|
1. GIỜ ĐÂY TA BIẾT VÌ SAO VI
KHUẨN BỆNH DỊCH HẠCH CÓ ĐỘC LỰC MẠNH NHƯ THỂ
Nếu vi khuẩn Yersinia Pestis tỏ ra nguy hiểm đến như thế, đó là
bởi vì chính vi khuẩn này đã bị nhiễm trùng bởi một siêu vi
trùng khác! Đây là một khám phá đầy hứa hẹn của Pháp.
Độc lực cực mạnh của vi khuẩn gây bệnh
dịch hạch,Yersinia Pestis,là do sự kiện chính bản thân vi khuẩn
đã bị gây nhiễm bởi một siêu vi trùng cách nay gần 8000 năm.Đó
là điều mà nhóm nghiên cứu của Elisabeth Carmiel đã khám phá lúc
so sánh bộ gènes(génome) của vi khuẩn dịch hạch (Yersinia Pestis
Filamentous) với bộ gènes của Yersinia Pseudotuberculosis,một vi
khuẩn bà con nhưng ít nguy hiểm hơn.Thật vậy nhóm nghiên cứu đã
tìm thấy những đoạn ADN của một siêu vi trùng gây nhiễm vi khuẩn
(un virus de bactéries).Có lẽ một « thể ăn khuẩn »(phage), được
mệnh danh là Yersinia Pestis , đã gây nhiễm vi khuẩn.Thế mà,
không những vai trò của các « thể ăn khuẩn » trong việc phát
sinh bệnh ở vài loại vi khuẩn đã được biết đến, nhưng những xét
nghiệm phòng thí nghiệm còn cho phép chứng tỏ rằng Yersinia
Pestis sẽ ít độc lực hơn nếu không có sự hiện diện của các « thể
ăn khuẩn » này.Do tính độc lực mạnh, siêu vi trùng gây nhiễm vi
khuẩn này có thể được tiết ra bởi ký chủ để gây nhiễm trùng trên
các vi khuẩn kế cận.Đó là lý do tại sao cần tiến hành cuộc đấu
tranh chống bệnh dịch hạch, một trong những bệnh gây nên bởi vi
khuẩn nguy hiểm nhất trên thế giới,bằng cách đặc biệt nhắm vào
các đoạn ADN gây nên độc lực này.Là nguyên nhân của hàng chục
triệu người chết ở Trung Đông,dịch hạch vẫn tiếp tục hoành
hành,chủ yếu ở Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ.Sự phát triển phương
pháp trị liệu bằng kháng sinh đã cho phép ngăn chận nhưng không
bao giờ làm biến mất được bệnh dịch hạch.Với 40.000 trường hợp
trong vòng 15 năm qua,bệnh dịch hạch được Tổ Chức Y Tế Thế Giới
xem như là một « bệnh tái xuất hiện » (maladie réémergente).
(SCIENCE ET VIE 4/2007)
2. XÉT NGHIỆM PHÁT HIỆN SỚM BỆNH TIỂU ĐƯỜNG
4 gènes tố bẩm làm dễ phát sinh bệnh tiểu đường
loại 2 (dạng phổ biến nhất của bệnh tiểu đường) vừa được nhận
diện bởi một nhóm nghiên cứu Pháp,Anh và Canada.Việc khám phá
này sẽ nhanh chóng dẫn tới việc hiệu chính một xét nghiệm phát
hiện nhằm vào các trẻ em và thiếu niên có cha hoặc mẹ bị bệnh
tiểu đường.Những đột biến cùa 4 gènes này giải thích đến 70%
những tố bẩm di truyền (prédispositions génétiques) làm dễ sự
phát sinh bệnh tiểu đường loại 2 này. May mắn thay còn có thể
chống lại sự phát sinh bệnh bằng một vệ sinh tốt về đời sống.Do
đó,nếu được phát hiện trước tuổi xuất hiện bệnh, các thanh thiếu
niên sẽ có thể thích ứng chế độ ăn uống, luyện tập thể thao và
như vậy giảm được nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.Một vài trong số
các gènes được nhận diện,đặc biệt là gène kiểm soát một chất vận
chuyển kẽm(un transporteur de zinc) cần thiết cho sự tiết
insuline bởi tụy tạng,là một trong các mục tiêu điều trị lý
tưởng để chống lại bệnh.
