị tổn hại.Ngoài ra các nhà nghiên cứu chứng nhận rằng việc tiêm chích prolactine thúc đẩy sự xuất hiện các oligodendrocytes và sự phục hồi các thương tổn của mô thần kinh.Việc khám phá những tác dụng có lợi này của prolactine đem lại một triển vọng mới trong toan tính chống lại quá trình hủy myéline (démyélinisation) của các tế bào thần kinh nơi người bệnh và do đó chống lại sự tiến triển của bệnh. (SCIENCES ET AVENIR 4/2007)



5. CÁC VIÊN BI NHỎ CHỐNG LẠI U XƠ TỬ CUNG

Các u xơ tử cung là những khối u hiền tính thường xảy ra sau 35 tuổi.Một công trình nghiên cứu Tô Cách Lan, dưới sự lãnh đạo của G.S Jacques-Henri-Ravina vừa hợp thức hóa một kỹ thuật đã được đề nghị ở Pháp ngay từ năm 1995.Mục đích của kỹ thuật này là làm ngưng tiếp vận máu đến u xơ tử cung, bằng cách tạo nên nghẽn mạch (embolisation) động mạch tử cung,với kết quả là gây teo khô u xơ tử cung.Kỹ thuật này được tiến hành bằng cách đưa các hòn bi nhỏ(microbilles) không tan vào trong động mạch tử cung qua một cathéter được đưa vào động mạch đùi .Nghiên cứu cho thấy rằng kỹ thuật này có thể dùng để thay thế phẫu thuật ngoại khoa với những chỉ định rõ ràng như các thương tổn u xơ phân tán(lésions diffuses) và những trường hợp chống chỉ định ngoại khoa..
      Với kỹ thuật làm nghẽn mạch,thời gian nhập viện ngắn hơn (1 ngày thay vì 5) và nguy cơ bị biến chứng ít hơn (12% thay vi 20%).Bù lại, nguy cơ tái phát là 9%.Nếu như ước muốn có thai, thì ngoại khoa chọn lọc cắt bỏ u cơ tử cung (myomectomie) phải được lựa chọn ưu tiên. (SCIENCES ET AVENIR 4/2007)

 

6. CỨ HAI NGƯỜI BỊ UNG THƯ THÌ CÓ MỘT NGƯỜI ĐƯỢC CHỮA LÀNH

Theo một điều tra dịch tễ rộng rãi nhất từng được tiến hành ở Pháp và được hổ trợ bởi Liên Đoàn chống ung thư thì 50% trong số các bệnh nhân bị ung thư đã được chữa khỏi bệnh.

      Dĩ nhiên một con số toàn bộ sẽ che khuất sự chênh lệch lớn giữa các loại ung thư và tùy theo giai đoạn mà ung thư được phát hiện.Theo các con số này thì tỷ lệ sống sót ở nữ giới (63%) rõ rệt cao hơn tỷ lệ của nam giới (44%).

     Để thực hiện công trình nghiên cứu này,khoảng 200.000 bệnh nhân trên 15 tuổi đã được theo dõi và các ung thư đã được chẩn đoán trên những bệnh nhân này từ năm 1989 đến 1997.(SCIENCES ET AVENIR 4/2007)

 

7. TIỀN MÃN KINH,THIẾU OESTROGENES VÀ NGUY CƠ SA SÚT TRÍ TUỆ

Càng ngày càng có nhiều dữ kiện phòng thí nghiệm gợi ý rằng oestrogènes có một tác dụng bảo vệ thần kinh (effet neuroprotecteur) trong quá trình lão hóa.Trái lại,các luận cứ lâm sàng và dịch tễ học vẫn còn bị giới hạn và mâu thuẫn.

Do đó nhóm nghiên cứu của Bác sĩ Walter  (Mayo Clinic College of Medicine, Rochester,Hoa Kỳ) đã nghiên cứu mối tương quan giữa phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng (oophorectomie) được thực hiện trước thời kỳ mãn kinh và nguy cơ mắc bệnh Parkinson và chứng sa sút trí tuệ (démence).

         Các tác giả đã đưa vào công trình nghiên cứu tất cả các phụ nữ của quận Olmsted,đã bị phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng,từ năm 1950 đến 1987 vì những nguyên nhân không phải do ung thư.Tổng cộng có 1.293 phụ nữ bị cắt bỏ buồng trứng một bên,1.097 bị cắt bỏ hai bên và 2.390 phụ nữ không bị cắt bỏ (nhóm kiểm chứng).

       Kết quả cho thấy các phụ nữ bị cắt bỏ buồng trứng một bên hoặc hai bên, trước thời kỳ mãn kinh,đúng là có nguy cơ gia tăng bị bệnh Parkinson..Nguy cơ gia tăng nếu phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng được tiến hành ở một lứa tuổi trẻ hơn.Mối tương quan này không thay đổi dầu cho chỉ định phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng là gì đi nữa và dầu cho cắt bỏ một bên hoặc hai bên.Hiệu quả này tùy thuộc vào tuổi. (LE GENERALISTE 29/3/2007)

 

