|
1/ CÁC TRỰC KHUẨN ĐA ĐỀ KHÁNG BỆNH LAO ĐANG
TRÊN ĐÀ THẮNG THẾ
5,3%
những bệnh nhân lao không đáp ứng với điều trị. Trên 9 triệu
trường hợp bệnh lao mới được phát hiện mỗi năm, 400.000 trường
hợp đề kháng với nhiều thuốc kháng lao, và vài trường hợp đề
kháng với mọi điều trị. Các hiện tượng cực kỳ đề kháng
(ultrarésistance) đang tăng lên. Phải chăng chúng ta đang ở bên
bờ của một trận dịch thế giới của bệnh lao được gọi là “cực kỳ
đề kháng ” gây nên bởi một loại trực khuẩn đề kháng với tất cả
các thuốc kháng lao được biết đến từ trước đến nay ?
Bản báo cáo mới của Tổ chức y tế thế
giới (OMS) về bệnh lao là một trong những bản báo cáo đen tối
nhất. Các trường hợp bệnh lao có trực khuẩn đa đề kháng
(bacilles multirésistants) đã chưa bao giờ tăng cao trên thế
giới như thế trước đây.
OMS đánh giá số các trường hợp bệnh
lao mới được chẩn đoán mỗi năm trên hành tinh của chúng ta là 9
triệu. Theo báo cáo này (căn cứ trên những con số thu lượm được
từ năm 2002 đến 2006 nơi những bệnh nhân từ 82 nước) thì tỷ lệ
trung bình trên thế giới của các hiện tượng đa đề kháng
(multirésistance) lên đến 5,3% của toàn bộ những trường hợp lao
mới được chẩn đoán, hoặc khoảng một nửa triệu các trường hợp.
“ Đó là một tỷ lệ trung bình liên quan
đến một dạng lao phổi không đáp ứng với một điều trị thông
thường có thời gian điều trị từ 6 đến 8 tháng, sử dụng các
thuốc kháng lao thông thường (isoniazide và rifampicine), các
thuốc được chọn đầu tiên (médicaments de première intention) để
điều trị bệnh lao gây nên bởi một trực khuẩn lao nhạy cảm ”, Tổ
chức Liên Hợp Quốc đã xác định như thế.
Hiện tượng đa đề kháng này thay đổi
tùy theo nước. Các tỷ lệ đề kháng đạt các mức kỷ lục ở Nga, ở
Trung Á và ở Đông Âu. Trong vài vùng của thế giới, hầu như cứ 4
trường hợp thì có một trường hợp đa đề kháng, thí dụ như trong
vùng Bakou, thủ đô của Azerbaidjan, ở đây tỷ lệ đa đề kháng đạt
đến 22,3%. Ở Moldavie, tỷ lệ này là 19% và trong nhiều vùng của
Ukraine và Nga, các tỷ lệ đề kháng vượt quá 15%.
Báo cáo của OMS lần đầu tiên cũng chỉ rõ tầm quan trọng
của những trường hợp bệnh lao gây nên bởi các trực khuẩn cực kỳ
đề kháng (bacilles ultrarésistants), một dạng hầu như không thể
điều trị được. Các chuyên gia của OMS tin chắc rằng, mỗi năm,
gần 27.000 bệnh nhân là nạn nhân của một nhiễm trùng bởi một
trực khuẩn lao “ cực kỳ đề kháng ” không thể đánh bại bởi toàn
bộ các kháng sinh chống lao đã được biết. 27.000 trường hợp cực
kỳ đề kháng này hiện diện trong 45 trên 81 nước được nghiên cứu,
và đó chỉ mới là phần nổi của một tảng băng. Con số các trường
hợp được đưa ra chỉ là một phỏng chừng vì nhiều quốc gia châu
Phi không có một phương tiện nào để thu thập các thống kê này.
Bản báo cáo của OMS cũng xác lập mối liên hệ giữa
nhiễm trùng VIH và bệnh lao đa đề kháng : ở Lettonie và trong
Donetsk ( Ukraine), tỷ lệ các trường hợp lao đa đề kháng gần 2
lần nhiều hơn nơi các bệnh nhân mang VIH so với các bệnh nhân
khác.
