|
MẤT NGỦ NGĂN CẢN SỰ HÌNH THÀNH
CÁC TẾ BÀO THẦN KINH
Việc thiếu ngủ làm ngăn cản sự phát sinh các tế bào thần kinh
mới trong hippocampe, một bộ phận của não bộ có liên quan đến
trí nhớ. Đó là điều vừa được chứng minh bởi các nhà nghiên cứu
của đại học Princeton (New Jesey), sau khi đã nghiên cứu não bộ
của chuột bị mất ngủ trong 72 giờ. Để biết não bộ của chúng có
còn « chế tạo » các neurones (tế bào thần kinh) mới hay không,
các nhà nghiên cứu đã tiêm một chất chỉ dấu (marqueur), đặc hiệu
của sự tăng sinh tế bào. Kết quả: não bộ của các động vật thiếu
ngủ có ít các tế bào có dấu (cellules marquées)
hơn là
não bộ của chuột được nghỉ ngơi. Mặt khác, vào đúng thời điểm 72
giờ, vào lúc mà sự phát sinh các tế bào thần kinh bi suy giảm,
nồng độ corticostérone (một kích thích tố được tiết gia tăng
trong thời kỳ stress) gia tăng rất nhiều.
Kết
luận của các nhà nghiên cứu: Stress gây nên bởi sự thức đêm mất
ngủ sẽ gây nên sự phóng thích corticoides, làm cản sự tăng sinh
tế bào. Nhưng, mọi sự sẽ đâu vào đó sau 2 tuấn hồi phục. Do là
nhờ sự phát sinh thần kinh (neurogenèse) « bù trừ »
(SCIENCE ET VIE 2/2007)
MỘT VŨ KHÍ MỚI CHỐNG VIỆC NGHIỆN THUỐC LÁ
La
varénicline chẳng bao lâu nữa sẽ được thương mãi hóa dưới cái
tên CHAMPIX, và là một vũ khí chống việc nghiện thuốc lá với một
tác dụng mới lạ. Một mặt dược chất nầy gắn vào các recepteus
nicotiniques của não bộ được gọi là alpha 4 và béta 2 (là nguyên
nhân gây việc nghiện thuốc lá) với một hấp lực lớn hơn
nicotine. Mặt khác varénicline có khả năng ngăn cản cảm giác
thích thú của những người hút thuốc lá, làm giảm thiểu sự tiêu
thụ lượng thuốc lá của họ. Những thử nghiệm được thực hiện trên
hơn 400 người nghiện thuốc lá (cho những người dùng hơn 10 điếu
mỗi ngày) đã chứng tỏ ưu thế của dược chất nầy hơn một placebo
và Zyban, nhưng những thuốc nầy đã không được so sánh với những
chất thay thế nicotinique khác (gommes, patchs). ‘Đó là một công
cụ sẽ mang lại tin tưởng cho những người muốn bỏ thuốc lá’.
Nhưng việc sử dụng dược chất không có tác động đối với những
người nghiện thuốc lá có động cơ, cũng như hổ trợ tâm lý trước
nguy cơ trầm cảm của ngươi cai thuốc lá, theo Bác sĩ Veronique
Peim, chuyên viên thuốc lá của bệnh viện Ambroise-Parré de
Boulogne-Billancourt (Hauts-de-Seine).
Trong
đợt chữa trị với một thời gian kéo dài từ 12 hay 20 tuần, có thể
sẽ gây nôn mữa, nhưng về sau sẽ bớt dần. Được thương mãi hóa bởi
hãng Pfizer trong tam cá nguyệt đầu tiên năm 2007, CHAMPIX sẽ
được phân phối theo toa bác sĩ, phí tổn khỏang 3,5 Euro mỗi ngày
ít hơn so với phí tổn của một gói thuốc lá.
(SCENCES ET AVENIR 2/2007)
4 PHÚT HẠNH PHÚC
Một
nhóm 54 người bị chứng phóng tinh sớm (éjaculateurs précoces) đã
đạt thêm được 4 phút hạnh phúc vì chỉ xuất tinh sau 5 phút. Kết
quả này đạt được là do các nhà nghiên cứu của Bệnh Viện Hoàng
Gia Belfast đã phun vào quy đầu một chất gây tê Lidocaine và
Prilocaine. Hiệu suất này rất được quý bà đánh giá cao.
(LE POINT 1/2/2007)
CÓ MỘT GENE PHỤ TRÁCH CẢM GIÁC ĐAU ĐỚN
Cảm nhận đau đớn của
chúng ta chỉ do từ một gène chi phối. Đây là một khám phá kỳ thú
đã được thực hiện khi nghiên cứu 6 trẻ em, thuộc cùng một họ
tộc, ở thành phố Lahore, trong miền Bắc Pakistan. Các trẻ nầy
không bao giờ cảm thấy đau đớn là gì suốt trong cuộc đời, chúng
có khả năng nhận những thách thức không chịu đựng nỗi như bước
trên than hồng hoặc bị đâm dao vào cánh tay. Tất cả các trẻ em
này thật ra mang cùng đột biến di truyền (mutation génétique).
Các nhà nghiên cứu của Cambridge Institute for Medical Research
đã cho thấy rằng chỉ một đột biến di truyền của một gène được
gọi là SCN9A đã làm các trẻ em này mất đi sự truyền tín hiệu đau
đớn từ dây thần kinh lên não bộ.Gène này mã hóa cho một kênh
phát tín hiệu phân tử của các tế bào thần kinh phụ trách cảm
nhận đau đớn. Khám phá đáng ngạc nhiên này sẽ mở đường cho một
thế hệ thuốc chống đau mới, nhằm đặc biệt vào gène này.
