|
1/ UNG THƯ PHỔI :
HƯỚNG VỀ MỘT XÉT NGHIỆM MÁU ĐỂ CHẤN ĐOÁN SỚM UNG THƯ PHỔI
Chỉ cần một xét nghiệm máu cũng có thể cho phép
phát hiện ung thư phổi ở các giai đoạn đầu của phát triển ung
thư, với một độ chính xác vô tiền khoáng hậu. Trắc nghiệm này
dựa trên các chữ ký di truyền của ung thư trong các tế bào của
các bạch cầu của bệnh nhân hơn là trên những chỉ dấu hóa học
(marqueurs chimiques) của khối u trong máu, BS Anil Vachani
thuộc Đại học Pennsylvanie của Hoa Kỳ, tác giả chính của các
công trình này, đã giải thích như vậy.
“ Chúng tôi đã khám phá rằng
các loại gènes hiện diện trong các tế bào của hệ miễn dịch này
có thể chỉ cho chúng tôi là ung thư có hiện diện hay không ”
Xét nghiệm máu đã phát hiện 87% các trường hợp, trong
khi scanner chỉ phát hiện 20 đến 60% các trường hợp.
Các nhà nghiên cứu Bắc Mỹ vừa chứng tỏ sự hiện diện của
các gène chỉ dấu trong các bạch cầu tấn công các khối u phế quản
phổi.
Theo những công trình còn sơ khởi, chỉ một xét nghiệm
máu, căn cứ
trên chữ ký di truyền (signature génétique) của
ung thư trong vài bạch cầu, có thể cho phép phát hiện các khối u
ác tính của phổi và ở ngay những giai đoạn đầu tiên hết của sự
phát triển của chúng. Tất cả với sự chính xác chưa từng có.
Nếu một kỹ
thuật như thế tỏ ra có hiệu quả, thì đó là một tiến bộ lớn đối
với các bệnh nhân. Thật vậy, các khối u phế quản phổi càng được
phát hiện và điều trị sớm thì những khả năng được chữa lành càng
cao. Thế mà, ngày nay, cứ năm ung thư chưa được một ung thư được
phát hiện ở một giai đoạn sớm của sự phát triển.
Mặc dầu có một loại phát hiện khác bằng scanner
hélicoidal (còn được gọi là en rotation ) nhưng vẫn còn đang
được đánh giá. Phương pháp này cho thấy những thương tổn có kích
thước nhỏ trong phổi nhưng có bất tiện là phát hiện nhiều dương
tính giả, nghĩa là các nốt (nodules) được chẩn đoán là ung thư
trong khi không phải là như vậy, buộc bệnh nhân phải chịu nhiều
thăm dò xâm nhập ít hoặc nhiều để xác định chẩn đoán.
ĐẶC BIỆT GIẾT NGƯỜI.
Phương thức mới đã được trình bày
ngày 20 tháng năm vừa qua bởi nhóm nghiên cứu của BS Anil
Vachani của Đại học Pennsylvanie nhân hội nghị của American
Thoracic Society ở Toronto (Canada).
Thay vì tìm cách phát hiện các chỉ
dấu hóa học (marqueur chimique) được phóng thích bởi khối u, nữ
chuyên gia này đã khám phá ra rằng một vài gène hiện diện trong
các tế bào lympho (những bạch cầu đầu tiên chống lại khối u) có
thể chỉ cho thấy là ung thư đã xuất hiện hay không.
Để kiểm tra độ tin cậy của xét nghiệm này, nhóm nghiên
cứu của bà đã tuyển mộ 44 bệnh nhân bị một ung thư phổi ở giai
đoạn đầu tiên hết và một nhóm kiểm chứng 52 người không bị ung
thư nhưng có thể so sánh về tuổi tác, giới tính, chủng tộc và
mức độ tiếp xúc với thuốc lá. Nhờ các puce à ADN, BS Vachani và
các cộng sự của bà đã có thể nghiên cứu và so sánh các gènes của
các lympho thuộc về các cá nhân của hai nhóm. Khi đó họ đã chứng
nhận rằng một phối hợp 15 gène có thể phát hiện sự hiện diện của
một ung thư mới phát sinh trong 87% các trường hợp .