Gerald Friedland thuộc đại học Yale đánh giá rằng
hai trận dịch sida và lao có thể tạo nên một cơn “ giông lửa ” (
orage de feu) ở Nam Phi. Mối đe dọa này đã được công bố từ ít
lâu nay : vào tháng 8 năm 2006, tại Hội nghị thế giới về Sida ở
Toronto, Gerald Friedland của đại học Yale (Connecticus) và
Anthony Moll của Church of Scotland Hospital (Nam Phi) đã loan
báo việc khám phá một giống gốc trực khuẩn lao mới, có vẻ đề
kháng với tất cả mọi thuốc kháng sinh. 53 bệnh nhân đã được phát
hiện từ năm 2005 đến 2006 trong cộng đồng zouloue của Tugula
Ferry, Nam Phi. Hầu hết các bệnh nhân này cũng có huyết thanh
dương tính đối với VIH. Nhất là 52 trong số 53 bệnh nhân này đã
chết 16 ngày sau khi chẩn đoán được thực hiện : chính tỷ lệ tử
vong bất thường này đã làm phát động các điều tra dẫn đến khám
phá này. BS Friedland e sợ rằng hai trận dịch cặp đôi sida và
lao sẽ tăng cường lẫn nhau. LE SOIR 27/2/2008) (LE FIGARO
29/2/2008)
2/ NHIỀU UNG THƯ HƠN NHƯNG TỶ LỆ TỬ VONG ĐANG HẠ XUỐNG
Ở Pháp , với 320.000 trường hợp ung thư mới được đăng
ký năm 2005, sự gia tăng ung thư là đáng kể từ 25 năm qua.
180.000 trường hợp ung thư mới nơi đàn ông vào năm 2005 ( tiền
liệt tuyến, phổi và đại trực tràng, 3 loại ung thư thường xảy
ra nhất) và 140.000 trường hợp nơi các phụ nữ ( vú, đại trực
tràng và phổi )
Theo các dữ kiện được công bố hôm qua bởi Viện theo
dõi y tế và Viện ung thư quốc gia, trong ¼ thế kỷ, từ năm 1980
đến 2005, số trường hợp ung thư mới được phát hiện đã gần như
tăng lên gấp đôi nơi đàn ông (+ 93%) và gia tăng rất mạnh nơi
phụ nữ (+84%).Trái lại tỷ lệ tử vong có khuynh hướng hạ xuống.
Về tử vong, người ta ước tính 146.000 trường hợp năm
2005. Tỷ lệ tử vong do ung thư đã giảm 24% trong 25 năm, (- 29%
nơi đàn ông, - 22% nơi phụ nữ).
UNG THƯ PHỔI, UNG THƯ GÂY CHẾT NGƯỜI NHẤT
Việc khác nhau giữa sự tăng cao các trường hợp ung thư
mới và sự giảm các trường hợp tử vong được giải thích một mặt
bởi một sự giảm sút rất rõ rệt các loại ung thư hung hãn nhất
(thực quản, dạ dày, họng và miệng) do việc giảm tiêu thụ thuốc
lá và rượu, và mặt khác bởi sự bộc phát gia tăng các ung thư có
tiên lượng tốt hơn, như ung thư vú hay tiền liệt tuyến.“ Sự phân
tích các dữ kiện cho thấy rằng ở phụ nữ, một nửa các trường hợp
mới bổ sung là các ung thư vú, và ở đàn ông, gần 70% là những
ung thư tiền liệt tuyến, hai bệnh ung thư này đã là đối tượng
của một chiến dịch điều tra phát hiện trong 25 năm qua », các
chuyên gia đã chỉ rõ như vậy. Đối với các chuyên gia này, «
những tiến bộ trong thực hành y khoa đã đóng một vai trò nổi bật
trong sự gia tăng số trường hợp các ung thư ở Pháp ”.
