Argentine là quốc gia lớn thứ hai ở Nam Mỹ
và thứ 8 trên thế giới. Diện tích 3,8 triệu cây số vuông (lớn
gấp năm lần nước Pháp). Lãnh thổ giáp giới phía bắc bởi Paraguay
và Bolivie, phía đông bắc bởi Uruguay và Brésil và phía tây bởi
Chili. Mặc dầu diện tích bao la nhưng là một nước rất thưa dân,
mật độ trung bình là 13 người trên 1 cây số vuông. Trên 1/3 dân
số tập trung ở Buenos Aires. Điểm đặc biệt của địa hình
Argentine là sự tương phản rõ rệt giữa vùng đồng bằng bao la ở
phía đông và dãy núi ANDES hùng vĩ ở phía tây. Đây là dãy núi
dài nhất thế giới, trải dài trên 8000 km từ bắc đến
nam.Argentine trải dài trên 2.780.400 km2 giữa vĩ tuyến nam 22
và 55. Do bề rộng địa dư như vậy nên không gây cho chúng ta một
sự ngạc nhiên khi thấy tại sao tại đất nước nầy lại có được khí
hậu của tất cả mọi nơi trên thế giới.
Ngoài tương phản về khí hậu, sự khô cằn cũng là đặc điểm của
Argentine. Argentine nằm ở nam bán cầu nên các mùa đảo ngược so
với châu Âu. Muà hè ở châu Âu tương ứng với mùa đông ở Argentine
và ngược lại. Mùa xuân bắt đầu từ cuối tháng 9 đến cuối tháng
mười 12, và rồi là mùa hè kéo dài đến cuối tháng 3, tiếp đến là
mùa thu cho đến cuối tháng 6 và mùa đông kể từ cuối tháng 6 đến
cuối tháng 9. Cũng chính vì thế ở Argentine người ta làm lễ
Giáng sinh trên bãi biển và trượt tuyết vào tháng 7 tháng 8. Ở
Buenos Aires vào tháng giêng nhiệt độ lên tới 40 độ. Thời kỳ tốt
nhất để lưu trú ở đây là cuối tháng 9 và đầu tháng 12 vì đó là
thời điểm của mùa
xuân.
Argentine được chia thành 5 vùng thiên
nhiên lớn: La PANTAGONIE, La PAMPA, Vùng Tây Bắc Núi ANDES,
Miền Trung Núi ANDES, và vùng đồng bằng đông bắc.
BUENOS AIRES
Buenos Aires là thủ đô của Argentine,
thuộc province de Buenos Aires mà thủ phủ là La Plata. Buenos
Aires có 4 triệu dân (12 triệu nếu tính đến 12 huyện ngoại
thành, tạo nên Gran Buenos Aires). Buenos Aires chỉ chiếm 1%
lãnh thổ, nhưng hết 1/3 dân số và 75% tài sản của đất nước tập
trung ở đây.
Những người dân Buenos
Aires được gọi là PORTENOS (les habitants du Port: dân cảng).
Điều này chỉ rỏ tổ tiên của họ là dân nhập cư đến bằng các con
tàu. Tổ tiên họ đầu tiên là người Tây ban nha, sau đó là người
Ý, phần lớn đến đây do làn sóng nhập cư đổ bộ vào các bến bờ
của con sông RIO LA PLATA từ cuối thế kỷ thứ 19. Lúc đó chính
phủ quyết định hiện đại hóa đất nước nên cổ võ sự nhập cư để làm
thịnh vượng nền kinh tế. Chính sách này rất thành công cho đến
những năm 50, là thời gian mà Buenos Aires được xem là thành phố
đẹp nhất và giàu có nhất thế giới. Cũng chính vì thế Buenos
Aires được mệnh danh là Thượng Hải của Nam Mỹ, là thành phố ánh
sáng của Nam Mỹ, hoa lệ như Kinh đô ánh sáng Paris vậy.