Trong khi đó, lúc so sánh, “ một khám nghiệm bằng
scanner đã cho phép phát hiện các nốt (nodules) nơi chỉ 20 đến
60% các bệnh nhân ” , BS Anil Vachani nói thêm “ tỷ lệ cao dương
tính giả buộc chúng tôi bắt bệnh nhân chịu một loạt các khám
nghiệm xâm nhập hơn như các sinh thiết, các thăm dò hình ảnh
liên tiếp và cuối cùng cần đến ngoại khoa ”.
Giai đoạn kế tiếp là hợp thức hóa
trắc nghiệm này trên một số lượng lớn người hơn. Và kiểm chứng
rằng một chữ ký di truyền như thế là đặc hiệu cho một thương tổn
phổi mà thôi và không đặc hiệu đối với những cơ quan khác.
Đặc biệt gây chết người và phần lớn liên kết với
nghiện thuốc lá, ung thư phổi là căn nguyên của 950.000 trường
hợp mới xảy ra mỗi năm trên thế giới và của 848.000 tử vong theo
các con số mới đây của Trung tâm quốc tế nghiên cứu về ung thư
(CIRC : centre international de recherche sur le cancer). Ở
Pháp, 30.651 trường hợp đã được chẩn đoán năm 2005 và 26.624
người đã là nạn nhân của ung thư phổi. Cũng như trong hầu hết
các nước kỹ nghệ hóa, những tàn phá đặc biệt đáng lo ngại nơi
các phụ nữ sinh sau Đệ nhị thế chiến, với nhân gấp bốn lần số
trường hợp trong khoảng thời gian 10 năm, nơi các phụ nữ từ 35
đến 45 tuổi.
Nguồn : LE
FIGARO (27/5/2008)
LE SOIR
(21/5/2008)
2/ CÁC CON VE ( TIQUES) TRUYỀN BỆNH
LYME NHƯ THẾ NÀO ?
Mùa xuân ẩm ướt hẳn phải làm dễ
việc sinh nở các con ve uống máu mang các nhiễm trùng khác nhau,
trong đó có bệnh borréliose hay bệnh Lyme .
Coi chừng
các mũi chích của Ixodes ricinus ! Khoảng 12 chuyên gia đến từ
Đức, Thụy Sĩ và Pháp hội họp tuần này ở Strasbourg để điểm lại
các phong tục tập quán của con ve (tique) và các phương tiện để
bảo vệ chống lại các nhiễm trùng nặng được truyền bởi con
acarien bé nhỏ này. Borréliose hay bệnh Lyme, gây nên bởi một vi
khuẩn thuộc loại Borrelia, được mang bởi con ve, là được biết
đến nhất. Nhưng viêm màng não-não do ve (méningo-encéphalite à
tiques) lại còn đáng sợ hơn. Mỗi năm người ta thống kê nhiều
chục ngàn trường hợp bệnh Lyme ở Bắc Âu ; Alsace và les Vosges
là những vùng bị bệnh nhất ở Pháp.
Bệnh Lyme là một bệnh lạ lùng và gây bối rối, tiến
triển thành nhiều giai đoạn.1 đến 4 tuần sau khi bị chích, một
vòng đỏ (érythème annulaire) phát triển quanh vết cắn. Không
được chẩn đoán và điều trị bằng kháng sinh, giai đoạn hai xuất
hiện với viêm khớp, nhất là ở các khớp gối, cũng như những triệu
chứng thần kinh như viêm đa thần kinh-rễ (polyradiculonévrites)
rất đau đớn và tim (rối loạn nhịp tim).