Philippe Froguel (CNRS,Viện Pasteur Lille
và Imperial College of London), người lãnh đạo công trình nghiên
cứu này,đánh giá rằng sẽ cần một thời gian 2 hoặc 3 năm nữa để
một xét nghiệm phát hiện sớm bệnh tiểu đường sẽ được sẵn sàng sử
dụng.(SCIENCE ET
VIE 4/2007)
3. NHỮNG NGHI VẤN VỀ CÁC PHẢN ỨNG PHỤ CỦA
TAMIFLU
Sau khi xảy ra thêm hai trường hợp nhảy qua
cửa sổ để tự vẫn của 2 thiếu niên xảy ra ít lâu sau khi sử dụng
Tamiflu (một thuốc chống siêu vi trùng bệnh cúm), giới cầm quyền
Nhật Bản đã tỏ ra hết sức lo lắng.Tháng hai vừa rồi đã có 2
thiếu niên khác nhảy vào khoảng không và đã tử vong. Chính Phủ
Nhật Bản, lấy làm lo lắng bởi những hành động tự vẫn này,đã ra
lệnh Hãng chế tạo dược phẩm Roche của Thụy Sĩ phải đưa vào trong
bản chỉ dẫn sử dụng thuốc một lời cảnh cáo về khả năng có thể
xảy ra của những tác dụng tâm thần lên các thiếu niên khi dùng
thuốc.Tuy nhiên Hãng Roche bảo đảm tính vô hại của dược phẩm của
mình.Một khẳng định đã được xác nhận bởi một điều tra của giới
hữu trách y tế Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 2005,sau vài trường hợp
tử vong khả nghi nơi những thiếu niên dưới 16 tuổi
Mặc dầu với mối âu lo nầy, Nhật bản, nước tiêu thụ rất lớn
Tamiflu chống cúm cổ điển,vẫn có ý định tiếp tục tích trữ dược
phẩm này để dành cho một trận đại dịch cúm gia cầm toàn thế giới
có thể xảy ra.Ở Châu Âu,Cơ Quan dược phẩm cũng đã quyết định
thay đổi bảng chỉ dẫn sử dụng thuốc,(trên nguyên tắc kể từ tháng
4),nhấn mạnh vào việc theo dõi các hành vi bất thường và các ảo
giác có thể xảy ra ở các thiếu niên sau khi dùng thuốc.
B.S Carmen
Kreft-Jais của cơ quan an toàn y tế các dược chất của Pháp đã
tâm sự: » Bởi vì các tai nạn này làm chúng tôi rất suy nghĩ
nhưng mặc dầu vậy vào giờ phút này chúng tôi vẫn không thể đưa
ra lời giải thích « (LE FIGARO
23/3/2007)
4. HORMONE VÀ BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC
Tại sao những tháng
thai nghén mang lại cho các phụ nữ bị bệnh xơ cứng rải rác một
thời kỳ thuyên giảm ? Các nhà nghiên cứu Canada nghĩ rằng đã tìm
ra một câu trả lời và đồng thời một phương pháp mới nhằm kềm hãm
tiến triển của bệnh thoái hóa thần kinh này.Vào cuối thời kỳ
thai nghén,nồng độ Prolactine (một hormone kích thích tạo sữa)
gia tăng nhiều trong máu.
Phải chăng hiện tượng này có thể có một tác
dụng làm chậm lại quá trình thoái hoá bao myéline của các tế bào
thần kinh,đặc điểm bệnh lý của bệnh xơ cứng rải rác(sclérose en
plaques) ?
