ARGENTINE


 

Đại Linh

15 tháng 03 năm 2007

Argentine là quốc gia lớn thứ hai ở Nam Mỹ và thứ 8 trên thế giới. Diện tích 3,8 triệu cây số vuông (lớn gấp năm lần nước Pháp). Lãnh thổ giáp giới phía bắc bởi Paraguay và Bolivie, phía đông bắc bởi Uruguay và Brésil và phía tây bởi Chili. Mặc dầu diện tích bao la nhưng là một nước rất thưa dân, mật độ trung bình là 13 người trên 1 cây số vuông. Trên 1/3 dân số tập trung ở Buenos Aires. Điểm đặc biệt của địa hình Argentine là sự tương phản rõ rệt giữa vùng đồng bằng bao la ở phía đông và dãy núi ANDES hùng vĩ ở phía tây. Đây là dãy núi dài nhất thế giới, trải dài trên 8000 km từ bắc đến nam.Argentine trải dài trên 2.780.400 km2 giữa vĩ tuyến nam 22 và 55. Do bề rộng địa dư như vậy nên không gây cho chúng ta một sự ngạc nhiên khi thấy tại sao tại đất nước nầy lại có được khí hậu của tất cả mọi nơi trên thế giới.

Ngoài tương phản về khí hậu, sự khô cằn cũng là đặc điểm của Argentine. Argentine nằm ở nam bán cầu nên các mùa đảo ngược so với châu Âu. Muà hè ở châu Âu tương ứng với mùa đông ở Argentine và ngược lại. Mùa xuân bắt đầu từ cuối tháng 9 đến cuối tháng mười 12, và rồi là mùa hè kéo dài đến cuối tháng 3, tiếp đến là mùa thu cho đến cuối tháng 6 và mùa đông kể từ cuối tháng 6 đến cuối tháng 9. Cũng chính vì thế ở Argentine người ta làm lễ Giáng sinh trên bãi biển và trượt tuyết vào tháng 7 tháng 8. Ở Buenos Aires vào tháng giêng nhiệt độ lên tới 40 độ. Thời kỳ tốt nhất để lưu trú ở đây là cuối tháng 9 và đầu tháng 12 vì đó là thời điểm của mùa xuân.                                                                           

Argentine được chia thành 5 vùng thiên nhiên lớn:  La PANTAGONIE, La PAMPA, Vùng Tây Bắc Núi ANDES, Miền Trung Núi ANDES, và vùng đồng bằng đông bắc.

 

BUENOS AIRES           
Buenos Aires là thủ đô của Argentine, thuộc province de Buenos Aires mà thủ phủ là La Plata. Buenos Aires có 4 triệu dân (12 triệu nếu tính đến 12 huyện ngoại thành, tạo nên Gran Buenos Aires). Buenos Aires chỉ chiếm 1% lãnh thổ, nhưng hết 1/3 dân số và 75% tài sản của đất nước tập trung ở đây.

 

Những người dân Buenos Aires được gọi là PORTENOS (les habitants du Port: dân cảng). Điều này chỉ rỏ tổ tiên của họ là dân nhập cư đến bằng các con tàu. Tổ tiên họ đầu tiên là người Tây ban nha, sau đó là người Ý,  phần lớn đến đây do làn sóng nhập cư đổ bộ vào các bến bờ của con sông RIO LA PLATA từ cuối thế kỷ thứ 19. Lúc đó chính phủ quyết định hiện đại hóa đất nước nên cổ võ sự nhập cư để làm thịnh vượng nền kinh tế. Chính sách này rất thành công cho đến những năm 50, là thời gian mà Buenos Aires được xem là thành phố đẹp nhất và giàu có nhất thế giới. Cũng chính vì thế Buenos Aires được mệnh danh là Thượng Hải của Nam Mỹ, là thành phố ánh sáng của Nam Mỹ, hoa lệ như Kinh đô ánh sáng Paris vậy.

 

Kiến trúc của trung tâm Buenos Aires hiện rõ và rải rác đó đây những nét của cựu lục địa. Trên đại lộ Mayo (avenida de Mayo) phảng phất cái gì đó của Madrid. Paris được tìm thấy lại trong khu phố sang trọng Recoleta. Cũng như Naples với khu phố bình dân La Boca.Vì là gốc gác châu Âu và có quá khứ giàu có của thời xa xưa,  người Portenos thích được gọi là người Âu. Do đó họ thường có quan hệ trịch thượng với dân tỉnh lẻ (gọi là INTERIOR). Họ hướng ngoại, thích đi du lịch các nước ngoài (nhất là châu Âu và Hoa kỳ) hơn là trong nước và hay chế diễu dân tỉnh lẻ và dân các nước láng giềng Nam Mỹ. Dân tỉnh lẻ nhận thấy các portennos quá bị âu tây hoá, quá stressé, quá lố lăng và thành phố Buenos Aires quá ồn ào và ô nhiễm.  Người dân Buenos Aires trái lại ưa giễu cợt các đồng hương tỉnh lẻ của mình là quá chậm chạp, ít văn hóa và khư khư với truyền thống của mình.

Giữa những năm 1920 và 1940, tư bản nước ngoài, đặc biệt là Anh, đã tạo nên sự phồn vinh nhanh chóng của vùng đất chăn nuôi và trồng trọt này. Nhiều người châu Âu giàu có đã lui tới các khách sạn sang trọng và các casino. Thời kỳ huy hoàng này trở thành bất tử trong phim Gilda, trong đó Rita   Hayworth đã hát bài hát nổi tiếng ‘Put the blame on Mamma, Boys!’.