Một điều tra được thực hiện bởi các
thầy thuốc Alsace đã cho thấy rằng trên 2 triệu dân, 3.500 bệnh
nhân đã được điều trị trong một năm chống lại bệnh Lyme. Điều
trị bằng kháng sinh (15 ngày đến 3 tuần ) trong trường hợp ban
đỏ di trú (érythème migrateur), một vòng hồng (un anneau rosé)
rồi một mảng đỏ tím (une plaque rouge violacé) lan ra từng ngày
nhưng không gây ngứa.
“ KÝ CHỦ DO TÌNH CỜ ”
Con ve (tique) cắn, chích và nhân trọng lượng
của nó lên 200 lần nhờ ngốn máu, đồng thời lợi dụng yến tiệc no
nê để truyền hàng chục bệnh lý cho các ký chủ của nó. “ Nhưng sự
khô ráo là kẻ thù của con ve. Ixodes ricinus có thể chết vì kiệt
sức lúc leo lên và leo xuống cây cỏ để tìm kiếm sự ẩm ướt trong
đất ”, BS Lise Gern thuộc đại học Neuchatel (Thụy Sĩ) đã nhấn
mạnh như vậy.
Sóc, thằn lằn, chim, nhím tạo nên ổ
dự trữ thiên nhiên của ký sinh trùng bé nhỏ này. Nhưng tỷ lệ bị
nhiễm bởi vi khuẩn Borrelia trong các khu rừng vùng Vosges thay
đổi rất nhiều tùy theo nơi, các năm hay các mùa ( từ 2 đến 58%),
với một sự tập trung đặc biệt trong các vùng Guebwiller và của
Munster ( Haut-Rhin). Con vật chích bằng vòi chích (rostre) cứng
và tiêm đồng thời một chất chống viêm làm cho vết chích không
đau. Ngoài ra, nước miếng của nó có tính chất chống đông, cho
phép con ve kéo dài yến tiệc no say.
Dầu đó là người di dạo, thợ làm rừng,
người đi săn hay kẻ nhặt nấm và quả mọng hoang dại , người là
một “ ký chủ tình cờ ” (hôte accidentel). Anh ta có thể bị lây
nhiễm lúc đi vào trong các bụi rậm của những khu rừng ẩm ướt
trên núi nhưng cũng có thể bị nhiễm trong vùng đô thị hoặc quanh
đô thị.
Nguồn : LE FIGARO (4/5/2008)
3/ SỰ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ LIÊN KẾT VỚI
HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH
Tiếp xúc với sự ô nhiễm không khí
làm gia tăng nguy cơ bị huyết khối tĩnh mạch sâu (deep vein
thrombosis), các cục máu đông thường xảy ra ở các tĩnh mạch cẳng
chân. Và sự ô nhiễm không khí càng tệ hại thì nguy cơ càng cao.
Các nhà nghiên cứu
đã khảo sát 871 bệnh nhân bị huyết khối tĩnh mạch sâu ở vùng
Lombardy, Ý, so sánh họ với 1.200 người lành mạnh.
Họ đã trắc nghiệm các mức độ ô nhiễm bởi các hạt nhỏ
(particules fines) trong những vùng nơi bệnh nhân sinh sống,
dùng các thiết bị theo dõi nơi 53 điểm trong thời gian 1 năm.
Công trình nghiên cứu được công bố ngày 12 tháng năm trong the
Archive of Internal Medicine.
Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng
đối với một gia tăng 10 microgram các hạt nhỏ trên mỗi mét khối,
nguy cơ bị huyết khối tĩnh mạch sâu được gia tăng 70%. “ Sống
nơi những vùng bị ô nhiễm cao, đó là một nguy cơ ” , Andrea
Baccarelli, tác giả lãnh đạo và phó giáo sư ở Đại Học Milan đã
phát biểu như vậy.
Nguồn : INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE
(29/5/2008)
4/ CHO BÚ SỬA MẸ VÀ VIÊM KHỚP DẠNG THẤP
Một công trình nghiên cứu của Thụy
Điển gợi ý thêm một lợi ích khác cho sức khỏe của việc cho bú
sửa mẹ, lần này là cho bà mẹ : Việc cho bú làm giảm nguy cơ mắc
phải viêm khớp dạng thấp (rheumatoid arthritis).
