|
1/ ĐỘI CẬN VỆ TIỀN PHONG CỦA HỆ MIỄN DỊCH.
Một kỹ
thuật mới đã bắt gặp bất ngờ các chiến sĩ của hệ miễn dịch mà từ
trước đến nay chúng ta đã không biết đến.
Các bạch cầu nằm bất động một cách
lạ kỳ này, một quần thể đặc biệt của các « cận vệ » của chúng
ta, vừa được phát hiện bởi đội nghiên cứu của Frédéric Geissmann
(Inserm U838, đại học Paris-Descarte, bệnh viện Necker).Từ trước
đến nay chúng ta thường nghĩ rằng tất cả các cận vệ của hệ miễn
dịch đều lưu thông tự do trong máu và chỉ được huy động lúc có
một nhiễm trùng để tấn công chống lại mọi kẻ lạ mặt (vi khuẩn,
ký sinh trùng) đột nhập vào cơ thể của chúng ta.
Thế mà một hiện tượng lạ kỳ đã
được quan sát nhờ một kỹ thuật mới được sử dụng bởi một trong
những nhà nghiên cứu của nhóm, Cedric Auffray. Ông ta đã nhìn
thấy bằng hình ảnh sống động lộ trình đi qua của các bạch cầu
trong những huyết quản của da chuột còn sống và chứng nhận rằng
một vài trong số các bạch cầu này đã không bị dòng máu mang đi.
« Chúng tôi thấy các bạch cầu đơn nhân « thường trú » (monocytes
résidents) này tưởng như bất động.Thật ra chúng rất chậm chạp và
di chuyển trung bình 1mm/giờ, hoặc 100 đến 1000 lần kém nhanh
hơn những bạch cầu khác », các nhà nghiên cứu đã giải thích như
vậy.
Bí quyết của các tế bào đơn nhân «
thường trú »: trên bề mặt của chúng, các phân tử làm dính
(molécules d’adhérence) cho phép chúng đứng canh gác trên thành
của các tế bào và giám sát các mô.
Trong trường hợp nhiễm trùng hay bị thương tích, chúng xuất hiện
từ các huyết quản và can thiệp rất nhanh chóng, nhiều giờ trước
khi đội binh còn lại của tiểu đoàn miễn dịch ra quân. Ngoài ra
mỗi khi được báo động, chúng được biến đổi thành những chiến sĩ
thiện chiến đáng sợ, những đại thực bào (macrophages) có khả
năng nuốt các vi khuẩn .
Nhưng, chú ý, nếu các bạch cầu đơn
nhân thường trú » này là những bạch cầu xuất hiện đầu tiên để
bảo vệ cơ thể của chúng ta, thì chúng cũng can dự trong vài bệnh
viêm như xơ mỡ động mạch (athérosclérose) và làm tổn hại thành
các động mạch.Vậy đó là những lính canh phòng cần phải được theo
dõi sát. ( SCIENCES ET AVENIR 9/2007 )
2/ HAI NIỀM HY VỌNG CHỐNG LẠI CÁC U LYMPHO
(LYMPHOME).
Khám phá một chiến lược điều trị mới
chống lại các ung thư máu này.
Hai loại thuốc được sử dụng như tác
nhân ức chế miễn dịch (immunosuppresseur) có thể tạo nên một vũ
khí mới chống lại các ung thư máu là các u lympho (lymphomes).
Đây là một khám phá của nhóm nghiên cứu được điều khiển bởi
Jacques Ghysdael (Viện Curie).Ông này đã nhận diện sự có mặt
trên tế bào ung thư một enzyme được hoạt hóa thường trực,
calcineurine. Mà enzyme này đúng là mục tiêu của cyclosporine và
của FK506, hai chất thuờng được sử dụng để làm giảm hoạt tính
của hệ miễn dich nơi những người bị ghép cơ quan. Người ta đã
quan sát rằng các chất này in vitro đã gây nên sự phá hủy hàng
loạt các tế bào u ở người bằng cách khởi động cái chết được
chương trình hóa của chúng. In vitro, ở loài chuột được dùng như
mô hình động vật, thời gian sống còn hầu như đã tăng gấp đôi sau
khi cho một trong hai thuốc ức chế miễn dịch này với liều lượng
được sử dụng trong điều trị ở người.