Kiến trúc của trung
tâm Buenos Aires hiện rõ và rải rác đó đây những nét của cựu lục
địa. Trên đại lộ Mayo (avenida de Mayo) phảng phất cái gì đó của
Madrid. Paris được tìm
thấy lại trong khu phố sang trọng Recoleta. Cũng như Naples với
khu phố bình dân La Boca.Vì là gốc gác châu Âu và có quá khứ
giàu có của thời xa xưa, người Portenos thích được gọi là người
Âu. Do đó họ thường có quan hệ trịch thượng với dân tỉnh lẻ (gọi
là INTERIOR). Họ hướng ngoại, thích đi du lịch các nước ngoài
(nhất là châu Âu và Hoa kỳ) hơn là trong nước và hay chế diễu
dân tỉnh lẻ và dân các nước láng giềng Nam Mỹ. Dân tỉnh lẻ nhận
thấy các portennos quá bị âu tây hoá, quá stressé, quá lố lăng
và thành phố Buenos Aires quá ồn ào và ô nhiễm. Người dân
Buenos Aires trái lại ưa giễu cợt các đồng hương tỉnh lẻ của
mình là quá chậm chạp, ít văn hóa và khư khư với truyền thống
của mình.
Giữa những năm 1920 và 1940, tư bản nước ngoài,
đặc biệt là Anh, đã tạo nên sự phồn vinh nhanh chóng của vùng
đất chăn nuôi và trồng trọt này. Nhiều người châu Âu giàu có đã
lui tới các khách sạn sang trọng và các casino. Thời kỳ huy
hoàng này trở thành bất tử trong phim Gilda, trong đó Rita
Hayworth đã hát bài hát nổi tiếng ‘Put the blame on Mamma,
Boys!’.
Ngày nay, thành phố Buenos Aires thịnh vượng đã
biến thành một thành phố "hai tốc độ". Các khu phố Recoleta,
Palermo và Belgrano vẫn còn cho thấy ảo giác của một sự giàu
sang, khi sự khốn cùng thật sự đã lan tràn ra khỏi trung tâm thủ
đô vài cây số, nằm trong những căn nhà tôn với hàng ngàn người
sống ngoài lề xã hội chen chúc nhau..
BUENOS AIRES : MICROCENTRO
|
Nếu bạn đến từ phi trường thì nơi tốt nhất để bắt
đầu cuộc tham quan là PLAZA DE MAYO (terminus của xe
búyt từ phi trường ở gần quảng trường này).
Trung tâm của Buenos Aires nằm giữa
PLAZA DE MAYO và PLAZA DEL CONGRESO, dọc theo Đại lộ
MAYO, đến tận PLAZA SAN MARTIN và Đại lộ SANTA FE.
Đây là trung tâm của thủ đô (được gọi là
MICROCENTRO) vi chính tại đây tập trung những cơ
quan hành chánh, các ngân hàng và các tiệm buôn.
-
PLAZA DE MAYO:
Trung tâm lịch sử của thành phố, là nơi diễn ra
những biến cố chính trị quan trọng của đất
nước.Chính ở đây mỗi thứ năm tập hợp các bà mẹ mất
con trong thời kỳ độc tài quân sự Videla. Ở trung
tâm quảng trường có OBELIQUE DE MAYO, trên do ghi
khắc ngày tháng giành độc lập của Argentine
(25/5/1810)
-CASA DE GOBIERNO
: Chính từ đây cặp vợ
chồng PERON đã hô hào khởi động quần chúng.
-CATEDRAL
METROPOLITANA
: Tại đây chủ
yếu bạn thăm viếng được mộ của tướng SAN MARTIN, cha
đẻ và người giải phóng Argentine.
-AVENIDA
9 DE JULIO
(Đại Lộ 9/7): Đại lộ lớn nhất thế giới, bề ngang đến
125m.
