|
1/
THẮNG LỢI ĐẦU TIÊN ĐỐI VỚI UNG THƯ GAN
Sự thông báo về một điều trị hiệu quả chống lại ung thư gan bởi
nhóm nghiên cứu của Bác sĩ Josep Llovet thuộc Đại Học Barcelone
được tiếp nhận một cách phấn khởi bởi các chuyên gia về ung thư.
Nhóm nghiên cứu này đã tiến hành thành công công trình nghiên
cứu đầu tiên sử dụng một chất chống tăng sinh mạch máu
(antiangiogénique), sorafenib.Chất này có tác dụng cản sự tạo
thành các huyết quản cần thiết cho sự tăng sinh của khối u. Kết
quả: gia tăng 44% tỷ lẽ sống sót trong nhóm uống thuốc chống
tăng sinh mạch máu, hoặc kéo dài cuộc sống thêm 3 tháng nữa.
Thường bị chẩn đoán muộn, ở Pháp mỗi năm có khoảng 5000
trường hợp ung thư gan mới phát sinh, một con số tăng gấp đôi
trong vòng 20 năm.
« Những
kết quả mới này sẽ nhanh chóng làm đảo lộn thái độ điều trị các
bệnh nhân ». BS Emmanuel Mitry của Bệnh Viện Ambroise-Paré của
Boulogne đã tiên đoán như vậy. Được thương mãi hoá dưới tên
Nexavar bởi Hãng Dược Phẩm Bayer, sorafenib được dùng bằng đường
miệng và được dung nạp tốt. Dược phẩm này đã chứng tỏ hiệu quả
trong điều trị ung thư thận và hiện tại đang được đánh giá đối
với những loại ung thư khác.(SCIENCE
ET AVENIR 7/2007)
2/
SỮA BẢO VỆ CHỐNG LẠI UNG THƯ VÚ
Calcium có một tác dụng bảo vệ rõ rệt chống ung thư vú nơi các
phụ nữ chưa đến tuổi mãn kinh: đó là kết luận của nhóm nghiên
cứu Inserm U557 sau một công trình nghiên cứu rộng lớn về dinh
dưỡng Suvimax.
« Sự tiêu thụ hàng ngày thức ăn sữa và nước khoáng giàu calcium
làm giảm 75% nguy cơ bị ung thư vú nơi nhóm phụ nữ có dinh dưỡng
giàu calcium nhất so với các phụ nữ ít tiêu thụ calcium nhất,
hoặc dưới 800mg mỗi ngày. Chúng tôi không có lời giải thích về
hiện tương này ». Emmanuelle Kesse-Guyot, người phụ trách công
trình nghiên cứu đã nói rõ như vậy
« Ngược lại, việc bổ sung bằng vitamines hay các chất
chống oxi hóa (antioxydant) đã không chứng tỏ hiệu quả lên ung
thư trong nhóm người này.Kết quả của chúng tôi xác nhận một
nghiên cứu rộng rãi hơn đã được tiến hành ở Hoa Kỳ.Nghiên cứu
này đã nêu lên hiệu quả có lợi của calcium ở các phụ nữ trước
thời kỳ mãn kinh »
Calcium như vậy sẽ được thêm vào các yếu tố bảo vệ khác như hoạt
động vật lý hoặc sự kiện đã có ít nhất một đứa con. ( SCIENCE ET AVENIR 7/2007)
3/
VŨ KHÍ MỚI CHỐNG CÚM GIA CẦM
Những người sống sót sau khi bị bệnh cúm gia cầm có lẽ
giữ chiếc chìa khóa cho một phương pháp điều trị mới chống lại
virus H5N1.Antonio Lanzavechia của Viện nghiên cứu sinh y học
Bellinzona (Thụy Sĩ) và các nhà nghiên cứu của 4 nhóm nghiên cứu
khác của Việt Nam và Hoa Kỳ đã trích từ máu của những người sống
sót sau trận dịch cúm gia cầm ở Việt Nam năm 2004, những bạch
huyết bào B (lymphocytes ). Những tế bào này sản xuất các kháng
thể được gọi là monoclonal anti-H5N1. Các kháng thể này nhận
biết siêu vi trùng H5N1 và phát khởi tác dụng hủy hoại chúng.
Các nhà nghiên cứu đã cho làm tăng sinh các bạch huyết bào B
trong ống nghiệm rồi tiêm các kháng thể được sản xuất lên chuột.
Kết quả : 80% chuột lành mạnh được tiêm chủng đã sống sót sau
khi được cho tiếp xúc với siêu vi trùng H5N1.Trên 60 chuột đã bị
bệnh, 58 con đã sống sót sau khi được tiêm chủng. « Đó là một
kết quả đáng chú ý. Các kháng thể monoclonal đã từng được sử
dụng để ngăn ngừa các trẻ nhỏ chống lại các bệnh gây nên bởi
virus respiratoire (bệnh viêm tiểu phế quản). » Sylvie Van der
Werf, phụ trách Phòng thí nghiệm về di truyền phân tử của các
siêu vi trùng hô hấp của Viện Pasteur, đã xác nhận như thế.