Các nhà nghiên cứu đã so sánh 136
phụ nữ bị viêm khớp dạng thấp với 544 phụ nữ lành mạnh cùng lứa
tuổi. Sau khi đã kiểm tra các yếu tố như hút thuốc lá và mức độ
học vấn, họ nhận thấy rằng các phụ nữ đã cho con bú trong một
đến 12 tháng đã làm giảm nguy cơ bị viêm khớp 25%, và rằng những
người đã cho bú hơn 1 năm làm giảm nguy cơ một nửa. Công trình
nghiên cứu được công bố on line ngày 13 tháng năm trong The
Annals of Rheumatic Diseases.
Nguồn : INTERNATINONAL HERALD TRIBUNE
(29/5/2008)
5/ RỐI LOẠN ĂN UỐNG VÀ KINH NGUYỆT
Các cô
thiếu nữ mửa một đến ba lần mỗi tháng để làm giảm cân, có nguy
cơ gia tăng 60% có kinh không đều, một công trình nghiên cứu đã
báo cáo như vậy. Các cô thiếu nữ mửa một lần mỗi tuần hay nhiều
hơn, sẽ làm tăng gấp ba nguy cơ của họ. Khi các nhà nghiên cứu
hạn chế sự phân tích nơi các cô gái có trọng lượng bình thường,
thì mối liên kết lại càng mạnh hơn.
Việc tự gây mửa có thể gây nên sự
mất cân bằng điện giải, ăn mòn ngà răng, các vết rách trong thực
quản và những vấn đề y khoa khác, theo thông tin từ công trình
nghiên cứu. S.Bryn Austin, tác giả lãnh đạo công trình và phó
giáo sư Nhi Khoa của Đại Học Havard đã nói rằng ở Hoa Kỳ, hàng
năm, có khoảng 2 triệu thiếu nữ mửa để làm giảm cân.
Nguồn : INTERNAIONAL HERALD TRIBUNE
(29/5/2008)
6/ RUỘT THỪA ĐƯỢC MỔ BẰNG ĐƯỜNG MIỆNG.
Cắt bỏ ruột thừa bằng đường
miệng...ý tưởng kỳ lạ thay ! Tuy vậy chính đó là điều đã được
thực hiện bởi giáo sư Marc Talamini , thầy thuốc ngoại khoa của
Trung tâm y tế San Diego (Hoa Kỳ), nơi một bệnh nhân 42 tuổi bị
ruột thừa viêm. Một ống được trang bị bởi một camera, được đưa
vào trong miệng rồi được đẩy dọc theo thực quản xuống đến tận dạ
dày. Sau đó ống chọc thủng thành dạ dày để tiếp tục con đường
đến tận phần cuối của ruột già. Một camera khác, được đưa xuyên
qua rốn, hướng dẫn cuộc giải phẫu. Ruột thừa bị bệnh được cắt bỏ
rồi được đưa lên theo con đường ngược lại. “ Một ngày sau giải
phẫu , tôi chỉ cảm thấy một đau đớn nhẹ ”, bệnh nhân đã tuyên bố
như vậy. Về các vết sẹo, không còn có nữa !