(SCIENCE ET VIE 2/2007)
PHẾ CẦU KHUẨN VÀ KHÁNG SINH
Các
kháng sinh không phải luôn luôn có hiệu quả mong muốn trên các
vi khuẩn. Không những đã không làm suy yếu các vi khuẩn, các
kháng sinh đôi khi có thể cải thiện khả năng phát triển sức đề
kháng của chúng! Đó là điều đã được quan sát bởi nhóm nghiên
cứu của Jean-Pierre Claverys, Giám đốc Phòng xét nghiệm Vi trùng
học và Di truyền phần tử, CNRS DE
Toulouse, trên
phế cầu khuẩn (pneumocoque), tác nhân gây bệnh viêm phổi và viêm
màng não.Với sự hiện diện của vài loại kháng sinh, vi khuẩn biến
hóa bằng cách lấy gènes từ môi trường xung quanh để hội nhập
chúng vào trong gia sản di truyền của chính vi khuẩn và làm gia
tăng khả năng thích nghi. Điều này cho phép vi khuẩn có được
những gènes mới về độc lực.Do đó đây là một yếu tố mới cần lưu ý
khi điều trị bằng kháng sinh.
(READER’s DIGEST 2/2007)
NHỮNG TỄ BÀO GỐC LÀ TÂM ĐIỂM CỦA UNG THƯ
Hai nhóm nghiên
cứu độc lập vừa khám phá các tế bào gốc (les cellules souches)
của ung thư đại tràng. Với số lượng vô cùng nhỏ, các tế bào nầy
đề kháng với hóa học trị liệu hơn là những tế bào khác.
Tất cả
các tế bào của một khối u phải chăng có thể di căn đến một cơ
quan khác? - Không!
Đó là
câu trả lời của hai nhóm nghiên cứu độc lập đã khám phá một số
lượng vô cùng nhỏ của các tế bào gốc có tiềm năng này trong ung
thư đại tràng. ’Đây là một sự tiến bộ rất lý thú. Khám phá nầy
có thể sẽ cho chúng ta khả năng điều trị tận gốc căn bệnh và bổ
sung các điều trị ở diện chống lại ung thư nầy’. Aimery de
Gramont, Chủ nhiệm Khoa ung thư thuộc bệnh viện Saint-Antoine
Paris, đã xác nhận như thế.
Năm 1994,
John E. Dick thuộc đại học Toronto đã chứng tỏ trong trường hợp
leucémie myéloide aigue rằng, chỉ có vài trong số những tế bào
của chứng ung thư máu có thể truyền bệnh cho các con chuột bị
làm suy giảm miễn dịch. Như vậy điều nầy xác nhận quan điểm đã
được công bố trong năm 1971 về các tế bào gốc vừa có khả năng
đổi mới, vừa có khả năng phát sinh một ung thư giống hệt nơi một
động vật khác.
Nhà
nghiên cứu người Gia Nã Đại nầy cũng như nhóm nghiên cứu của ông
giờ đây đã có thể phân lập được các tế bào gốc của ung thư đại
tràng trong các khối u nguyên phát hoặc trong các di căn ở 17
bệnh nhân. Các tế bào nầy có số lượng vô cùng nhỏ: tỷ lệ
1/57.000 tế bào của khối u. Các tế bào này mang trên bề mặt một
chỉ dấu (marqueur) gọi là CD 133. Chỉ dấu nầy có thể được tìm
thấy ở những tế bào gốc bình thường của nhiều tổ chức mô, cũng
như các tế bào gốc của ung thư não bộ, tiền liệt tuyến và vài
lọai ung thư máu.
Một
nhóm nghiên cứu khác, được chỉ đạo bởi Ruggero De Maria, người
Ý, thuộc Instituto Superiore de Sanita, La Mã đã đi xa hơn. Nhóm
nầy đã thành công trong việc cấy nhóm tế bào gốc nầy sau khi
nhận diện được chúng trên khỏang 20 bệnh nhân. Các nhà nghiên
cứu nầy sau đó đã xác nhận rằng các tế bào nầy có thể tăng sinh
vô giới hạn và qua nhiều thế hệ các tế bào nầy phát sinh ngày
càng nhanh các ung thư đại tràng trên động vật. Việc lan tràn
ung thư trên thực nghiệm nầy đã được báo cáo trong trường hợp
các tế bào gốc của ung thư vú và não bộ, sẽ cho phép xác định
đặc điểm rõ hơn về các tác nhân chủ yếu trong qúa trình phát
sinh ung thư. Những tính chất khác của tế bào gốc đã làm quan
tâm các nhà lâm sàng.
Khác với các tế bào thế hệ con cháu, các tế bào gốc ít phân
chia và tỏ ra đề kháng với các tia phóng xạ và hóa học trị liệu.
‘Thế mà trong 1/3 các trường hợp ung thư đại tràng, hóa học trị
liệu hổ trợ không hiệu quả trong việc ngăn ngừa ung thư di căn.
Sự hiện diện của các tế bào gốc của ung thư đại tràng có thể
giải thích sự thất bại tương đối nầy và giải thích những chiến
lượt điều trị trọng điểm hơn. Mục đích của phép điều trị là lọai
bỏ gốc các tế bào gốc nầy, có lẽ là nguyên nhân của nhiều tái
phát và đề kháng đối với các điều trị hiện nay.
(LA RECHERCHE 2/2007)
BS Nguyễn Văn Thịnh
10/2/2007
Trở về Trang Chính
|