Hiện nay còn phải kiểm tra xem phép điều trị miễn dịch thụ động
(immunothérapie passive) này có hiệu quả đối với người hay
không. Một khó khăn khác : « Việc sản xuất với số lượng nhiều
các kháng thể cần đến một cơ sở hạ tầng tốn kém nhưng hiện nay
chưa có. ». Sylvie Van der Werf nói tiếp như vậy. Mối lo âu cuối
cùng : thời gian hiệu quả của các kháng thể monoclonal không
vượt quá vài tuần lễ (trái với vaccin).Nhưng các nhà nghiên cứu
kết luận: « Đó là một vũ khí phụ thêm vào trong lô các chiến
lược chống bệnh. Rất hữu ích để phản ứng nhanh trước một trận
dịch bùng phát trong lúc chờ đợi một vaccin được chế tạo ».( SCIENCE
ET AVENIR 7/2007)
4/ NHỮNG LÁ PHỔI YẾU
ỚT CỦA NHỮNG NHÀ CHĂN NUÔI HEO
Các nhà khai thác và những công nhân nông nghiệp làm việc trong
các ngành chăn nuôi heo thâm sâu bị nhiều nguy cơ mắc phải các
rối loạn hô hấp do hoạt động nghề nghiệp của họ. Một công trình
nghiên cứu được thực hiện nơi 400 công nhân nuôi lợn và 400 nhà
nông (nhóm chứng) đã xác nhận như thế.Mặc dầu có xét đến tuổi
tác và việc hút thuốc lá, người ta nhận thấy rằng những triệu
chứng viêm phổi mãn tính nơi nhóm những công nhân nuôi lợn
thường xảy ra 4 đến 5 lần nhiều hơn so với nhóm chứng, đặc biệt
là các triệu chứng ho và khạc đờm,và khó thở (ở một mức độ ít
hơn).( SCIENCE ET AVENIR 7/2007)
5/ NHỮNG LỢI ÍCH CỦA
VITAMINE D3
Dùng với liều lượng hơn 1000 đơn vị quốc tế mỗi ngày, vitamine
D3 sẽ góp phần làm giảm 60% nguy cơ xảy ra ung thư nơi phụ nữ ở
tuổi mãn kinh.Đó là kết quả của một công trình nghiên cứu của
Hoa Kỳ sau khi đã theo dõi trong 4 năm 1200 phụ nữ tuổi 55 tuổi
hoặc hơn.Các tác giả nhấn mạnh những liều lượng ít nhất 1000 đơn
vị mỗi ngày để có một hiệu quả bảo vệ hữu hiệu trong khi đó giới
hữu trách khuyên chỉ dùng 200 đơn vị mỗi ngày mà thôi. Nhưng
theo các chuyên gia về dinh dưỡng, liều lượng 1000 đơn vị mỗi
ngày sẽ không tạo nên mối nguy hiểm.(LA
LIBRE MATCH 5/7-11/7/2007)
6/ CÁC BIẾN CHỨNG
HIẾM CỦA GIẢI PHẪU ĐIỀU TRỊ CHỨNG BÉO PHÌ
Giải phẫu điều trị chứng béo phì (obésité) đang phát triển mạnh
với các kỹ thuật từ vòng dạ dày (anneau gastrique) để làm hạn
chế một cách cơ học thức ăn được ăn vào, đến những kỹ thuật
đường vòng dạ dày (bypass gastrique) nhằm tạo nên một đường vòng
đường tiêu hóa mới. Mục đích là làm giới hạn sự hấp thụ các chất
mỡ.Nhưng những chất dinh dưỡng khác trong đó có vài vitamine cần
thiết cho hệ thần kinh(ví dụ vitamine B12) sẽ bị kém hấp thụ sau
phẫu thuật .Một nhóm nghiên cứu người Mỹ công bố 26 trường hợp
các bệnh nhân bị các biến chứng thần kinh sau giải phẫu này. Và
các triệu chứng đã không được cải thiện sau khi cho vitamine quá
chậm trễ.Biến chứng này tuy hiếm nhưng cần phải được ghi nhận.(
LA LIBRE MATCH 5/7-11/7/2007)
7/ DẦU OLIVE CÓ TÁC
DỤNG TỐT ĐỐI VỚI CHOLESTEROL
Một công trình nghiên cứu từ nhiều trung tâm nghiên cứu ở châu
Âu được tiến hành trên 200 người tình nguyện. Những người này
được cho uống trong 3 tuần lễ 25 millilitres dầu olive mỗi ngày
(một muỗng canh gồm 3 loại dầu, loại trừ những chất béo khác.)