Cuộc phẫu thuật, lần thứ hai thuộc loại này được thực
hiện (cuộc phẫu thuật đầu tiên xẩy ra ở Ấn Độ cách nay 3 năm) là
một phần của chương trình Notes ( Natural Orifice Transluminal
Endoscopic Surgery : Giải phẫu nội soi qua các lỗ tự nhiên )
nhằm làm giảm những đường mổ, bằng cách sử dụng các lỗ tự nhiên
(orifices naturels) để đưa vào các dụng cụ ngoại khoa. “ Tôi
không được thuyết phục bởi kỹ thuật này, Yves Paris, giáo sư
ngoại tiêu hóa của bệnh viện Beaujon, Paris, đã tuyên bố như
vậy. Phép nội soi bụng ( coelioscopie), nhằm nhìn vào bên trong
bụng nhờ một ông nội soi (endoscope), được đưa vào qua một đuờng
xẻ nơi rốn dưới gây mê tổng quát, đã cách mạng hoá phẫu thuật,
và để lại 3 vết sẹo nhỏ 1 cm. Vậy thì, ở đây, tôi không thấy một
bước nhảy vọt về kỹ thuật. Hơn nữa luôn luôn có nguy cơ xuất
huyết dạ dày ”. Jacques Marescaux, trưởng khoa ngoại tiêu hóa và
nội tiết của các Bệnh viện đại học Strasbourg, người chủ xướng
chương trình Notes ở Pháp, về phần ông, đã thực hiện sự cắt túi
mật bằng đường... âm đạo. Ông cũng vẫn tỏ ra thận trọng. “ Tôi
không thấy lợi ích của thủ thuật này, bởi vì phép nội soi ổ bụng
đã là tuyệt vời và nhanh chóng. Ngoài ra, trong trường hợp cấp
tính, dường như rõ ràng tốt hơn là không nên làm xê dịch cơ quan
bị nhiễm trùng bởi vì có một nguy cơ lây nhiễm.”
Nguồn : SCIENCES ET AVENIR
(6/2008)
7/ NHỊN ĂN LÀM HẠN CHẾ NHỮNG TÁC DỤNG
PHỤ CỦA HÓA HỌC LIỆU PHÁP.
Các nhà
nghiên cứu của đại học Nam Californie, đã chứng tỏ nơi chuột lợi
ích của sự nhịn đói trước một điều trị hóa học liệu pháp. “ Công
trình này lần đầu tiên chứng tỏ rằng các tế bào bình thường được
bảo vệ bởi sự thiếu nuôi dưỡng (carence) ”, Marie France Poupon,
nữ giám đốc nghiên cứu ở Viện Curie đã bình luận như thế. Thật
vậy, sau một thời kỳ nhịn ăn 2 ngày, trái với các tế bào ung
thư, các tế bào lành mạnh vẫn sống còn sau một liều cao của hóa
học liệu pháp. Lý thuyết được đưa ra : thiếu glucose, các tế bào
bình thường ngưng tăng sinh và do đó ít nhạy cảm hơn. Do đó, sự
thiếu nuôi dưỡng có thể làm giảm
các tác dụng phụ của hóa học liệu pháp.
Nguồn : SCIENCE ET VIE (6/2008)
8/ LẦN ĐẦU TIÊN : GIẢI PHẪU TRONG TÌNH
TRẠNG VÔ TRỌNG LỰC.
Trong một chuyến bay trên một
chiếc máy bay có khả năng tái tạo những điều kiện vô trọng lực
(apesanteur), Giáo Sư Martin, trưởng khoa giải phẫu tạo hình
(chirurgie plastique) thuộc CHU de Bordeaux, đã mổ thành công
một bệnh nhân tình nguyện bị một khối u mỡ ở cẳng tay. Trong 3
giờ, chiếc A300 đã thực hiện những lên và xuống ở cao độ, trong
đó các hành khách đã ở trong tình trạng vô trọng lực 32 lần,
trong 20 giây mỗi lần. Tổng cộng, cuộc phẫu thuật đã kéo dài
dưới 10 phút. “ Người ta đã tìm cách thực hiện một trắc nghiệm
về tính khả thi (test de faisabilité).
Người ta đã ở trong tình trạng như
thực để mổ trong những điều kiện trong không gian. Bây giờ,
người ta biết rằng có thể mổ con người trong không gian không
khó khăn gì lắm ” , G.S Martin đã giải thích như vậy.