-PLAZA
SAN MARTIN:
Bức tượng nhà giải phóng SAN MARTIN ngự trị ở trung
tâm quảng trường từ đầu thế kỷ 20
và nhiều địa điểm nổi tiếng khác... |
|
-CALLE FLORIDA :
Con
đường dài dành cho người đi bộ và là con đường
thương mãi sầm uất nhất của thành phố. Hai bên đường
là những dãy cửa hàng sang trọng nguy nga, các
galeries marchandes (phòng triển lãm thương mãi) to
lớn. Đường phố nhộn nhịp người qua lại và khách du
lịch.
|
-CONGRESO
NACIONAL: Nằm trên
Plaza de Congreso, là trụ sở của Thượng và Hạ viện Á Căn Đình.
Kiểu kiến trúc thời Đệ Nhị Đế Chế với nóc vòm bằng đồng thanh và
dáng vẻ đồ sộ hoành tráng cho ta sự liên tưởng đến Capitole de
Washington.
-
CASA DE GOBIERNO: Nằm ở
phía đông của Plaza de Mayo. Còn được biết dưới tên CASA ROSADA,
vì tòa nhà được sơn màu hồng saumon. Năm 1868 đã có sự hình
thành của hai đảng chính trị đối lập, một của đòan thể những
người Fédéralistes (màu đỏ) và một của đòan thể những người
Unitaristes (màu xanh nhạt). Để dung hòa Tổng thống Samiento đã
cho sơn tòa nhà trước hết màu đỏ rồi sau đó quét lên trên màu
xanh nhạt.Vì vậy tòa nhà có màu hồng saumon. Chính tại đây hai
vợ chồng Peron đã hô hào dân chúng và cũng chính tại đây Tổng
thống De La Rua đã bỏ trốn bằng trực thăng vào tháng 12 năm
2001.
- AVENIDA 9 DE JULIO VA OBELISCO:
Đây là đại lộ lớn nhất thế giới với bề rộng hơn 125
m. Đại lộ được đặt tên 9/7 để ghi nhớ ngày độc lập của đất nước
Á Căn Đình (9/7/1816). Đại lộ này được mở ra do sự tăng trưởng
của đô thị để giải quyết các vấn đề lưu thông ngày càng nghiêm
trọng nhưng cũng để cụ thể hoá khuynh hướng ưa những cái to lớn
của các nhà lãnh đạo thời đó.
Tháp đài (obelisco) nằm ở trung tâm của đại lộ
9/7, trên Quảng Trường Cộng Hoà (Plaza de la Republica). Tháp
đài này được dựng lên năm 1936 đánh dấu 400 năm lịch sử của
thành phố được xây dựng năm 1536.
-CATEDRAL
METROPOLITANA: Mặt
ngoài theo kiểu kiến trúc tân cổ điển (néoclassique), gồm một
hàng hiên (portique) có 12 cột (colonnes) biểu tượng 12 tông đồ
(apotres), phía trên là một frontispice chạm trổ rất đẹp. Bên
trong đền thờ là lăng của Tướng Don José San Martin, người cha
của dân tộc và nhà giải phóng Argentine.
-
PLAZA DE MAYO và Obélisque de Mayo
Quảng trường Mayo là linh hồn của Buenos
Aires. Đây là nơi đầu tiên những người Tây Ban Nha đến định cư
lập nghiệp trên vùng đất thù nghịch này,
cách sông Rio de la Plata vài cây số. Kể từ đó, quảng trường đã
chứng kiến những biến cố lịch sử quan trọng của thành phố này.
