Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

E-Mail: bsnguyenvanthinh@khoahoc.net

13 tháng 09 năm 2007

1/ ĐỘI CẬN VỆ TIỀN PHONG CỦA HỆ MIỄN DỊCH.

          Một kỹ thuật mới đã bắt gặp bất ngờ các chiến sĩ của hệ miễn dịch mà từ trước đến nay chúng ta đã không biết đến.

          Các bạch cầu nằm bất động một cách lạ kỳ này, một quần thể đặc biệt của các « cận vệ » của chúng ta, vừa được phát hiện bởi đội nghiên cứu của Frédéric Geissmann (Inserm U838, đại học Paris-Descarte, bệnh viện Necker).Từ trước đến nay chúng ta thường nghĩ rằng tất cả các cận vệ của hệ miễn dịch đều lưu thông tự do trong máu và chỉ được huy động lúc có một nhiễm trùng để tấn công chống lại mọi kẻ lạ mặt (vi khuẩn, ký sinh trùng) đột nhập vào cơ thể của chúng ta.
        
Thế mà một hiện tượng lạ kỳ đã được quan sát nhờ một kỹ thuật mới được sử dụng bởi một trong những nhà nghiên cứu của nhóm, Cedric Auffray. Ông ta đã nhìn thấy bằng hình ảnh sống động lộ trình đi qua của các bạch cầu trong những huyết quản của da chuột còn sống và chứng nhận rằng một vài trong số các bạch cầu này đã không bị dòng máu mang đi. « Chúng tôi thấy các bạch cầu đơn nhân « thường trú » (monocytes résidents) này tưởng như bất động.Thật ra chúng rất chậm chạp và di chuyển trung bình 1mm/giờ, hoặc 100 đến 1000 lần kém nhanh hơn những bạch cầu khác », các nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy.

          Bí quyết của các tế bào đơn nhân « thường trú »: trên bề mặt của chúng, các phân tử làm dính (molécules d’adhérence) cho phép chúng đứng canh gác trên thành của các tế bào và giám sát các mô. Trong trường hợp nhiễm trùng hay bị thương tích, chúng xuất hiện từ các huyết quản và can thiệp rất nhanh chóng, nhiều giờ trước khi đội binh còn lại của tiểu đoàn miễn dịch ra quân. Ngoài ra mỗi khi được báo động, chúng được biến đổi thành những chiến sĩ thiện chiến đáng sợ, những đại thực bào (macrophages) có khả năng nuốt các vi khuẩn .

          Nhưng, chú ý, nếu các bạch cầu đơn nhân thường trú » này là những bạch cầu xuất hiện đầu tiên để bảo vệ cơ thể của chúng ta, thì chúng cũng can dự trong vài bệnh viêm như xơ mỡ động mạch (athérosclérose) và làm tổn hại thành các động mạch.Vậy đó là những lính canh phòng cần phải được theo dõi sát. ( SCIENCES ET AVENIR 9/2007 )



2/ HAI NIỀM HY VỌNG CHỐNG LẠI CÁC U LYMPHO (LYMPHOME).

         Khám phá một chiến lược điều trị mới chống lại các ung thư máu này.

         Hai loại thuốc được sử dụng như tác nhân ức chế miễn dịch (immunosuppresseur) có thể tạo nên một vũ khí mới chống lại các ung thư máu là các u lympho (lymphomes). Đây là một khám phá của nhóm nghiên cứu được điều khiển bởi Jacques Ghysdael (Viện Curie).Ông này đã nhận diện sự có mặt trên tế bào ung thư một enzyme được hoạt hóa thường trực, calcineurine. Mà enzyme này đúng là mục tiêu của cyclosporine và của FK506, hai chất thuờng được sử dụng để làm giảm hoạt tính của hệ miễn dich nơi những người bị ghép cơ quan. Người ta đã quan sát rằng các chất này in vitro đã gây nên sự phá hủy hàng loạt các tế bào u ở người bằng cách khởi động cái chết được chương trình hóa của chúng. In vitro, ở loài chuột được dùng như mô hình động vật, thời gian sống còn hầu như đã tăng gấp đôi sau khi cho một trong hai thuốc ức chế miễn dịch này với liều lượng được sử dụng trong điều trị ở người.