Có hai yếu tố tán trợ cho giả
thuyết này.Samuel và các cộng sự viên của Đại Học Calgary đã
quan sát trên chuột và nhận thấy rằng sự thai nghén làm xuất
hiện các tế bào mới trong não bộ(các oligodendrocytes) có khả
năng sửa chữa bao myéline của những tế bào thần kinh bị tổn
hại.Ngoài ra các nhà nghiên cứu chứng nhận rằng việc tiêm chích
prolactine thúc đẩy sự xuất hiện các oligodendrocytes và sự phục
hồi các thương tổn của mô thần kinh.Việc khám phá những tác dụng
có lợi này của prolactine đem lại một triển vọng mới trong toan
tính chống lại quá trình hủy myéline (démyélinisation) của các
tế bào thần kinh nơi người bệnh và do đó chống lại sự tiến triển
của bệnh.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2007)
5. CÁC VIÊN BI NHỎ CHỐNG LẠI U XƠ TỬ CUNG
Các u xơ tử cung là những khối u hiền tính
thường xảy ra sau 35 tuổi.Một công trình nghiên cứu Tô Cách Lan,
dưới sự lãnh đạo của G.S Jacques-Henri-Ravina vừa hợp thức hóa
một kỹ thuật đã được đề nghị ở Pháp ngay từ năm 1995.Mục đích
của kỹ thuật này là làm ngưng tiếp vận máu đến u xơ tử cung,
bằng cách tạo nên nghẽn mạch (embolisation) động mạch tử
cung,với kết quả là gây teo khô u xơ tử cung.Kỹ thuật này được
tiến hành bằng cách đưa các hòn bi nhỏ(microbilles) không tan
vào trong động mạch tử cung qua một cathéter được đưa vào động
mạch đùi .Nghiên cứu cho thấy rằng kỹ thuật này có thể dùng để
thay thế phẫu thuật ngoại khoa với những chỉ định rõ ràng như
các thương tổn u xơ phân tán(lésions diffuses) và những trường
hợp chống chỉ định ngoại khoa..
Với kỹ thuật làm nghẽn mạch,thời gian nhập viện ngắn hơn
(1 ngày thay vì 5) và nguy cơ bị biến chứng ít hơn (12% thay vi
20%).Bù lại, nguy cơ tái phát là 9%.Nếu như ước muốn có thai,
thì ngoại khoa chọn lọc cắt bỏ u cơ tử cung (myomectomie) phải
được lựa chọn ưu tiên. (SCIENCES ET
AVENIR 4/2007)
6. CỨ HAI NGƯỜI BỊ UNG THƯ THÌ
CÓ MỘT NGƯỜI ĐƯỢC CHỮA LÀNH
Theo một điều tra dịch tễ rộng rãi nhất từng được tiến hành ở
Pháp và được hổ trợ bởi Liên Đoàn chống ung thư thì 50% trong số
các bệnh nhân bị ung thư đã được chữa khỏi bệnh.
Dĩ nhiên một con số
toàn bộ sẽ che khuất sự chênh lệch lớn giữa các loại ung thư và
tùy theo giai đoạn mà ung thư được phát hiện.Theo các con số này
thì tỷ lệ sống sót ở nữ giới (63%) rõ rệt cao hơn tỷ lệ của nam
giới (44%).
Để
thực hiện công trình nghiên cứu này,khoảng 200.000 bệnh nhân
trên 15 tuổi đã được theo dõi và các ung thư đã được chẩn đoán
trên những bệnh nhân này từ năm 1989 đến 1997.(SCIENCES
ET AVENIR 4/2007)
7. TIỀN MÃN
KINH,THIẾU OESTROGENES VÀ NGUY CƠ SA SÚT TRÍ TUỆ
Càng ngày càng
có nhiều dữ kiện phòng thí nghiệm gợi ý rằng oestrogènes có một
tác dụng bảo vệ thần kinh (effet neuroprotecteur) trong quá
trình lão hóa.Trái lại,các luận cứ lâm sàng và dịch tễ học vẫn
còn bị giới hạn và mâu thuẫn.
