Tin Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

22 tháng 02 năm 2007

MẤT NGỦ NGĂN CẢN SỰ HÌNH THÀNH CÁC TẾ BÀO THẦN KINH

Việc thiếu ngủ làm ngăn cản sự phát sinh các tế bào thần kinh mới trong hippocampe, một bộ phận của não bộ có liên quan đến trí nhớ. Đó là điều vừa được chứng minh bởi các nhà nghiên cứu của đại học Princeton (New Jesey), sau khi đã nghiên cứu não bộ của chuột bị mất ngủ trong 72 giờ. Để biết não bộ của chúng có còn « chế tạo » các neurones (tế bào thần kinh) mới hay không, các nhà nghiên cứu đã tiêm một chất chỉ dấu (marqueur), đặc hiệu của sự tăng sinh tế bào. Kết quả: não bộ của các động vật thiếu ngủ có ít các tế bào có dấu (cellules marquées)

hơn là não bộ của chuột được nghỉ ngơi. Mặt khác, vào đúng thời điểm 72 giờ, vào lúc mà sự phát sinh các tế bào thần kinh bi suy giảm, nồng độ corticostérone (một kích thích tố được tiết gia tăng trong thời kỳ stress) gia tăng rất nhiều.

Kết luận của các nhà nghiên cứu: Stress gây nên bởi sự thức đêm mất ngủ sẽ gây nên sự phóng thích corticoides, làm cản sự tăng sinh tế bào. Nhưng, mọi sự sẽ đâu vào đó sau 2 tuấn hồi phục. Do là nhờ sự phát sinh thần kinh (neurogenèse) « bù trừ »
(SCIENCE ET VIE 2/2007)

 

 

MỘT VŨ KHÍ MỚI CHỐNG VIỆC NGHIỆN THUỐC LÁ

La varénicline chẳng bao lâu nữa sẽ được thương mãi hóa dưới cái tên CHAMPIX, và là một vũ khí chống việc nghiện thuốc lá với một tác dụng mới lạ. Một mặt dược chất  nầy gắn vào các recepteus nicotiniques của não bộ được gọi là alpha 4 và béta 2 (là nguyên nhân gây việc nghiện thuốc lá)  với một hấp lực lớn hơn nicotine. Mặt khác varénicline có khả năng ngăn cản cảm giác thích thú của những người hút thuốc lá, làm giảm thiểu sự tiêu thụ lượng thuốc lá của họ. Những thử nghiệm được thực hiện trên hơn 400 người nghiện thuốc lá (cho những người dùng hơn 10 điếu mỗi ngày) đã chứng tỏ ưu thế của dược chất nầy hơn một placebo và Zyban, nhưng những thuốc nầy đã không được so sánh với những chất thay thế nicotinique khác (gommes, patchs). ‘Đó là một công cụ sẽ mang lại tin tưởng cho những người muốn bỏ thuốc lá’. Nhưng việc sử dụng dược chất không có tác động đối với những người nghiện thuốc lá có động cơ, cũng như hổ trợ tâm lý trước nguy cơ trầm cảm của ngươi cai thuốc lá, theo Bác sĩ  Veronique Peim, chuyên viên thuốc lá của bệnh viện Ambroise-Parré de Boulogne-Billancourt (Hauts-de-Seine).

Trong đợt chữa trị với một thời gian kéo dài từ 12 hay 20 tuần, có thể sẽ gây nôn mữa, nhưng về sau sẽ bớt dần. Được thương mãi hóa bởi hãng Pfizer trong tam cá nguyệt đầu tiên năm 2007, CHAMPIX sẽ được phân phối theo toa bác sĩ, phí tổn khỏang 3,5 Euro mỗi ngày ít hơn so với phí tổn của một gói thuốc lá.  

(SCENCES ET AVENIR 2/2007)



 

4 PHÚT HẠNH PHÚC

Một nhóm 54 người bị chứng phóng tinh sớm (éjaculateurs précoces) đã đạt thêm được 4 phút hạnh phúc vì chỉ xuất tinh sau 5 phút. Kết quả này đạt được là do các nhà nghiên cứu của Bệnh Viện Hoàng Gia Belfast đã phun vào quy đầu một chất gây tê Lidocaine và Prilocaine. Hiệu suất này rất được quý bà đánh giá cao.
(LE POINT 1/2/2007)

 

 

CÓ MỘT GENE PHỤ TRÁCH CẢM GIÁC ĐAU ĐỚN

Cảm nhận đau đớn của chúng ta chỉ do từ một gène chi phối. Đây là một khám phá kỳ thú đã được thực hiện khi nghiên cứu 6 trẻ em, thuộc cùng một họ tộc, ở thành phố Lahore, trong miền Bắc Pakistan. Các trẻ nầy không bao giờ cảm thấy đau đớn là gì suốt trong cuộc đời, chúng có khả năng nhận những thách thức không chịu đựng nỗi như bước trên than hồng hoặc bị đâm dao vào cánh tay. Tất cả các trẻ em này thật ra mang cùng đột biến di truyền (mutation génétique). Các nhà nghiên cứu của Cambridge Institute for Medical Research đã cho thấy rằng chỉ một đột biến di truyền của một gène được gọi là SCN9A đã làm các trẻ em này mất đi sự truyền tín hiệu đau đớn từ dây thần kinh lên não bộ.Gène này mã hóa cho một kênh phát tín hiệu phân tử của các tế bào thần kinh phụ trách cảm nhận đau đớn. Khám phá đáng ngạc nhiên này sẽ mở đường cho một thế hệ thuốc chống đau mới, nhằm đặc biệt vào gène này.
(SCIENCE ET VIE 2/2007)