Để thực hiện cuộc phẫu thuật trong
những điều kiện vô trọng lực , các nhà phẫu thuật, các nhà gây
mê được buộc, nhờ các bộ đồ giữ (harnais de contention), với các
đai (sangles) và các móc lò xo (mousqueton) móc vào các đường
ray được cố định vào nền của Airbus. Các người nhảy dù đi kèm
bên họ. Để không bị bồng bềnh trong không khí, các dụng cụ làm
việc phải được đặt trên những nam châm rất mạnh. Cuộc phẫu
thuật có mục đích trắc nghiệm “
phòng mổ (bloc opératoire) đầu tiên trên thế giới với các chuẩn
mực không gian ” , có thể dùng làm mẫu cho Trạm không gian quốc
tế hay mọi cấu trúc khác nằm trong không gian.Tuy nhiên phòng mổ
này không nhằm thực hiện mọi loại giải phẫu.
“ Không thể thực hiện
phẫu thuật ghép thận hay tim. Những phẫu thuật sẽ được giới hạn
vào chấn thương (traumatologie), BS de Coninck, người đã nhấn
mạnh tầm quan trọng kinh tế và thực tiễn của thí nghiệm, đã giải
thích như thế. Ngày nay, hơn 400 người đã đi vào không gian. Xác
suất bị các chấn thương trong khi thi hành nhiệm vụ sẽ càng ngày
càng quan trọng, vì lẽ việc đưa một người bị thương xuống lại
quả đất là một mối nguy hiểm không những cho người đó mà còn phí
tổn cao nữa ”. Không phải tất cả các nhà phẫu thuật đều lên
trong các chuyến bay không gian. Giai đoạn sắp đến của nhóm
nghiên cứu y khoa : cho thực hiện cuộc giải phẫu bằng robot được
điều khiển từ một căn cứ trên trái đất.
Nguồn :
READER’ S DIGEST (6/2008)
9/ CÁC TẾ BÀO GỐC ĐỂ SỬA CHỮA CƠ TIM SAU MỘT NHỒI MÁU
Hội nghị Myologie 2008, dành cho
các bệnh của cơ, đã được đánh dấu bởi sự trình bày những thử
nghiệm liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire) nhằm sửa chữa cơ
tim.
Hơn 1000 nhà khoa học đã họp hội
nghị Myologie 2008 ở Marseille, từ 26 đến 30 tháng năm, được tổ
chức bởi Hiệp hội Pháp chống lại các bệnh cơ (AFM : Association
française contre les myopathies ). Một hội nghị dành cho các
bệnh của cơ và các phương pháp điều trị chúng, không những các
bệnh thần kinh cơ (affections neuromusculaires) mà còn các bệnh
lý của tim. Nhiều bài trình bày đã được dành cho các nghiên cứu
liệu pháp tế bào để sửa chữa cơ tim (myocarde) sau một nhồi máu
(infarctus), với những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên sử dụng các
tế bào gốc phôi thai (cellules souches embryonnaires) nơi người.
Các bệnh tim mạch gây hơn 15 triệu người chết mỗi năm
trên thế giới và chiếm 30% của những nguyên nhân tử vong. Nhiều
nhóm nghiên cứu đã tiến hành những thử nghiệm để sửa chữa cơ tim
và thay thế những tế bào của nó (cardiomyocytes). Một chục
thử nghiệm liệu pháp tế bào đã được thực hiện, quy tụ tổng cộng
hơn 650 người với các loại tế bào gốc khác nhau .
Các thử nghiệm chích các tế bào gốc
(cellules souches) phát xuất từ tủy xương đã cho thấy một lợi
ích lâm sàng, với một sự cải thiện các hiệu năng của tâm thất
trái, chịu trách nhiệm suy tim sau một nhồi máu.
Tuy nhiên, Patricia Lemarchand (Institut du Thorax,
Nantes) đã xác định, “ các tế bào gốc được tiêm vào đã không
thật sự được biến hóa thành các tế bào tim ”. Một thử nghiệm
châu Âu quy mô lớn theo dự kiến bắt đầu vào năm 2009 hay 2010
nhằm đánh giá các lợi ích của một điều trị như vậy trên tỷ lệ tử
vong và sự tái phát của nhồi máu.