Do đó nhóm nghiên cứu của Bác sĩ Walter (Mayo
Clinic College of Medicine, Rochester,Hoa Kỳ) đã nghiên cứu mối
tương quan giữa phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng (oophorectomie)
được thực hiện trước thời kỳ mãn kinh và nguy cơ mắc bệnh
Parkinson và chứng sa sút trí tuệ (démence).
Các tác giả
đã đưa vào công trình nghiên cứu tất cả các phụ nữ của quận
Olmsted,đã bị phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng,từ năm 1950 đến 1987
vì những nguyên nhân không phải do ung thư.Tổng cộng có 1.293
phụ nữ bị cắt bỏ buồng trứng một bên,1.097 bị cắt bỏ hai bên và
2.390 phụ nữ không bị cắt bỏ (nhóm kiểm chứng).
Kết quả cho thấy các phụ nữ bị cắt bỏ
buồng trứng một bên hoặc hai bên, trước thời kỳ mãn kinh,đúng là
có nguy cơ gia tăng bị bệnh Parkinson..Nguy cơ gia tăng nếu phẫu
thuật cắt bỏ buồng trứng được tiến hành ở một lứa tuổi trẻ
hơn.Mối tương quan này không thay đổi dầu cho chỉ định phẫu
thuật cắt bỏ buồng trứng là gì đi nữa và dầu cho cắt bỏ một bên
hoặc hai bên.Hiệu quả này tùy thuộc vào tuổi.
(LE GENERALISTE 29/3/2007)
8. TRÊN 9 TỶ NGƯỜI NĂM 2050?
Người ta nghĩ rằng dân số thế giới sẽ đạt 9,2 tỷ người vào năm
2050,nghĩa là gia tăng 2,5 tỷ so với 6,7 tỷ hiện nay.Các dự báo
này có tính đến việc theo đuổi chương trình hạ thấp tỷ lệ sinh
đẻ.Phần quan trọng nhất cùa sự gia tăng dân số này sẽ diễn ra
trong các nước đang phát triển.Các dự báo được thực hiện bởi Quỹ
Dân Số của Liên Hiệp Quốc, phát xuất từ định đề cho rằng tỷ lệ
sinh đẻ sẽ tiếp tục giảm ở các nước này.Nếu tỷ lệ sinh sản vẫn
tương tự như hiện nay thì dân số thế giới sẽ gia tăng 2 lần
nhanh hơn,và khi đó chúng ta sẽ có 12 tỷ người vào năm 2050.
Th.Obaid,giám đốc của Quỹ Dân Số LHQ, lấy làm tiếc rằng hằng
triệu phụ nữ vẫn không được tiếp cận với các phương tiện ngừa
thai có hiệu quả. Bà nhấn mạnh sự cần thiết phải dành nhiều cố
gắng và phương tiện hơn nữa để cải thiện kế hoạch hóa gia đình
trong các nước đang phát triển.Và thực hiện điều này,không chỉ
nhằm để đảm bảo an ninh thế giới,mà còn để tránh các thai nghén
ngoài kế hoạch cũng như để giới hạn tỷ lệ tử vong của bà mẹ và
trẻ em. (LE
JOURNAL DU MEDECIN 3/4/2007)
9. PHUƠNG PHÁP HÀ HƠI THỔI
NGẠT BẰNG MIỆNG BỊ TRANH CẢI TRONG TRƯỜNG HỢP NGỪNG TIM
Các chuyên gia chủ trương xoa bóp lồng ngực (massage
thoracique),được đánh giá là có hiệu quả hơn.