8. TRÊN 9 TỶ NGƯỜI NĂM 2050?

Người ta nghĩ rằng dân số thế giới sẽ đạt 9,2 tỷ người vào năm 2050,nghĩa là gia tăng 2,5 tỷ so với 6,7 tỷ hiện nay.Các dự báo này có tính đến việc theo đuổi chương trình hạ thấp tỷ lệ sinh đẻ.Phần quan trọng nhất cùa sự gia tăng dân số này sẽ diễn ra trong các nước đang phát triển.Các dự báo được thực hiện bởi Quỹ Dân Số của Liên Hiệp Quốc, phát xuất từ định đề cho rằng tỷ lệ sinh đẻ sẽ tiếp tục giảm ở các nước này.Nếu tỷ lệ sinh sản vẫn tương tự như hiện nay thì dân số thế giới sẽ gia tăng 2 lần nhanh hơn,và khi đó chúng ta sẽ có 12 tỷ người vào năm 2050. Th.Obaid,giám đốc của Quỹ Dân Số LHQ, lấy làm tiếc rằng hằng triệu phụ nữ vẫn không được tiếp cận với các phương tiện ngừa thai có hiệu quả. Bà nhấn mạnh sự cần thiết phải dành nhiều cố gắng và phương tiện hơn nữa để cải thiện kế hoạch hóa gia đình trong các nước đang phát triển.Và thực hiện điều này,không chỉ nhằm để đảm bảo an ninh thế giới,mà còn để tránh các thai nghén ngoài kế hoạch cũng như để giới hạn tỷ lệ tử vong của bà mẹ và trẻ em.   (LE JOURNAL DU MEDECIN 3/4/2007)  

 

9. PHUƠNG PHÁP HÀ HƠI THỔI NGẠT BẰNG MIỆNG BỊ TRANH CẢI TRONG TRƯỜNG HỢP NGỪNG TIM

Các chuyên gia chủ trương xoa bóp lồng ngực (massage thoracique),được đánh giá là có hiệu quả hơn. Trong trường hợp ngừng tim(arret cardiaque),tốt hơn hết là bỏ phương pháp hà hơi thổi ngạt bằng miệng(le bouche-à-bouche) và chỉ sử dụng xoa bóp lồng ngực để hồi sức bệnh nhân.Một công trình nghiên cứu Nhật Bản vừa được công bố ngày 16/3 trong tạp chí y học của Anh,The Lancet,đã chứng minh rằng những bệnh nhân bi ngừng tim có nhiều cơ may sống sót không bị di chứng thần kinh nếu họ được cấp cứu bằng xoa bóp lồng ngực mà không cần kết hợp với hà hơi thổi ngạt bằng miệng.vì mỗi phút mất đi sẽ làm giảm cơ may sống còn.

Hơn nữa, để thực hiện phương pháp hà hơi thổi ngạt bằng miệng,người cấp cứu buộc phải ngừng xoa bóp ngoài tim(massage cardiaque externe),và như vậy sẽ làm gián đoạn tuần hoàn máu.Thế mà tỷ lệ sống sót cao hơn « khi máu có một nồng độ oxygène thấp nhưng liên tục lưu thông trong cơ thể hơn là khi máu chứa nhiều oxygène nhưng không lưu thông tốt »

       Không phải đây là lần đầu tiên mà phương pháp hà hơi thổi ngạt bị xét lại.Trong một báo cáo được thông qua ngày 30 tháng giêng,Viện Hàn Lâm Y Học quốc gia nhắc lại rằng « các xoa bóp lồng ngực là ưu tiên » và phải được thực hiện một cách liên tục chừng nào có thể được.Ngược lại, nếu các nhân chứng không thích làm phương pháp hà hơi thổi ngạt bằng miệng thì có thể trì hoãn phương pháp này ».

       Ở Pháp mỗi năm có khoảng 50.000 người chết vì bị ngừng tim đột ngột ngoài môi trường bệnh viện.Hơn 75% các tai nạn ngừng tim này xảy ra ở nhà nạn nhân,10% trên công lộ,2% ở nơi làm việc,từ 1% đến 2% ở trên các sân thể thao.Tuổi trung bình của nạn nhân là 67 tuổi và 2/3 trong số này là nam giới.Trong 70% các trường hợp,ngừng tim xảy ra trước sự hiện diện của một người thứ ba,nhưng do thiếu phản xạ tốt và thiếu công thức thực hiện,chỉ có 20% các nhân chứng đã thực hiện các thủ thuật hồi sức mà thôi
      « Đừng có sợ.Tất cả những gì mà các bạn làm chỉ có thể có tác dụng dương tính ».B.S Pierre Carli,Giám Đốc y tế của SAMU Paris và là chủ tịch của Hội Đồng Hồi Sức Tim Phổi của Pháp,đã giải thích như thế với Hãng Thông Tấn Pháp AFP. Ông đưa ra một thông điệp đơn giản: người chứng nhân đứng trước một trường hợp ngừng tim phải gọi ngay SAMU hoặc những đội viên cứu hỏa (pompiers) và thực hiện ngay xoa bóp tim nạn nhân.Tuy nhiên phương pháp hà hơi thổi ngạt bằng miệng vẫn được chỉ định trong trường hợp ngừng thở (arret respiratoire) do bị chết đuối. (LE MONDE 4/4/2007)  

 

10. SỰ CÔ ĐƠN : YẾU TỐ NGUY CƠ GÂY BỆNH ALZHEIMER                                                                     

Một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ, đã theo dõi trong 4 năm, 820 lão ông lão bà tuổi 80. Những người này tình nguyện cho phép giải phẫu tử thi sau khi chết. Họ cũng phải trả lời một bảng câu hỏi về tình trạng sống cô lập xã hội (isolement social) và nỗi cảm xúc cô đơn của họ.

Sau khi phân tích các dữ kiện các nhà nghiên cứu đã phát hiện rằng những người sống trong tình cảnh cô đơn có nguy cơ bị chứng sa sút trí tuệ (démence) gấp đôi người thường. (TOP SANTE 4/2007)


 

                                        Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

                                                        (5/4/2007)

       

Trở về Trang Chính