 

PHẾ CẦU KHUẨN VÀ KHÁNG SINH

Các kháng sinh không phải luôn luôn có hiệu quả mong muốn trên các vi khuẩn. Không những đã không làm suy yếu các vi khuẩn, các kháng sinh đôi khi có thể cải thiện khả năng phát triển sức đề kháng của chúng!  Đó là điều đã được quan sát bởi nhóm nghiên cứu của Jean-Pierre Claverys, Giám đốc Phòng xét nghiệm Vi trùng học và Di truyền phần tử, CNRS DE Toulouse, trên phế cầu khuẩn (pneumocoque), tác nhân gây bệnh viêm phổi và viêm màng não.Với sự hiện diện của vài loại kháng sinh, vi khuẩn biến hóa bằng cách lấy gènes từ môi trường xung quanh để hội nhập chúng vào trong gia sản di truyền của chính vi khuẩn và làm gia tăng khả năng thích nghi. Điều này cho phép vi khuẩn có được những gènes mới về độc lực.Do đó đây là một yếu tố mới cần lưu ý khi điều trị bằng kháng sinh.
(READER’s DIGEST 2/2007)
                                

 

NHỮNG TỄ BÀO GỐC LÀ TÂM ĐIỂM CỦA UNG THƯ

Hai nhóm nghiên cứu độc lập vừa khám phá các tế bào gốc (les cellules souches) của ung thư đại tràng. Với số lượng vô cùng nhỏ, các tế bào nầy đề kháng với hóa học trị liệu hơn là những tế bào khác.

Tất cả các tế bào của một khối u phải chăng có thể di căn đến một cơ quan  khác? - Không!

Đó là câu trả lời của hai nhóm nghiên cứu độc lập đã khám phá một số lượng vô cùng nhỏ của các tế bào gốc có tiềm năng này trong ung thư đại tràng. ’Đây là một sự tiến bộ rất lý thú. Khám phá nầy có thể sẽ cho chúng ta khả năng điều trị tận gốc căn bệnh và bổ sung các điều trị ở diện chống lại ung thư nầy’. Aimery de Gramont, Chủ nhiệm Khoa ung thư thuộc bệnh viện Saint-Antoine Paris, đã xác nhận như thế.

  Năm 1994, John E. Dick thuộc đại học Toronto đã chứng tỏ trong trường hợp leucémie myéloide aigue rằng, chỉ có vài trong số những tế bào của chứng ung thư máu có thể truyền bệnh cho các con chuột bị làm suy giảm miễn dịch. Như vậy điều nầy xác nhận quan điểm đã được công bố trong năm 1971 về các tế bào gốc vừa có khả năng đổi mới, vừa có khả năng phát sinh một ung thư giống hệt nơi một động vật khác.

  Nhà nghiên cứu người Gia Nã Đại nầy cũng như nhóm nghiên cứu của ông giờ đây đã có thể phân lập được các tế bào gốc của ung thư đại tràng trong các khối u nguyên phát hoặc trong các di căn ở 17 bệnh nhân. Các tế bào nầy có số lượng vô cùng nhỏ: tỷ lệ 1/57.000 tế bào của khối u. Các tế bào này mang trên bề mặt một chỉ dấu (marqueur) gọi là CD 133. Chỉ dấu nầy có thể được tìm thấy ở những tế bào gốc bình thường của nhiều tổ chức mô, cũng như các tế bào gốc của ung thư não bộ, tiền liệt tuyến và vài lọai ung thư máu.

    Một nhóm nghiên cứu khác, được chỉ đạo bởi Ruggero De Maria, người Ý, thuộc Instituto Superiore de Sanita, La Mã đã đi xa hơn. Nhóm nầy đã thành công trong việc cấy nhóm tế bào gốc nầy sau khi nhận diện được chúng trên khỏang 20 bệnh nhân. Các nhà nghiên cứu nầy sau đó đã xác nhận rằng các tế bào nầy có thể tăng sinh vô giới hạn và qua nhiều thế hệ các tế bào nầy phát sinh ngày càng nhanh các ung thư đại tràng trên động vật. Việc lan tràn ung thư trên thực nghiệm nầy đã được báo cáo trong trường hợp các tế bào gốc của ung thư vú và não bộ, sẽ cho phép xác định đặc điểm rõ hơn về các tác nhân chủ yếu trong qúa trình  phát sinh ung thư. Những tính chất khác của tế bào gốc đã làm quan tâm các nhà lâm sàng.  

     Khác với các tế bào thế hệ con cháu, các  tế bào gốc ít phân chia và tỏ ra đề kháng với các tia phóng xạ và hóa học trị liệu. ‘Thế mà trong 1/3 các trường hợp ung thư đại tràng, hóa học trị liệu hổ trợ không hiệu quả trong việc ngăn ngừa ung thư di căn. Sự hiện diện của các tế bào gốc của ung thư đại tràng có thể giải thích sự thất bại tương đối nầy và giải thích những chiến lượt điều trị trọng điểm hơn. Mục đích của phép điều trị là lọai bỏ gốc các tế bào gốc nầy, có lẽ là nguyên nhân của nhiều tái phát và đề kháng đối với các điều trị hiện nay.
(LA RECHERCHE 2/2007)

 
                          
BS Nguyễn Văn Thịnh 10/2/2007


 

Trở về Trang Chính