         « Những kết quả này đặc biệt đáng quan tâm, Jacques Ghysdael giải thích như vậy, bởi vi các u lympho vẫn tiếp tục tiến triển theo nhịp độ 12.000 bệnh nhân mới mỗi năm ở Pháp. Bây giờ mục tiêu của chúng tôi là thử nghiệm các chất ức chế miễn dịch này nơi các bệnh nhân không đáp ứng với hoá học trị liệu đang được sử dụng hiện nay, tuy nhiên với hy vọng được hổ trợ bởi các nhà chế tạo những dược phẩm rất đắc giá này ». Để làm nhạy cảm quần chúng về loại ung thư không được biết đến này, một Ngày quốc tế về bệnh u lympho sẽ được tổ chức vào ngày 15 tháng 9 sắp đến bởi Association France Lymphome Espoir.( SCIENCES ET AVENIR 9/2007)

 

3/ THUỐC CHỐNG SỐT RÉT KHÔNG CẦN TIÊM CHÍCH.

           Cho thuốc chống sốt rét bằng đường trực tràng (administration intrarectale) là một lựa chọn đáng quan tâm trong trường hợp sốt rét thể nặng cần phải tiến hành điều trị trong một thời hạn ngắn ngủi nhất.Theo phân tích của khoảng 30 công trình nghiên cứu dược liệu học và lâm sàng được thực hiện trên những người lành mạnh và những bệnh nhân bị sốt rét, các dẫn xuất chính của artémisine có hiệu quả bằng đường trực tràng cũng như bằng đường tiêm chích. Sau khi cho thuốc bằng đường trực tràng, các nồng độ của thuốc trong cơ thể thay đổi nhiều tùy theo cá nhân, nhưng việc loại bỏ ký sinh trùng bằng đường trực tràng thường nhanh hơn so với đường tiêm chích.(SCIENCES ET AVENIR 9/2007)



4/ HÚT CỤC MÁU ĐÔNG TĨNH MẠCH TRƯỚC NGHẼN MẠCH PHỔI
.

            Huyết khối tĩnh mạch sâu (thrombose veineuse profonde) có biến chứng chính là nghẽn mạch phổi (embolie pulmonaire)  : sự di chuyển của cục máu đông xuyên qua các tĩnh mạch chủ vào tim phải đến tận phổi, gây nghẽn đột ngột một nhánh của động mạch phổi hoặc của chính động mạch phổi. Nghẽn mạch phổi là một bệnh nghiêm trọng có thể dẫn đến tử vong. Để tránh biến chứng này, các kết quả thu được nơi khoảng 30 bệnh nhân với các huyết khối tĩnh mạch sâu của tĩnh mạch bẹn hoặc nách chứng tỏ rằng việc cắt bỏ cục nghẽn mạch bằng đường qua da (thrombectomie percutanée) có hiệu quả bổ sung cho điều trị bằng thuốc chống đông.

         Kỹ thuật khai thông mạch máu ( désobstruction vasculaire) này chủ yếu tái lập luồng máu nhờ hút cục máu đông tĩnh mạch bằng một ống thông sau khi đã làm tan cục huyết đông bằng cách đè nát.Thủ thuật này có thể kết hợp với tiêm tại chỗ thuốc chống đông.Thời gian thủ thuật từ một giờ đến hai giờ rưỡi. Sau 6 tháng, 90% các tĩnh mạch được mổ trở nên thông thương với sự hồi phục các chức năng van trong 88% trường hợp.(SCIENCES ET AVENIR 9/2007).

 

5/ SIÊU ÂM ĐỂ CHẤN ĐOÁN BỆNH THỐNG PHONG.

        Phân tích so sánh các bệnh nhân bị bệnh thống phong (goutte) và các người bị bệnh khớp khác cho thấy rằng việc nhờ đến siêu âm là một phương tiện tốt để xác định chẩn đoán bệnh thống phông. Trong hầu hết các trường hợp, người ta tìm thấy các bất thường siêu âm nơi các khớp ở tay và chân, đặc biệt một dạng đường biên kép (double contour) với các dấu hiệu xói mòn (érosion) bao quanh những chất lắng trong khớp (dépots articulaires).( SCIENCES ET AVENIR 9/2007)

 

6/ MỘT ÍT ĐƯỜNG VÀ NHIỀU XƯƠNG.