« Những kết
quả này đặc biệt đáng quan tâm, Jacques Ghysdael giải thích như
vậy, bởi vi các u lympho vẫn tiếp tục tiến triển theo nhịp độ
12.000 bệnh nhân mới mỗi năm ở Pháp. Bây giờ mục
tiêu của chúng tôi là thử nghiệm các chất ức chế miễn dịch này
nơi các bệnh nhân không đáp ứng với hoá học trị liệu đang được
sử dụng hiện nay, tuy nhiên với hy vọng được hổ trợ bởi các nhà
chế tạo những dược phẩm rất đắc giá này ». Để làm nhạy cảm quần
chúng về loại ung thư không được biết đến này, một Ngày quốc tế
về bệnh u lympho sẽ được tổ chức vào ngày 15 tháng 9 sắp đến bởi
Association France Lymphome Espoir.( SCIENCES ET AVENIR 9/2007)
3/ THUỐC CHỐNG SỐT RÉT KHÔNG CẦN TIÊM CHÍCH.
Cho thuốc chống sốt rét bằng đường
trực tràng (administration intrarectale) là một lựa chọn đáng
quan tâm trong trường hợp sốt rét thể nặng cần phải tiến hành
điều trị trong một thời hạn ngắn ngủi nhất.Theo phân tích của
khoảng 30 công trình nghiên cứu dược liệu học và lâm sàng được
thực hiện trên những người lành mạnh và những bệnh nhân bị sốt
rét, các dẫn xuất chính của artémisine có hiệu quả bằng đường
trực tràng cũng như bằng đường tiêm chích. Sau khi cho thuốc
bằng đường trực tràng, các nồng độ của thuốc trong cơ thể thay
đổi nhiều tùy theo cá nhân, nhưng việc loại bỏ ký sinh trùng
bằng đường trực tràng thường nhanh hơn so với đường tiêm
chích.(SCIENCES ET AVENIR 9/2007)
4/ HÚT CỤC MÁU ĐÔNG TĨNH MẠCH TRƯỚC NGHẼN
MẠCH PHỔI.
Huyết khối tĩnh mạch sâu
(thrombose veineuse profonde) có biến chứng chính là nghẽn mạch
phổi (embolie pulmonaire) : sự di chuyển của cục máu đông xuyên
qua các tĩnh mạch chủ vào tim phải đến tận phổi, gây nghẽn đột
ngột một nhánh của động mạch phổi hoặc của chính động mạch phổi.
Nghẽn mạch phổi là một bệnh nghiêm trọng có thể dẫn đến tử vong.
Để tránh biến chứng này, các kết quả thu được nơi khoảng 30 bệnh
nhân với các huyết khối tĩnh mạch sâu của tĩnh mạch bẹn hoặc
nách chứng tỏ rằng việc cắt bỏ cục nghẽn mạch bằng đường qua da
(thrombectomie percutanée) có hiệu quả bổ sung cho điều trị bằng
thuốc chống đông.
Kỹ thuật khai thông mạch máu (
désobstruction vasculaire) này chủ yếu tái lập luồng máu nhờ hút
cục máu đông tĩnh mạch bằng một ống thông sau khi đã làm tan cục
huyết đông bằng cách đè nát.Thủ thuật này có thể kết hợp với
tiêm tại chỗ thuốc chống đông.Thời gian thủ thuật từ một giờ đến
hai giờ rưỡi. Sau 6 tháng, 90% các tĩnh mạch được mổ trở nên
thông thương với sự hồi phục các chức năng van trong 88% trường
hợp.(SCIENCES ET AVENIR 9/2007).
5/ SIÊU ÂM ĐỂ CHẤN ĐOÁN BỆNH THỐNG PHONG.
Phân tích so sánh các bệnh nhân bị
bệnh thống phong (goutte) và các người bị bệnh khớp khác cho
thấy rằng việc nhờ đến siêu âm là một phương tiện tốt để xác
định chẩn đoán bệnh thống phông. Trong hầu hết các trường hợp,
người ta tìm thấy các bất thường siêu âm nơi các khớp ở tay và
chân, đặc biệt một dạng đường biên kép (double contour) với các
dấu hiệu xói mòn (érosion) bao quanh những chất lắng trong khớp
(dépots articulaires).( SCIENCES ET AVENIR 9/2007)
6/ MỘT ÍT ĐƯỜNG VÀ NHIỀU XƯƠNG.