Quảng trường được đặt tên là Tháng Năm (Mayo) để
tưởng niệm ngày 25 tháng 5 năm 1810, ngày thành lập chính phủ
độc lập Á Căn Đình đầu tiên sau khi dân Buenos Aires (các
portenos) đã trục xuất phó vương Tây Ban Nha.Ngày tháng độc lập
biểu tượng này được ghi khắc trên Tháp đài (obelisque để Mayo)
đuợc dựng lên ở trung tâm quảng trường. Quảng trường là chứng
nhân lịch sử của những cuộc biểu tình to lớn trong thời kỳ Péron
cầm quyền, những cuộc tuần hành của các bà mẹ có con bị mất tích
dưới thời chính phủ quân nhân, những cuộc diễn hành ủng hộ trong
cuộc chiến Đảo Malouines, những cuộc tập hợp động đảo dân chúng
ủng hộ dân chủ vào đầu những năm 80.

Obélisque
de Mayo
ĐIỆU
NHẢY TANGO
Lịch sử về sự ra đời của điệu nhảy
Tango gắn liền với lịch sử thành lập thành phố Buenos Aires. Vào
cuối thế kỷ thứ 19, trong những năm 1880, người di dân đến từ
khắp châu Âu. Đó là những người nam giới, cô độc, ra đi bỏ lại
đằng sau tất cả, mà mục đích là để tìm kiếm một thành đạt trong
xã hội.
Họ đến phần lớn từ Espagne, Pologne, Đức,Ý.
Họ sống trong những khu phố nghèo nàn ở ngoài thành phố. Và họ
đã tự hình thành một nhóm dân bé nhỏ của thủ đô liên bang. Chính
từ nhóm dân này đã nảy sinh ra điệu nhảy Tango, tạo dựng trong
bầu không khí của những người đàn ông cô đơn, khó khăn trong
việc diễn đạt ngôn ngữ, vất vả trong cuộc sống, nhớ tiếc hạnh
phúc của cuộc đời mà họ đã để lại trên đất nước mình.
Vì vậy nhảy Tango là giữa các người đàn ông
với nhau và thuờng diễn ra trong căn nhà thổ (bordels) hay các
quán rượu (cabarets). Chính ở đây tất cả những người mất cội
nguồn (déracinés) của Buenos Aires tụ hội để tìm quên lảng qua
những ván bài, tìm hơi ấm qua những chầu rượu hay đàn bà và để
gợi lại một cách buồn rầu cuộc sống đã xa trong khu phố cũ của
họ. Chính ở đó Tango đã thành hình, vào giữa những năm 1860 và
1880.

Khởi đầu Tango là một thế loại thuần nhạc khí
(instrumental), gồm có đàn tây ban cầm, sáo và vĩ cầm
(violon) là những nhạc cụ duy nhất được sử dụng để diễn đạt
Tango. Sau đó một nhạc cụ được nhập từ Đức tên goi là Bandonéon
(accordéon miniature) phong cầm. Nhưng phải đợi đến khi có sự
hội nhập của piano thì Tango mới có được cái tên đích thực của
mình. Sau đọan khởi đầu bằng nhạc khí là giai đoạn của điệu nhảy
Tango. Trước hết, điệu nhảy được thực hiện bởi các cặp đàn ông
trên hè phố nhưng sau đó bị cấm đóan vì đã trở ngại cho vấn đề
lưu thông, qua một quyết định vào năm 1916.
PERON VA EVITA
Peron được bầu làm tổng thống nước cộng
hòa Argentine năm 1946 và bắt đầu thực hiện những cải cách xã
hội bằng cách quốc hữu hóa những xí nghiệp trước đây nằm trong
tay tư bản nước ngoài.Vào thời kỳ đó không một nhà chính trị nào
dám đi xa như thế vì những thế lực cực kỳ bảo thủ đang ngự trị ở
đây. Peron đã xây trường học, nhà xã hội, bệnh viện vì vậy được
những người nghèo khổ ủng hộ triệt để. Nhưng đề đạt những thành
quả như vậy không thể quên EVITA, người vợ đầu tiên của PERON.