Nhưng điều này không giải thích tất cả. “ Lý thuyết
cho rằng các biến đổi của môi trường chịu trách nhiệm một phần
sự gia tăng số trường hợp các ung thư phải là đối tượng của một
nghiên cứu về sự hiện hữu và bản chất của mối liên hệ nhân quả
và về việc định mức sự tiếp xúc của dân chúng với các chất ung
thư được xác nhận hay các chất khả dĩ gây ung thư ”
Ung thư phổi là ung thư gây chết người nhất, với
26.624 trường hợp tử vong trong năm 2005 và 30.651 trường hợp
mới (trong đó 78% nơi đàn ông). Nhưng trong 5 năm qua, tỷ lệ mắc
bệnh ung thư phổi đã giảm mỗi năm 0,5% nơi đàn ông do việc bỏ
thuốc lá đều đặn trong khi đó tỷ lệ ung thư phổi gia tăng đáng
kể nơi các phụ nữ, ngày càng nghiện thuốc lá với sự tăng cao
5,8% mỗi năm.
Ung thư vú vẫn là ung thư thường xảy ra nhất nơi phụ
nữ với một ước tính 49.814 trường hợp mới đối với năm 2005
(11.201 tử vong được ước tính). Một tỷ lệ mắc bệnh gia tăng
trung bình 2,4% mỗi năm từ năm 1980. Các kết quả cho thấy một sự
giảm các ung thư vú được chẩn đoán trong năm 2005 và 2006, được
quy cho việc giảm kê toa điều trị chứng mãn kinh bằng hormone
thay thế.
Ung thư tuyến tiền liệt chiếm 70% các trường hợp bổ sung đã xảy
ra trong 25 năm qua nơi đàn ông. Mặc dầu năm 2005, ung thư tuyến
tiền liệt là ung thư thường xảy ra nhất với 62.245 trường hợp
mới mỗi năm, tuy vậy, ung thư này vẫn có một tiên lượng tốt hơn
nhiều so với ung thư phổi và ung thư vú.(LE FIGARO 22/2/2008)
3/ TUỔI LÀM CHA.
Hầu hết các công trình nghiên cứu
về tuổi làm cha (l’âge paternel) đều quan tâm dến mối liên hệ
giữa tuổi lúc có con và các bất thường bẩm sinh. Các nhà nghiên
cứu người Canada đã phân tích mối liên hệ này với nguy cơ xảy ra
vào thời kỳ sơ sinh. Xi-Kuan Chen và
các cộng sự viên vừa công bố trong tờ báo chính nói về khả năng
sinh sản (fertilité), Human Reproduction, những kết quả của công
trình nghiên cứu rộng lớn nhất về chủ đề này. Các nhà nghiên cứu
đã sử dụng các dữ kiện của Trung tâm quốc gia về thống kê y tế,
đưa vào công trình nghiên cứu hầu như tất cả những lần sinh
(99%) ở Hoa Kỳ từ năm 1995 đến 2000, hoặc một nhóm 23,6 triệu
trẻ em. Trong số những trẻ em này, các nhà nghiên cứu chỉ giữ
lại 2.614.966 em bé còn sống lúc được sinh ra bởi một phụ nữ có
chồng, tuổi từ 20 đến 29 và đối các phụ nữ này các nhà nghiên
cứu có những thông tin cần thiết.
Các tác giả cũng lấy những người
cha tuổi từ 20 đến 29 như là nhóm quy chiếu để so sánh với hai
loại tuổi khác.
Các kết quả cho thấy rằng so với
nhóm các người cha tuổi từ 20 đến 29, những trẻ được sinh ra từ
các người cha tuổi thiếu niên (dưới 20 tuổi) có một nguy cơ gia
tăng bị sinh non (+15% nguy cơ), có trọng lượng nhỏ lúc sinh
(+13%), có tầm vóc thấp so với tuổi thai nghén (+17%), có điểm
số Apgar thấp (+13%), gia tăng tử vong trong thời kỳ sơ sinh
(+22% nguy cơ chết trong 4 tuần đầu sau khi sinh) và sau thời kỳ
sơ sinh (từ 4 tuần đến 1 năm) (+41%). Trái lại, nhóm các người
cha lớn tuổi (hơn 40 tuổi) không liên kết với sự gia tăng các
mối nguy cơ này. Các kết quả này độc lập với tuổi của của người
mẹ hay những yếu tố khác của người mẹ khả dĩ ảnh hưởng lên sự
sinh đẻ . Điều chứng nhận này đang được nghiên cứu sâu hơn nữa.