Bộ xương của chúng ta bản thân là
một hệ nội tiết.Thật vậy, theo một nhóm nghiên cứu của trung tâm
y khoa của đại học Columbia (Nữu Ước) thì xương của chúng ta có
khả năng điều hòa lượng đường trong máu qua sự tiết một hormone
gọi là ostéocalcine. Chất này kích thích tiết insuline và làm
gia tăng tính nhạy cảm của các tế bào đối với hormone này để
tiêu thụ đường trong máu. Đây là lần đầu tiên một phân tử có hai
chức năng này được khám phá.( SCIENCES
ET AVENIR 9/2001).
7/ CYTOKINE, ĐỒNG MINH CỦA BỆNH SIDA.
Người ta
hiểu tốt hơn tại sao các phép điều trị chống lại bệnh sida hiện
nay không bao giờ trừ tiệt được virus VIH (HIV) ra khỏi cơ thể
người bệnh. Chứng tỏ cho điều này là sự tái phát sinh nhanh
chóng và hầu như có hệ thống của căn bệnh sida một khi bệnh nhân
ngưng dùng thuốc.Nhưng người ta cũng hiểu rõ hơn virus ẩn trốn ở
nơi đâu, ngay cả sau nhiều nằm điều trị.Thật vậy, lúc nghiên cứu
các mô hình động vật, một nhóm nghiên cứu người Pháp của Inserm,
của CNRS và của Viện Pasteur, dưới sự lãnh đạo của Jérome
Estaquier, đã khám phá một chỗ chứa virus (un réservoir à virus)
nằm chủ yếu trong những hạch bạch huyết của vùng ruột ( hạch
màng treo ruột : ganglions mésentériques). Siêu vi trùng bệnh
sida có thể ẩn trốn ở đó sau hơn 10 năm nhiễm trùng mặc dầu
virus không thể được phát hiện ở những nơi khác : thật vậy lượng
virus trong máu lúc đó là zéro..
Các nhà nghiên cứu đã hiểu được một phần tại sao.Họ đã
chứng minh rằng các « tế bào lympho sát nhân » (lymphocytes
tueurs), tức là các tế bào lympho T CD8 độc với tế bào
(cytotoxique) của các hạch màng treo ruột, có thời gian sống
ngắn ngủi. Bình thường các tế bào lympho sát nhân này có khả
năng kiểm soát sự tăng sinh virus bằng cách tiêu hủy các tế bào
bị nhiễm trùng. Nhưng các nhà nghiên cứu đã khám phá một khuyết
tật trong bộ áo giáp của những tế bào lympho này.Trong những
hạch màng treo ruột, các “ tế bào lympho sát nhân ” nhạy cảm với
sự hiện diện của một cytokine TGF-beta. Cytokine này ngăn cản
các tế bào lympho làm đúng công việc của chúng cũng như ngăn cản
chúng thiết lập một đáp ứng miễn dịch.
Các kết quả này mang lại niềm hy vọng
hiệu chính các chiến lược mới chống sida, nhằm vào sự phong bế
cytokine hoặc gia tăng tuổi thọ của các lympho sát nhân.(SCENCES
ET AVENIR 9/2007)
8/ LIỀU LƯỢNG
CALCIUM TỐT NHẤT CHO XƯƠNG CỦA NGƯỜI GIÀ.
Uống calcium bổ sung hoặc calcium và vitamin D dùng kết
hợp, có thể làm giảm nguy cơ gãy xương và mất mật độ xương (bone
density) nơi người già, miễn là các chất bổ sung được uống đều
đặn và với liều lượng đủ
lớn.
Một duyệt xét 29 thử nghiệm, bao gồm
hơn 63.000 đàn ông và đàn bà trên 50 tuổi đã nhận thấy rằng nguy
cơ gãy xương có thể giảm 12% với các chất bổ sung calcium và
vitamin D.Tốc độ mất xương giảm khoảng 0,5-1% ở xương háng và
1,9% ở xương sống. Nguy cơ gãy xương giảm gần ¼ trong những
nghiên cứu trong đó các chất bổ sung được uống một cách chu đáo.
Công trình duyệt xét, được công bố trong số 25/8 của
The Lancet đã nhận thấy rằng hiệu quả tốt nhất với các liều
lượng 1.200 mg calcium và 800 đơn vị quốc tế vitamin D. Khẩu
phần được khuyên đối với calcium ở người trên 50 tuổi là 1.200
mg nhưng đối với vitamin D là 400 đơn vị đối với những người từ
50 đến 70 tuổi và 600 đơn vị đối với những người 71 tuổi hoặc
hơn.