Nghiên cứu đã mang lại một kết luận lý thú : tất cả các dầu
olive deu có khả năng làm gia tăng nhanh chóng nồng độ HDL
(cholestérol tốt) nhưng hiệu quả nhất là các dầu olive có nồng
độ polyphénol (chất chống oxi hóa có tác dụng bảo vệ tim) cao
nhất. Về mặt này, mức độ tinh lọc của dầu có tính chất quyết
định: cần những dầu olive tinh chất hảo hạng.( LA LIBRE MATCH
14/6-20/6/2007)
8/ MỘT CÔNG TRÌNH
NGHIÊN CỨU XÁC NHẬN HIỆU QUẢ CỦA THUỐC CHỦNG CHỐNG UNG THƯ TỬ
CUNG
Một công trình nghiên cứu trên 12.000 phụ nữ vừa xác nhận tính
hiệu quả của vaccin chống ung thư tử cung. Ung thư này là nguyên
nhân của 240.000 tử vong mỗi năm trên toàn thế giới (nguyên nhân
đứng hàng thứ hai gây chết người nhất ở phụ nữ). Một nửa những
người tham dự được tiêm chủng, còn nữa kia thì không. Hiệu quả
của tiêm chủng chống lại Papillomavirus loại 16 và 18 (nguyên
nhân của 80% trường hợp ung thư tử cung) là 100%.( LA LIBRE
MATCH 31/5-5/6/2007)
9/
VIAMINE C : NƯỚC CAM VẮT TỐT HƠN LÀ THUỐC VIÊN
Vitamine C kích thích hệ miễn dịch của chúng ta, ngăn ngừa bệnh
scorbut và có tính chất chống oxi hoá, góp phần làm chậm lại sự
lão hóa của các tế bào, nhất là bảo vệ ADN chống lại sự oxi
hóa.Nhưng vitamine C được cho bổ sung có hiệu quả bằng trái cây
hay không? Để kiểm chứng điều đó, các nhà nghiên cứu của Đại Học
Milan ( nhóm nghiên cứu của BS Serena ) đã khảo sát 3 nhóm người
: nhóm thứ nhất uống một ly nước cam vắt, nhóm thứ hai uống một
ly nước được làm giàu vitamine C và nhóm thứ ba uống nước đường.
Nước cam vắt và nước được làm giàu vitamine C , đều chứa 150
milligrammes vitamine C
Sau khi 3 nhóm đã uống xong, người ta lấy máu nơi những
người tình nguyện 3 giờ sau đó rồi 24 giờ sau để đảm bảo rằng
nồng độ vitamine C trong máu của những người uống nước cam vắt
và nước được làm giàu vitamine C đúng là đã gia tăng như nhau.
Quả đúng là như vậy.Các mẫu nghiệm máu sau đó được đối chiếu với
peroxyde d’hydrogène (được biết là có khả năng oxi hóa mạnh lên
các tế bào). Các kết quả đã chứng tỏ rằng các tổn hại gây nên
bởi peroxyde d’hydrogène trong các mẫu nghiệm máu của những
người đã uống nước cam vắt ít quan trọng hơn nhiều so với các
mẫu nghiệm của những người tình nguyện đã uống nước đường hay
nước được làm giàu vitamine C. Không có một tính chất bảo vệ nào
được nhận thấy ở những người uống nước đường nhưng cũng chẳng gì
hơn ở những người uống nước được làm giàu vitamine C.
Do đó vitamine C trong nước cam vắt không phải là tác nhân có
tính chất bảo vệ duy nhất. Có lẽ có một yếu tố khác hoạt động
cùng với vitamine C.LA LIBRE MATCH
15/5-23/5/2007)
10/
LÀM NGẠT CÁC TẾ BÀO ÁC TÍNH
Đó là một trong những chiếc chìa khóa của sinh học ung
thư: các khối u để được nuôi dưỡng gây nên sự tăng trưởng các
mạch máu chung quanh chúng. Không có hiện tượng được gọi là sự
phát sinh mạch máu (angiogenèse) này, kích thước các khối u sẽ
không vượt quá 3 hoặc 4 millimètre. Do đó các nghiên cứu đang
được tiến hành tích cực nhằm vào các phân tử chống phát sinh
mạch máu (molécules antiangiogéniques), những mục tiêu mà các
điều trị trong tương lai sẽ nhắm vào.Một trong các phân tử này
vừa được nhận diện bởi Đaị Học Californie: đó là một loại đường
nằm trên thành các mạch máu. Đường này làm
các yếu
tố tăng trưởng phát xuất từ ung thư dễ bám vào các thành mạch và
do đó kích thích sự tạo thành các huyết quản. Các con chuột được
biến đổi về mặt di truyền để không có loại đường này đã phát
triển những khối u có kích thước nhỏ hơn nhiều và ít mạch máu
hơn nhiều so với các con chuột có loại đường này. Đối với nhóm
nghiên cứu, loại đường này là một mục tiêu mà phép điều trị mới
sẽ nhắm vào trong điều trị ung thư.(
LA RECHERCHE 7-8/2007)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
( 9/7/2007)
Trở về Trang Chính
|