           Bộ xương của chúng ta bản thân là một hệ nội tiết.Thật vậy, theo một nhóm nghiên cứu của trung tâm y khoa của đại học Columbia (Nữu Ước) thì xương của chúng ta có khả năng điều hòa lượng đường trong máu qua sự tiết một hormone gọi là ostéocalcine. Chất này kích thích tiết insuline và làm gia tăng tính nhạy cảm của các tế bào đối với hormone này để tiêu thụ đường trong máu. Đây là lần đầu tiên một phân tử có hai chức năng này được khám phá.( SCIENCES ET AVENIR 9/2001).

 

7/ CYTOKINE, ĐỒNG MINH CỦA BỆNH SIDA.

         Người ta hiểu tốt hơn tại sao các phép điều trị chống lại bệnh sida hiện nay không bao giờ trừ tiệt được virus VIH (HIV) ra khỏi cơ thể người bệnh. Chứng tỏ cho điều này là sự tái phát sinh nhanh chóng và hầu như có hệ thống của căn bệnh sida một khi bệnh nhân ngưng dùng thuốc.Nhưng người ta cũng hiểu rõ hơn virus ẩn trốn ở nơi đâu, ngay cả sau nhiều nằm điều trị.Thật vậy, lúc nghiên cứu các mô hình động vật, một nhóm nghiên cứu người Pháp của Inserm, của CNRS và của Viện Pasteur, dưới sự lãnh đạo của Jérome Estaquier, đã khám phá một chỗ chứa virus (un réservoir à virus) nằm chủ yếu trong những hạch bạch huyết của vùng ruột ( hạch màng treo ruột : ganglions mésentériques). Siêu vi trùng bệnh sida có thể ẩn trốn ở đó sau hơn 10 năm nhiễm trùng mặc dầu virus không thể được phát hiện ở những nơi khác : thật vậy lượng virus trong máu lúc đó là zéro..
         Các nhà nghiên cứu đã hiểu được một phần tại sao.Họ đã chứng minh rằng các « tế bào lympho sát nhân » (lymphocytes tueurs), tức là các tế bào lympho T CD8 độc với tế bào (cytotoxique) của các hạch màng treo ruột, có  thời gian sống ngắn ngủi. Bình thường các tế bào lympho sát nhân này có khả năng kiểm soát sự tăng sinh virus bằng cách tiêu hủy các tế bào bị nhiễm trùng. Nhưng các nhà nghiên cứu đã khám phá một khuyết tật trong bộ áo giáp của những tế bào lympho này.Trong những hạch màng treo ruột, các “ tế bào lympho sát nhân ” nhạy cảm với sự hiện diện của một cytokine TGF-beta. Cytokine này ngăn cản các tế bào lympho làm đúng công việc của chúng cũng như ngăn cản chúng thiết lập một đáp ứng miễn dịch. 

        Các kết quả này mang lại niềm hy vọng hiệu chính các chiến lược mới chống sida, nhằm vào sự phong bế cytokine hoặc gia tăng tuổi thọ của các lympho sát nhân.(SCENCES ET AVENIR 9/2007)

 

8/ LIỀU LƯỢNG CALCIUM TỐT NHẤT CHO XƯƠNG CỦA NGƯỜI GIÀ.
         Uống calcium bổ sung hoặc calcium và vitamin D dùng kết hợp, có thể làm giảm nguy cơ gãy xương và mất mật độ xương (bone density) nơi người già, miễn là các chất bổ sung được uống đều đặn và với liều lượng đủ lớn.                                                                                                  

         Một duyệt xét 29 thử nghiệm, bao gồm hơn 63.000 đàn ông và đàn bà trên 50 tuổi đã nhận thấy rằng nguy cơ gãy xương có thể giảm 12% với các chất bổ sung calcium và vitamin D.Tốc độ mất xương giảm khoảng 0,5-1% ở xương háng và 1,9% ở xương sống. Nguy cơ gãy xương giảm gần ¼ trong những nghiên cứu trong đó các chất bổ sung được uống một cách chu đáo.
          Công trình duyệt xét, được công bố trong số 25/8 của The Lancet đã nhận thấy rằng hiệu quả tốt nhất với các liều lượng 1.200 mg calcium và 800 đơn vị quốc tế vitamin D. Khẩu phần được khuyên đối với calcium ở người trên 50 tuổi là 1.200 mg nhưng đối với vitamin D là 400 đơn vị đối với những người từ 50 đến 70 tuổi và 600 đơn vị đối với những người 71 tuổi hoặc hơn.