Trong trường hợp ngừng tim(arret
cardiaque),tốt hơn hết là bỏ phương pháp hà hơi thổi ngạt bằng
miệng(le bouche-à-bouche) và chỉ sử dụng xoa bóp lồng ngực để
hồi sức bệnh nhân.Một công trình nghiên cứu Nhật Bản vừa được
công bố ngày 16/3 trong tạp chí y học của Anh,The Lancet,đã
chứng minh rằng những bệnh nhân bi ngừng tim có nhiều cơ may
sống sót không bị di chứng thần kinh nếu họ được cấp cứu bằng
xoa bóp lồng ngực mà không cần kết hợp với hà hơi thổi ngạt bằng
miệng.vì mỗi phút mất đi sẽ làm giảm cơ may sống còn.
Hơn nữa, để thực hiện phương pháp hà hơi thổi
ngạt bằng miệng,người cấp cứu buộc phải ngừng xoa bóp ngoài
tim(massage cardiaque externe),và như vậy sẽ làm gián đoạn tuần
hoàn máu.Thế mà tỷ lệ sống sót cao hơn « khi máu có một nồng độ
oxygène thấp nhưng liên tục lưu thông trong cơ thể hơn là khi
máu chứa nhiều oxygène nhưng không lưu thông tốt »
Không phải đây là lần đầu tiên mà
phương pháp hà hơi thổi ngạt bị xét lại.Trong một báo cáo được
thông qua ngày 30 tháng giêng,Viện Hàn Lâm Y Học quốc gia nhắc
lại rằng « các xoa bóp lồng ngực là ưu tiên » và phải được thực
hiện một cách liên tục chừng nào có thể được.Ngược lại, nếu các
nhân chứng không thích làm phương pháp hà hơi thổi ngạt bằng
miệng thì có thể trì hoãn phương pháp này ».
Ở Pháp mỗi năm có khoảng 50.000 người
chết vì bị ngừng tim đột ngột ngoài môi trường bệnh viện.Hơn 75%
các tai nạn ngừng tim này xảy ra ở nhà nạn nhân,10% trên công
lộ,2% ở nơi làm việc,từ 1% đến 2% ở trên các sân thể thao.Tuổi
trung bình của nạn nhân là 67 tuổi và 2/3 trong số này là nam
giới.Trong 70% các trường hợp,ngừng tim xảy ra trước sự hiện
diện của một người thứ ba,nhưng do thiếu phản xạ tốt và thiếu
công thức thực hiện,chỉ có 20% các nhân chứng đã thực hiện các
thủ thuật hồi sức mà thôi
« Đừng có sợ.Tất cả những gì mà các bạn làm chỉ có thể có
tác dụng dương tính ».B.S Pierre Carli,Giám Đốc y tế của SAMU
Paris và là chủ tịch của Hội Đồng Hồi Sức Tim Phổi của Pháp,đã
giải thích như thế với Hãng Thông Tấn Pháp AFP. Ông đưa ra một
thông điệp đơn giản: người chứng nhân đứng trước một trường hợp
ngừng tim phải gọi ngay SAMU hoặc những đội viên cứu hỏa
(pompiers) và thực hiện ngay xoa bóp tim nạn nhân.Tuy nhiên
phương pháp hà hơi thổi ngạt bằng miệng vẫn được chỉ định trong
trường hợp ngừng thở (arret respiratoire) do bị chết đuối.
(LE MONDE 4/4/2007)
10. SỰ
CÔ ĐƠN : YẾU TỐ NGUY CƠ GÂY BỆNH ALZHEIMER
Một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ, đã theo dõi trong 4 năm,
820 lão ông lão bà tuổi 80. Những người này tình nguyện cho phép
giải phẫu tử thi sau khi chết.
Họ cũng phải trả lời một bảng câu hỏi về tình trạng sống cô lập
xã hội (isolement social) và nỗi cảm xúc cô đơn của họ.
Sau khi phân tích các dữ kiện các nhà nghiên cứu đã phát
hiện rằng những người sống trong tình cảnh cô đơn có nguy cơ bị
chứng sa sút trí tuệ (démence) gấp đôi người thường.
(TOP SANTE 4/2007)
Bác
sĩ Nguyễn Văn Thịnh
(5/4/2007)
Trở về Trang Chính
|