Thêm
vitamin D vào calcium không có vẻ làm gia tăng tác dụng bảo vệ
xương. Nhưng các nghiên cứu thiếu các con số về liều lượng cao
của vitamin D.Tuy nhiên các tác giả khuyên rằng nếu vitamin D
phải được sử dụng như chất hỗ trợ thì nên được cho với những
liều lượng vượt quá 800 đơn vị quốc tế.(INTERNATIONAL HERALD
TRIBUNE 6/9/2007)
9/ NGUY CƠ MẮC PHẢI
CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ
Các phụ nữ mà buồng trứng bị lấy đi
trước thời kỳ mãn kinh có thể có nguy cơ gia tăng bị chứng sa
sút trí tuệ (dementia), một nghiên cứu mới đã báo cáo như vậy.
Các nhà nghiên cứu đã khảo sát 1.489
phụ nữ có một hoặc hai buồng trứng bị cắt bỏ, so sánh họ với một
nhóm kiểm chứng 1.472 phụ nữ có các buồng trứng nguyên vẹn. Nhóm
nghiên cứu đã theo dõi các phụ nữ này trong 25 đến 30 năm, phỏng
vấn họ hoặc người chăm sóc họ để xác định tình trạng tâm thần.
Các phụ nữ lúc bị giải phẫu cắt bỏ
buồng trứng càng trẻ thi nguy cơ bị rối loạn thần kinh tâm thần
càng cao. Các phụ nữ được mổ trước năm 43 tuổi có nguy cơ bị rối
loạn tâm thần 67% cao hơn so với các phụ nữ có những buồng trứng
nguyên vẹn trong thời kỳ mãn kinh. Các phụ nữ được điều trị thay
thế bằng oestrogène cho đến năm 50 tuổi không có nguy cơ gia
tăng mặc dầu số phụ nữ được điều trị quá ít ỏi nên không có ý
nghĩa về mặt thống kê.
Các tác giả, viết trong số tháng 9 Neurology lý thuyết
rằng sự thiếu hụt oestrogène gây nên bởi việc cắt bỏ buồng trứng
là động lực khởi đầu cho những thay đổi sinh lý làm gia tăng
nguy cơ sa sút trí tuệ.
“ Có một thời người ta nghĩ rằng việc
cất bỏ buồng trứng là hoàn toàn có lợi (ngăn ngừa ung thư buồng
trứng) và tuồng như không có bất lợi nào ”.Walter Rocca của Mayo
Clinic, tác giả hướng dẫn công trình nghiên cứu đã phát biểu như
vậy. “ Vẫn còn có những tình huống cho rằng cắt bỏ buồng trứng
là một ý nghĩ hay, nhưng điều này không phải sẽ áp dụng cho tất
cả các phụ nữ “INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 6/9/2007)
10/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG TRONG THỜI KỲ THAI NGHÉN VÀ CHÚNG BÉO PHÌ
Một công
trình nghiên cứu mới nhận thấy rằng bệnh đái đường trong thời kỳ
thai nghén (gestational diabetes) của người mẹ (loại đái đường
bắt đầu trong thời kỳ thai nghén), liên kết đáng kể với chứng
béo phì xảy ra nơi các trẻ con của họ ở lứa tuổi 5 đến 7 tuổi.
Các nhà nghiên cứu đã đo nồng độ
glucose nơi 9.439 người phụ nữ có thai và khám các trẻ của các
phụ nữ này 5 hoặc 7 năm sau đó. Không có phụ nữ đã bị đái đường
trước khi có thai.
Các bà mẹ có thai càng bị đái đường nặng thì con của họ
càng dễ bị chứng béo phì về sau. Các trẻ con của các bà mẹ với
đường cao trong máu nhưng không được điều trị vào lúc có thai,
hầu như bị béo phì hoặc tăng thể trọng hai lần nhiều hơn các trẻ
con của những bà mẹ với đường trong máu bình thường. Nhưng các
bà mẹ có tăng glucose-huyết và được điều trị trong thời kỳ thai
nghén sẽ làm giảm nguy cơ có con bị béo phì như trường hợp các
bà mẹ có glucose bình thường trong lúc thai nghén.(
INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 6/9/2007)
BS
NGUYỄN VĂN THỊNH
( 9/9/2007)
Trở về Trang Chính
|