( LE JOURNAL DU MEDECIN 26/2/2008
4/ CHẨN ĐOÁN NHANH MỘT THỂ BỆNH LỴ CHẾT
NGƯỜI
Các nhà
nghiên cứu của Viện Pasteur đã hiệu chính các dải phản ứng
(bandelette réactive) cho phép chẩn đoán nhanh một trong các thể
bệnh quan trọng của bệnh lỵ. Trắc nghiệm này dành cho các nước
đang phát triển, là nơi 99% các trường hợp bệnh lỵ phát ra, Trắc
nghiệm cho phép phát hiện trong phân của người bệnh, trực khuẩn
Shigella flexneri, nguyên nhân của những thể nghiêm trọng nhất
của bệnh ỉa chảy ra máu. Bệnh lý này gây bệnh cho khoảng 165
triệu người mỗi năm, và làm hơn một triệu người chết mỗi năm,
trong đó 70% là các trẻ em.
Trắc
nghiệm này được hiệu chính ở Viện Pasteur Paris bởi Yves
Germani, trong nhóm của Philippe Sansonetti, và nhóm của Farida
Nato, cộng tác với Viện Pasteur Thành Phố Hồ Chí Minh.Trắc
nghiệm cho phép gắn các vi khuẩn hiện diện trong phân lên các
kháng thể được bố trí trên một dải phản ứng. Sự xác nhận hiệu
quả của các dải phản ứng này đã được thực hiện ở Việt Nam và
được tiếp tục thực hiện trong mạng lưới quốc tế của các viện
Pasteur (Sénégal, Cọng hoà Trung phi, Madagascar), cũng như ở
Chili, ở Bangladesh và ở Djibouti (hợp tác với quân đội Pháp). (
READER’S DIGEST 3/2008)
5/ NHỮNG LỢI ÍCH THẤY ĐƯỢC CỦA GÃI
Gãi thật là
thú vị biết bao ! Cho các ngón tay chạy trên một vùng da bị ngứa
ngáy đôi khi cũng có những nét giống với một khoái lạc cực độ
cường độ nhỏ. Một khoái lạc mà Gil Yosipovitch và các đồng sự
của đại học Wake Forest, ở Winston-Salem (Caroline du Nord, Hoa
Kỳ) vừa giải mã trong một bài báo của Journal of Investigative
Dermatology (tháng giêng 2008).
13 người tình nguyện được đặt trong
một máy chụp IRN (résonance magnétique nucléaire).Trong khi máy
hoạt động, một trong những nhà nghiên cứu với một bàn chải nhỏ,
gãi phần dưới của cẳng chân của người tình nguyện trong 30 giây,
nghỉ 30 giây rồi lập lại thao tác gãi này.Tất cả kéo dài trong 5
phút. Các tác động do động tác gãi làm sáng lên những vùng não
bộ không hoạt động và những vùng gia tăng gấp đôi cường độ trong
khi gãi. Trước hết, hiệu quả có ý nghĩa nhất là sự hạ hoạt động
trong vùng của cortex cingulé, một vùng liên kết với những cảm
nhận các cảm giác khó chịu, đặc biệt là đau đớn. Gãi càng mạnh,
thì hoạt động của vùng này càng giảm. Đối với các nhà nghiên
cứu, đó là bằng chứng cho thấy rằng các chứng ngứa hay các bệnh
như chàm (eczéma) hoặc ngứa (prurit) có thể được làm giảm bớt
nho động tác gãi (nhưng điều này có thể làm tổn hại da).
Các nhà nghiên cứu do đó dự kiến quan tâm đến các bệnh
nhân bị các chứng bệnh này nhằm đánh giá tốt hơn các tác dụng có
lợi của động tác gãi. Bài học khác của công trình nghiên cứu :
vài vùng được kích động, đặc biệt là vỏ não trước trán (cortex
préfrontal) và cortex cingulé, liên quan trong récompense và các
hành vi cưỡng bức (comportements compulsifs). Điều này giải
thích rằng một khi chúng ta bắt đầu gãi, thì đôi khi khó mà dừng
lai được. ( SCIENCES ET AVENIR 3/2008)
6/ HỆ THỐNG MIỄN DỊCH ĐƯỢC CẢI TẠO
Sau một giải phẫu ghép cơ quan,
các thầy thuốc làm suy yếu hệ miễn dịch của bệnh nhân bằng điều
trị ức chế miễn dịch ( traitement immuno-suppresseur) để tránh
phản ứng thải bỏ (rejet). Chẳng bao lâu nữa các thầy thuốc sẽ có
thể chỉ dạy cho cơ quan miễn dịch này trở nên dung nạp với cơ
quan được ghép.