Evita sinh ở Los Toldos, cách Buenos Aires 250
km.Bà là con ngoài giá thú của một người đàn ông đã có vợ và mẹ
là một người thợ may.Vì vậy từ thuở bé, bà đã mang trong lòng
mối thù hận sự quyền quý cao sang và thói đạo đức giả. Được nuôi
nấng dạy dỗ trong một gia đinh không biết xa hoa là gì, bà đã
biết sử dụng sắc đẹp và vẻ đẹp quyến rũ của mình để đến sống ở
Buenos Aires. Tại đây bà nổi lên rất nhanh chóng dưới tên Eva
Duarte. Bà được biết đến qua các buổi truyền thanh trong đó bà
tố cáo một cách hăng say sự bất công xã hội và sự khốn cùng của
người dân. Sau đó bà trở thành tài tử điện ảnh (hạng nhì).
Vào lúc xảy ra trận
động đất ở San Juan, Evita lần đầu tiên gặp Peron, một viên sĩ
quan trẻ tuổi đầy tham vọng và trở thành vợ của ông sau đó. Thế
rồi, do lòng say mê và niềm hứng khởi, bà từ bỏ nghề tài tử để
cống hiến hết mình cho sự nghiệp bảo vệ người nghèo.Về phương
diện chính trị bà đã hỗ trợ Peron đắc lực, thời gian đó ông trở
thành bộ trưởng, và đã thúc đẩy ông thực hiện những cải cách xã
hội (mang tính chất cách mạng vào thời kỳ đó).
Sau khi Peron được bầu
làm Tổng thống của nước cộng hoà Argentine, Peron và Evita đẩy
nhanh những cải cách xã hội bằng cách sử dụng tiền nợ được cấp
trong thời hậu chiến và tiền quyên góp một cách độc đoán lên các
chủ xí nghiệp giàu có trong công việc xây dựng trường học, bệnh
viện, các trung tâm nghỉ ngơi, định mức lương tối thiểu, giảm
thời gian làm việc, tăng cường vai trò các công đoàn. Evita đã
thành công trong việc trao quyền bầu cử cho phụ nữ Argentine
trước cả De Gaule đối với phụ nữ Pháp.
Evita được mệnh danh là
Madone des descamisados (les sans-chemises) và đã trở nên rất
gần gủi với người dân argentin qua lời tuyên bố sau đây: "Bạo
lực trong tay nhân dân không phải là bao lực mà là công lý!".
Người ta thấy bà xuất hiện trong các nhà máy, bệnh viện, khu phố
bình dân, đọc diễn vẫn ca ngợi tổng thống Peron. Bà trở thành nữ
thánh đối với dân nghèo.Trong cuộc bầu cử năm 1951, bà ra ứng cử
phó tổng thống nhưng bị quân đội dùng quyền phủ quyết. Đó là
thất bại đầu tiên và duy nhất của bà. Nhưng rồi Evita bi bệnh
ung thư máu và giã từ cuộc đời năm 1952 ở lứa tuổi 30 trước sự
thương tiếc khôn nguôi của người dân Á căn đình
(Argentina).
Sự thương tiếc Evita không những được khóc than
ở đất nước Argentine, mà còn vượt đại dương đến trong từng hộ
của những người dân nước Pháp, bởi vì bà không những được yêu
thương như một huyền thoại mà còn như một thành viên thân thiết
của gia đình. Mặc dầu qua đời đã trên 50 năm nhưng Evita vẫn còn
để lại một dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân Á căn đình. Mới
đây Alan Parker đã phỏng theo cốt chuyện về cuộc đời của bà để
thực hiện thành phim, với Madonna trong vai chính. Điều này đã
gây vài phản đối lúc quay phim bởi vì người dân Argentine không
thể nhìn vào sự kiện nầy với đôi mắt thiện cảm trước sự việc một
"junkette" américaine khoác áo nữ thánh Evita.