         Thêm vitamin D vào calcium không có vẻ làm gia tăng tác dụng bảo vệ xương. Nhưng các nghiên cứu thiếu các con số về liều lượng cao của vitamin D.Tuy nhiên các tác giả khuyên rằng nếu vitamin D phải được sử dụng như chất hỗ trợ thì nên được cho với những liều lượng vượt quá 800 đơn vị quốc tế.(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 6/9/2007)

 

9/ NGUY CƠ MẮC PHẢI CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ

          Các phụ nữ mà buồng trứng bị lấy đi trước thời kỳ mãn kinh có thể có nguy cơ gia tăng bị chứng sa sút trí tuệ (dementia), một nghiên cứu mới đã báo cáo như vậy.

         Các nhà nghiên cứu đã khảo sát 1.489 phụ nữ có một hoặc hai buồng trứng bị cắt bỏ, so sánh họ với một nhóm kiểm chứng 1.472 phụ nữ có các buồng trứng nguyên vẹn. Nhóm nghiên cứu đã theo dõi các phụ nữ này trong 25 đến 30 năm, phỏng vấn họ hoặc người chăm sóc họ để xác định  tình trạng tâm thần.

         Các phụ nữ lúc bị giải phẫu cắt bỏ buồng trứng càng trẻ thi nguy cơ bị rối loạn thần kinh tâm thần càng cao. Các phụ nữ được mổ trước năm 43 tuổi có nguy cơ bị rối loạn tâm thần 67% cao hơn so với các phụ nữ có những buồng trứng nguyên vẹn trong thời kỳ mãn kinh. Các phụ nữ được điều trị thay thế bằng oestrogène cho đến năm 50 tuổi không có nguy cơ gia tăng mặc dầu số phụ nữ được điều trị quá ít ỏi nên không có ý nghĩa về mặt thống kê.
        Các tác giả, viết trong số tháng 9 Neurology lý thuyết rằng sự thiếu hụt oestrogène gây nên bởi việc cắt bỏ buồng trứng là động lực khởi đầu cho những thay đổi sinh lý làm gia tăng nguy cơ sa sút trí tuệ.

       “ Có một thời người ta nghĩ rằng việc cất bỏ buồng trứng là hoàn toàn có lợi (ngăn ngừa ung thư buồng trứng) và tuồng như không có bất lợi nào ”.Walter Rocca của Mayo Clinic, tác giả hướng dẫn công trình nghiên cứu đã phát biểu như vậy. “ Vẫn còn có những tình huống cho rằng cắt bỏ buồng trứng là một ý nghĩ hay, nhưng điều này không phải sẽ áp dụng cho tất cả các phụ nữ “INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 6/9/2007)

 

10/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG TRONG THỜI KỲ THAI NGHÉN VÀ CHÚNG BÉO PHÌ

         Một công trình nghiên cứu mới nhận thấy rằng bệnh đái đường trong thời kỳ thai nghén (gestational diabetes) của người mẹ (loại đái đường bắt đầu trong thời kỳ thai nghén), liên kết đáng kể với chứng béo phì xảy ra nơi các trẻ con của họ ở lứa tuổi 5 đến 7 tuổi.

         Các nhà nghiên cứu đã đo nồng độ glucose nơi 9.439 người phụ nữ có thai và khám các trẻ của các phụ nữ này 5 hoặc 7 năm sau đó. Không có phụ nữ đã bị đái  đường trước khi có thai.
         Các bà mẹ có thai càng bị đái đường nặng thì con của họ càng dễ bị chứng béo phì về sau. Các trẻ con của các bà mẹ với đường cao trong máu nhưng không được điều trị vào lúc có thai, hầu như bị béo phì hoặc tăng thể trọng hai lần nhiều hơn các trẻ con của những bà mẹ với đường trong máu bình thường. Nhưng các bà mẹ có tăng glucose-huyết và được điều trị trong thời kỳ thai nghén sẽ làm giảm nguy cơ có con bị béo phì như trường hợp các bà mẹ có glucose bình thường trong lúc thai nghén.( INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 6/9/2007)



                        
      BS NGUYỄN VĂN THỊNH
                                      ( 9/9/2007
)
                              

 

Trở về Trang Chính