Một ngày nào đó phải chăng chúng
ta sẽ không cần đến điều trị ức chế miễn dịch sau một phẫu thuật
ghép cơ quan ? Đó đúng là điều mà hai thí nghiệm được tiến hành
mới đây trên người và chuột dường như muốn nói. Ngày nay, việc
sử dụng một thuốc ức chế miễn dịch cho phép vô hiệu hóa hệ miễn
dịch của bệnh nhân được ghép và như thế tránh được phản ứng
thải bỏ của cơ quan mới. Nhưng điều trị này phải được theo đuổi
suốt đời. Thế mà, phép điều trị này có những tác dụng phụ (nhiễm
trùng bởi các vi khuẩn cơ hội, độc tính lên thận,...) và ngay cả
không hủy bỏ được nguy cơ loại bỏ cơ quan xảy ra muộn. Do đó
dường như tốt hơn là để hệ miễn dịch của người được ghép hoạt
động bình thường, đồng thời làm cho hệ miễn dịch này trở nên
dung nạp đối với cơ quan lạ.
Hai nhóm nghiên cứu của Hoa Kỳ mới
đây đã mở ra con đường này. Để cho cơ quan của bệnh nhân dung
nạp được với một quả thận được ghép, các thầy thuốc đã tạo ra
nơi các bệnh nhân này một hệ miễn dịch “ lai ” (hybride) : họ
đã giữ một phần các bạch cầu của các bệnh nhân và đã ghép tủy
xương của những người cho, nguồn các tế bào miễn dịch có khả
năng nhận biết thận như là những quả thận của họ. Như thế hệ
miễn dịch “ lai ” của các bệnh nhân đã trở nên dung nạp đối với
cơ quan mới. Hai năm sau, các bệnh nhân vẫn luôn luôn không thải
bỏ cơ quan được ghép.
Phương thức thứ hai, được thực hiện nơi chuột bởi
Joost van Meerwijk và nhóm nghiên cứu Inserm ở Toulouse, đã đi
xa hơn. Các nhà nghiên cứu đã khai thác khả năng của những tế
bào miễn dịch đặc biệt : các tế bào lympho T điều hòa
(lymphocytes T régulateurs). “ Các tế bào miễn dich này có thể
nhận biết một mục tiêu đặc biệt trong cơ thể và bảo vệ mục tiêu
này khỏi bị những tấn công của hệ miễn dịch bằng cách sản xuất
các tín hiệu cản lúc được tiếp xúc với nó, Joost van Meerlijk đã
giải thích như vậy. Nhóm nghiên cứu đã trích các tế bào lympho T
điều hòa của chuột, chọn lọc những tế bào có khả năng nhận biết
tủy xương và cơ quan được ghép và đã tăng sinh chúng lên. “ Khi
chúng tôi tiêm trở lại những tế bào lympho này vào chuột, chúng
đã cản sự tấn công của hệ miễn dịch chống lại cơ quan được ghép.
Phép điều trị bằng tế bào (thérapie cellulaire) này đã cho phép
chúng tôi gây nên một sự dung nạp dài lâu đối với tủy xương và
các cơ quan rắn phát xuất từ cùng động vật như tim hoặc da.”