Mặc dầu có những tư tưởng cách mạng, chế độ
Peron không chấp nhận tranh đấu và tự do báo chí và nhất là có
thiện cảm với nazis. Và nhất là ông không che dấu thiện cảm của
ông đối với Đức quốc xã mà ông đã có thời gian làm cố vấn quân
sự ở Berlin trong những năm 1930. Argentine chỉ tham chiến chống
Đức vào ngày 6 tháng 5 năm 1945 và Peron đã cấp phát 10.000 thẻ
căn cước cho một nhóm người Đức thua trận muốn định cư ở
Argentine. MENGELE, y sĩ của các trại tập trung nazis, người có
trách nhiệm về cái chết của hơn 300.000 người Do thái, đã sống
an nhàn ở Argentine. Tổng cộng có đến 60.000 người tị nạn nazis
ở Argentine. Peron bi lật đổ và sống lưu đày sau đó ở Espagne
năm 1955, và đã để lại cho đất nước ông một tình trạng kinh tế
thảm
hại.
Nhưng rồi
sau gần 20 năm của một đời sống chính trị hỗn loạn với các chính
phủ quân nhân và lập hiến kế tiếp nhau, áp lực nhân dân đã lật
đổ chế độ độc tài quân sự được dựng lên vào tháng 3 năm 1973 và
đã kêu gọi sự trở về vị đại tá độc đoán có tinh thần cải cách xã
hội cùng với người vợ đầy huyền thoại Evita. Năm 1973 Peron lại
đắc cử và trở thành tổng thống, trở lại Argentine cầm quyền,
nhưng Evita đâu còn nữa bên ông để làm sống dậy những ước mơ. Bộ
máy cầm quyền péroniste bắt đầu tan rã trong bạo lực dưới tác
dụng của những cuộc thanh toán lẫn nhau.
Một năm
sau Péron qua đời, để lại chính quyền cho người vợ thứ ba là
Isabelle. Vốn là một vũ nữ chuyên nghiệp. Isabelle chỉ là một
cái bóng mờ so với Evita trong việc điều hành đất nước. Nhiều
phong trào cách mạng nảy sinh và biện minh việc dùng bạo lực để
áp đặt luật lệ riêng của mình. Đất nước rơi vào một hỗn loạn và
khủng hoảng kinh tế bên bờ nội chiến. Một hội đồng quân nhân
dưới sự lãnh đạo của tướng Videla đã lật đổ Isabelle năm 1976.
Mở đầu một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử của Argentine,
thời kỳ của một cuộc chiến bẩn thỉu với 7 năm dưới chế độ khủng
bố (1976-1983).
Quân đội
dùng mọi phương tiện để đè bẹp các phong trào cách mạng và đạt
được mục đích với cái giá của một cuộc chiến vô cùng tàn bạo và
cái chết của nhiều người vô tội.Cuộc đàn áp nhanh chóng nhằm vào
những thành phần chống đối chế độ. Những phần tử khuynh đảo bị
bắt giữ một cách độc đoán, bị tra tấn và trong số đó đã có hàng
ngàn người bị "biến mất" một cách bí mật. Vì vậy mới có cái tên
là desaparecidos (disparus).
NGHĨA ĐỊA RECOLETA
Mộ của bà Evita nằm phía trái của nghĩa địa và rất là
khó tìm. Evita được chôn trong phần mộ của gia định bà (les
Duartes), chứ không phải trong mộ chồng (Peron).Thi hài của bà
phải chịu nhiều dặm nẻo sơn khê trắc trở trước khi được mang về
lại Argentine vào năm 1976, sau khi được ướp xác và trưng bày
một thời gian lâu ở Tổng Công Đoàn Công Nhân. Khi chồng bà bị
lật đổ năm 1955, quan tài của bà được gởi qua Ý và được chôn cất
dưới một tên giả. Rồi thi hài bà được dời qua Espagne và được
đặt trong một tư dinh. Năm 1973, khi Peron trở lại nắm chính
quyền và được bầu làm tổng thống, khi đó ông có khả năng mang
thi hài của Evita về trở lại Argentine thì lại bị bà vợ thứ ba
là Isabelle chống đối. Nhưng dưới áp lực của nhân dân thi hài
lại được đưa trở về, khi Peron mất năm 1976 là cuộc du hành lần
cuối của thi hài bà, và người đàn bà gây hiếu động ngay cả khi
qua đời này sau cùng đã tìm thấy lại nơi an nghỉ cuối cùng trong
phần mộ gia đình bà.