Bernd Fleischmann ( đại học Bonn,
Đức) đã đề cập một vấn đề chủ yếu : mô nơi nhồi máu đã xảy ra,
có thể xác định loại biệt hóa mà các tế bào gốc hay những tế bào
tiền thân (cellules précurseuses) được ghép, sẽ hướng đến hay
không ? Trái với các tế bào xuất phát từ tủy xương, các tế bào
gốc phôi thai (cellules souches embryonnaires) tiến triển thành
các tế bào cơ tim (cardiomyocytes). Tuy nhiên có một nguy cơ tạo
thành khối u nếu các tế bào không được biệt hóa (cellules
indifférenciées) được sử dụng. Để tránh điều đó, Bernd
Fleischman dùng các tế bào cơ tim dẫn xuất từ các tế bào gốc
phôi thai được thanh khiết.
Ở Pháp nhóm nghiên cứu của Michel
Pucéat và của giáo sư Philippe Mesnasché đã nhờ đến những tế bào
tiền thân (cellules progénitrices), giai đoạn trung gian trong
sự biệt hóa các tế bào gốc phôi thai thành các tế bào tim.
Vào lúc hội nghị myologie 2008, Michel Pucéat
đã báo cáo chứng tỏ rằng, ở người cũng như chuột, sự biệt hóa
thành các tế bào cơ tim tùy thuộc vào nồng độ của một protéine
được gọi là BMP2. Một chứng nhận làm khả dĩ việc kiểm soát sự
biến đổi các tế bào gốc phôi thai thành các tế bào tim. “ Các
công trình nghiên cứu của chúng tôi mở đường cho việc sử dụng
các tế bào tiền thân của tim (progéniteurs cardiaques) trong
thực tiễn lâm sàng, đối với các bệnh tim do thiếu máu cục bộ, do
di truyền và bẩm sinh ”, M.Pucéat đã kết luận như thế.
Nguồn
: LE MONDE (31/5/2008)
10/ IODE PHÓNG XẠ VÀ THAI NGHÉN
Mỗi năm, cứ mười người thì có một
người được chẩn đoán ung thư tuyến giáp trạng.Thường đó là một
phụ nữ trẻ.Vì ung thư này có một tiên lượng tốt, nên các chuyên
gia ung thư càng ngày càng thường phải đối đầu với những bệnh
nhân mong muốn có con. Inserm đã theo dõi gần 2.000 phụ nữ được
điều trị vì ung thư tuyến giáp trạng giữa năm 1990 và 1993 đến
năm 2004. Các tác giả của công trình nghiên cứu này, mà các kết
quả đã xuất hiện trong một thông báo của Inserm (20 tháng năm
2008), đã có thể theo dõi 2673 trường hợp thai nghén của 1126
phụ nữ được điều trị vì một ung thư tuyến giáp trạng. Từ công
trình nghiên cứu này người ta nhận thấy rằng Iode phóng xạ không
làm gia tăng nguy cơ sẩy thai, nguy cơ sinh non, nguy cơ sinh
con có trọng lượng thấp, nguy cơ sinh con dị tật, các bệnh lý
tuyến giáp trạng hay ung thư. Do đó các tác giả đánh giá rằng
chúng ta có thể trấn an các bệnh nhân bị ung thư tuyến giáp và
được điều trị bởi Iode phóng xạ nhưng mong muốn có con. Tuy
nhiên các tác giả khuyên các phụ nữ này không nên có thai một
năm sau khi điều trị bằng Iode phóng xạ, cũng như cần kiểm tra
đều đặn chức năng của tuyến giáp.
Nguồn
: LE JOURNAL DU MEDECIN (27/5/2008)
BS
NGUYỄN VĂN THỊNH
( 7/6/2008 )
Trở về Trang Chính
|