Một phép điều trị bằng tế bào như
thế có thể được dự kiến nơi người hay không ? “ Vâng, Philippe
Saas thuộc Inserm đã đánh giá như vậy. Chúng tôi nắm vững loại
cấy này và việc xử lý các tế bào lympho T trong hệ thống kín.Và
tổn phí của một điều trị như thế mặc dầu quan trọng lúc khởi
đầu, nhưng có thể rồi ra sẽ không đáng kể so với tổn phí của các
thuộc ức chế miễn dịch phải dùng suốt đời ”.( LA RECHERCHE
3/2008)
7/ CON QUÁI VẬT NGƯỜI ĐẦU TIÊN
Demi-Lee Brennan, một cô thiếu nữ
người Úc, là một trường hợp độc nhất : đó là người được ghép cơ
quan duy nhất trên thế giới được biết là đã thay đổi nhóm máu và
đã lấy nhóm máu của người cho làm nhóm máu của mình. Cô đã được
ghép khi cô mới 9 tuổi và bị một thương tổn nặng ở gan. 9 tháng
sau khi được ghép, trong khi cô được nhập viện vì tình trạng
tổng quát bị suy thoái đột ngột, các thầy thuốc của bệnh viện
Westmead ở Sidney đã khám phá ra rằng nhóm máu O dương tính của
cô đã trở nên O âm tính, tức là giống hệt nhóm máu của người
cho. Các xét nghiệm sâu hơn đã phát hiện rằng toàn bộ hệ miễn
dịch của Demi-Lee đã có được những đặc điểm của hệ miễn dịch của
người thanh niên đã cho cơ quan ghép, điều này tránh cho cô ta
từ nay mọi nguy cơ xảy ra phản ứng thải bỏ. Sự biến dị
(mutation) này đã xảy ra sau khi tủy xương của cô (sản xuất hồng
cầu và bạch cầu) bị xâm chiếm bởi các tế bào gốc phát xuất từ lá
gan mới.
Hiện tượng này, được gọi là
chimérisme ( chimère : quái vật đầu sư tử), đã được quan sát nơi
những bệnh nhân khác nhưng chỉ một phần và một cách tạm thời.
Hôm nay, Demi-Lee có sức khỏe tốt và không cần dùng thuốc ức chế
miễn dịch nữa. Các chuyên gia luôn luôn nghiên cứu trường hợp
của cô để có thể sử dụng trong việc hiệu chính các kỹ thuật
chống thải bỏ mới.( SCIENCES ET AVENIR 3/2008)
8/ CÁC VIÊM BÀNG QUANG LẶP ĐI LẶP LẠI
ĐÃ TÌM ĐƯỢC LỜI GIẢI THÍCH
Tại sao một vài viêm bàng quang cứ
tái đi tái lại mãi ? Trong một vài trường hợp, chính sự xâm nhập
các tế bào bàng quang bởi các khuẩn lạc vi khuẩn Escherichia
coli là nguyên nhân của hiện tượng này. Đã được quan sát ở
chuột, các vi khuẩn trong tế bào (bactéries intracellulaires)
này cũng sẽ hiện diện ở người, theo những công trình nghiên cứu
của David Rosen thuộc đại học Saint-Louis (Hoa Kỳ). Công trình
nghiên cứu của ông cho thấy rằng trong số 80 phụ nữ bị viêm bàng
quang, thì một trong hai phụ nữ có trong nước tiểu các sợi vi
khuẩn (filaments bactériens), những dấu hiệu thấy được chứng tỏ
sự hiện hiện trong bàng quang của những vi khuẩn trong tế bào.
Thật vậy, các khuẩn lạc trong tế bào lúc phân tán ra ngoài các
tế bào đã tạo nên các sợi vi khuẩn ; đến lượt mình các sợi vi
khuẩn này có thể gây nhiễm các tế bào khác. Đây là một hướng để
điều trị các viêm nhiễm tái đi tái lại của bàng quang.
( SCIENCE ET VIE 3/2008 )
9/ RƯỢU DUY TRÌ NHỮNG Ý TƯỞNG ĐEN TỐI.
Ngạn ngữ nói rằng rượu giúp tiêu
sầu, nhưng trên thực tế, rượu chỉ làm kéo dài nỗi âu sầu mà
thôi. Đó là điều được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu được
thực hiện bởi các nhà nghiên cứu của đại học Tokyo.
Nhóm nghiên cứu được điều khiển bởi
giáo sư dược học Norio Matsuki, giải thích rằng éthanol được
chứa trong rượu không làm quên lãng, như chúng ta thường tưởng,
nhưng trái lại bảo tồn những kỹ niệm đã ăn sâu vào trong trí
nhớ.