CUỘC
CHIẾN Ở ĐẢO MALOUINES
Cuộc chiến tranh ở đảo Malouines thật
ra chỉ là một cái cớ để đánh lạc hướng nhân dân khỏi nhìn vào
những bộc phát và tai tiếng của chế độ và tình hình tài chánh
đầy tai họa của đất nước, nhằm tập hợp những công luận quanh
một ‘đại nghĩa’, nhờ đó tạo một lực thẩm thấu ngay trong lòng
đất nước. Là cơn bộc phát cuối cùng của chế đó quân nhân trong
tình thế tuyệt vọng. Cuộc chiến tranh thực sự chỉ có tác dụng
làm thúc đẩy sự sụp đổ của chế độ này.
Falkland Islands (theo cách gọi người Anh) hay Les Malouines
(theo cách gọi người Pháp) là một nhóm các hòn đảo nằm cách bờ
biển phía Đông của Argentine khỏang chừng 650 km.
Khởi thủy không có người ở. Các hòn đảo này được
người Anh khám phá năm 1592. Sự hiện diện đầu tiên và duy nhất
của người Argentine chỉ từ năm 1829. Nhưng người Anh không bao
giờ từ bỏ chủ quyền của mình trên những hòn đảo này nên năm 1833
đã đuổi ra khỏi đảo vài người lính và cư dân Argentine.
Trong thế
chiến thứ nhất Falkland Islands là nơi diễn ra một trận thủy
chiến quyết định giữa Đức và Anh. Sự thắng trận của Anh cho phép
lưu thông tự do trên đường thương mãi và Argentine là nước hưởng
lợi chủ yếu. Chúng ta cần nhớ rằng Argentine kiếm được rất nhiều
tiền trong chiến tranh do tiếp vận lương thực cho châu Âu.
Falkland Islands có một tổng diện tích 10.000 km2 đất đai cằn
cỗi. Trên đảo có 2.000 cư dân người écosse và 600.000 con cừu.
Năm 1982
chính phủ quân nhân Argentine quyết định tấn công thuộc địa bé
nhỏ này của Anh.Các nhà chiến lượt Argentine nghĩ rằng Anh quốc
sẽ không chiến đấu để dành lại những hòn sỏi cằn cỗi nầy, vả lại
thủ tướng Anh lúc đó là bà Magaret Thatcher chỉ là một phụ nữ.
Nhưng không ngờ Dame de Fer – Người đàn bà Sắt thép nầy đã nhanh
chóng huy động một hạm đội hùng hậu với một lực lượng các hàng
không mẫu hạm và tuần dương hạm tiến về quần đảo Falkland.
Cuộc chiến
kéo dài trong hai tháng với một phí tổn 850 triệu dollars. Không
quân Argentine bắn hoả tiễn Exocet vào các chiến hạm Hoàng Gia
nhưng nhiên hậu quân Argentine đã lảnh một thất bại nặng nề về
người và vật chất. Về phía Argentine đã có 649 người chết, và về
phía Anh đã có 255 người thiệt mạng. Do chiến bại đó quân nhân
độc tài phải nhường chỗ cho chế độ dân chủ ở Argentine. Các lãnh
tụ chính của Hội Đồng quân nhân (Videla và Massera) bị đưa ra
xét xử và lên án. Về phía Anh quốc là nước thắng trận nên uy tín
của bà Thatcher nổi lên như cồn và được tái cử năm 1983.
ĐẠI LINH
Trở về Trang Chính
|