Các nhà nghiên cứu đã đạt được khám phá này
bằng trắc nghiệm các con chuột phòng thí nghiệm. Các nhà nghiên
cứu đã bắt những con chuột này chịu những phóng điện nhẹ trong
nhiều ngày trước khi đặt chúng vào lại trong lồng.
Các chú chuột sau đó trở nên khiếp sợ mỗi lần chuồng
được mở ra và các nhà nghiên cứu khi đó đã tiêm rượu vào vài con
chuột và dung dịch sinh lý vào những con chuột khác để nghiên
cứu các phản ứng của hai nhóm.
XOÁ BỎ ÂM TÍNH BĂNG DƯƠNG TÍNH
Công trình nghiên cứu đã chứng tỏ
rằng sự sợ hải kéo dài lâu hơn, trung bình 2 tuần lễ, nơi chuột
đã nhận một liều alcool so với những con chuột khác
“ Nếu chúng ta áp dụng những kết quả
này lên người, điều đó có nghĩa là những kỹ niệm xấu mà chúng ta
muốn tống khứ sẽ kéo dài lâu hơn nếu chúng ta uống rượu, mặc dầu
điều đó có thể mang lại một sự sảng khoái nào đó ngay lúc đó. ”,
công trình nghiên cứu nhấn mạnh như vậy.
“ Để quên cái gì đó có tính chất âm tính, nên xóa bỏ
nó bằng cái gì đó dương tính càng sớm càng tốt và không bên đụng
vào rượu ” M.Matsuki đã khuyên như vậy.
Các kết luận của công trình nghiên
cứu đã được công bố trong tạp chí hàn lâm Hoa Kỳ
Neuropsychopharmacology. (LE SOIR 1/3-2/3/2008)
10/ SỰ LÃO HÓA: CÁC NGƯỜI GIÀ CHIẾM 1/3
DÂN SỐ VÀO NĂM 2100.
Một thế giới được ở bởi những nguời
già đỏm dáng, đó là bức tranh về dân số từ nay đến cuối thế kỷ,
được dựng lên bởi Warren Sanderson, thuộc Đại học Stony Brook ở
Nữu Ước, và các đồng nghiệp của viện nhân khẩu học Vienne.
Bằng những phương pháp xác suất họ đã
suy đoán sự lão hóa của dân số trên các vùng khác nhau của thế
giới.
Dầu cho chỉ số được sử dụng như thế
nào đi nữa, sự lão hóa của dân số sẽ được gia tốc cho đến năm
2030, rồi chậm lại và ổn định cho đến cuối thế kỷ này.Từ nay đến
2100, tỷ lệ những người trên 60 tuổi trong dân số thế giới sẽ
tăng lên gấp ba : từ 10% lên 32%.
Nhật bản là nước dấn thân nhất vào trong quá trình lão
hóa. Bắc Mỹ, Châu Âu, Liên Xô trước đây, sẽ đạt mức cao điểm
giữa năm 2020 và 2030. Trung quốc, hiện nay ở mức trung bình của
thế giới với 10% các lão niên , sẽ lão hóa nhanh hơn lên và sẽ
đuổi kịp Châu Âu từ nay đến cuối thế kỷ với tỷ lệ 42% người trên
60 tuổi so với 48% ở Châu Âu. Ở Nam Á, sự lão hóa chỉ sẽ bắt đầu
vào năm 2.030, rồi sau đó sẽ đến lượt Trung đông và sau cùng,
vào giữa thế kỷ là Châu Phi dưới Sahara.
Người ta cũng sẽ sống lâu hơn và có
sức khoẻ tốt hơn. Như vậy, chúng ta sẽ « trẻ » hơn ở cùng lứa
tuổi vào năm 2100 so với hôm nay. Ví dụ vào năm 2100, một người
32,9 tuổi sẽ sống số năm còn lại bằng với số năm còn lại để sống
của một người 26,6 tuổi hôm nay.( POUR
LA SCIENCE 3/2008)
BS
NGUYỄN VĂN THỊNH
(7/3/2008)
Trở về Trang Chính
|