 

Ngày nay, thành phố Buenos Aires thịnh vượng đã biến thành một thành phố  "hai tốc độ". Các khu phố Recoleta, Palermo và Belgrano vẫn còn cho thấy ảo giác của một sự giàu sang, khi sự khốn cùng thật sự đã lan tràn ra khỏi trung tâm thủ đô vài cây số, nằm trong những căn nhà tôn với hàng ngàn người sống ngoài lề xã hội  chen chúc nhau..


BUENOS AIRES : MICROCENTRO

Nếu bạn đến từ phi trường thì nơi tốt nhất để bắt đầu cuộc tham quan là PLAZA DE MAYO (terminus của xe búyt từ phi trường ở gần quảng trường này).

Trung tâm của Buenos Aires nằm giữa PLAZA DE MAYO và PLAZA DEL CONGRESO, dọc theo Đại lộ MAYO, đến tận PLAZA SAN MARTIN và Đại lộ SANTA FE. Đây là trung tâm của thủ đô (được gọi là MICROCENTRO) vi chính tại đây tập trung những cơ quan hành chánh, các ngân hàng và các tiệm buôn.

 

- PLAZA DE MAYO: Trung tâm lịch sử của thành phố, là nơi diễn ra những biến cố chính trị quan trọng của đất nước.Chính ở đây mỗi thứ năm tập hợp các bà mẹ mất con trong thời kỳ độc tài quân sự Videla. Ở trung tâm quảng trường có OBELIQUE DE MAYO, trên do ghi khắc ngày tháng giành độc lập của Argentine (25/5/1810)

-CASA DE GOBIERNO : Chính từ đây cặp vợ chồng PERON đã hô hào khởi động quần chúng.

-CATEDRAL METROPOLITANA : Tại đây chủ yếu bạn thăm viếng được mộ của tướng SAN MARTIN, cha đẻ và người giải phóng Argentine.

-AVENIDA 9 DE JULIO (Đại Lộ 9/7): Đại lộ lớn nhất thế giới, bề ngang đến 125m.

-PLAZA SAN MARTIN: Bức tượng nhà giải phóng SAN MARTIN ngự trị ở trung tâm quảng trường từ đầu thế kỷ 20

và nhiều địa điểm nổi tiếng khác...

-CALLE  FLORIDA : Con đường dài dành cho người đi bộ và là con đường thương mãi sầm uất nhất của thành phố. Hai bên đường là những dãy cửa hàng sang trọng nguy nga, các galeries marchandes (phòng triển lãm thương mãi) to lớn. Đường phố nhộn nhịp người qua lại và khách du lịch. 

 

 


-CONGRESO  NACIONAL: Nằm trên Plaza de Congreso, là trụ sở của Thượng và Hạ viện Á Căn Đình. Kiểu kiến trúc thời Đệ Nhị Đế Chế với nóc vòm bằng đồng thanh và dáng vẻ đồ sộ hoành tráng cho ta sự liên tưởng đến Capitole de Washington.


- CASA DE GOBIERNO: Nằm ở phía đông của Plaza de Mayo. Còn được biết dưới tên CASA ROSADA, vì tòa nhà được sơn màu hồng saumon. Năm 1868 đã có sự hình thành của hai đảng chính trị đối lập, một của đòan thể những người Fédéralistes (màu đỏ) và một của đòan thể những người Unitaristes (màu xanh nhạt). Để dung hòa Tổng thống Samiento đã cho sơn tòa nhà trước hết màu đỏ rồi sau đó quét lên trên màu xanh nhạt.Vì vậy tòa nhà có màu hồng saumon. Chính tại đây hai vợ chồng Peron đã hô hào dân chúng và cũng chính tại đây Tổng thống De La Rua đã bỏ trốn bằng trực thăng vào tháng 12 năm 2001.


- AVENIDA 9 DE JULIO VA OBELISCO: Đây là đại lộ lớn nhất thế giới với bề rộng hơn 125 m. Đại lộ được đặt tên 9/7 để ghi nhớ ngày độc lập của đất nước Á Căn Đình (9/7/1816). Đại lộ này được mở ra do sự tăng trưởng của đô thị để giải quyết các vấn đề lưu thông ngày càng nghiêm trọng nhưng cũng để cụ thể hoá khuynh hướng ưa những cái to lớn của các nhà lãnh đạo thời đó.

Tháp đài (obelisco) nằm ở trung tâm của đại lộ 9/7, trên Quảng Trường Cộng Hoà (Plaza de la Republica). Tháp đài này được dựng lên năm 1936 đánh dấu 400 năm lịch sử của thành phố được xây dựng năm 1536.

 

-CATEDRAL METROPOLITANA:  Mặt ngoài theo kiểu kiến trúc tân cổ điển (néoclassique), gồm một hàng hiên (portique) có 12 cột (colonnes) biểu tượng 12 tông đồ (apotres), phía trên là một frontispice chạm trổ rất đẹp. Bên trong đền thờ là lăng của Tướng Don José San Martin, người cha của dân tộc và nhà giải phóng Argentine.


- PLAZA DE MAYO và Obélisque de Mayo

Quảng trường Mayo là linh hồn của Buenos Aires. Đây là nơi đầu tiên những người Tây Ban Nha đến định cư lập nghiệp trên vùng đất thù nghịch này, cách sông Rio de la Plata vài cây số. Kể từ đó, quảng trường đã chứng kiến những biến cố lịch sử quan trọng của thành phố này.

Quảng trường được đặt tên là Tháng Năm (Mayo) để tưởng niệm ngày 25 tháng 5 năm 1810, ngày thành lập chính phủ độc lập Á Căn Đình đầu tiên sau khi dân Buenos Aires (các portenos) đã trục xuất phó vương Tây Ban Nha.Ngày tháng độc lập biểu tượng này được ghi khắc trên Tháp đài (obelisque để Mayo) đuợc dựng lên ở trung tâm quảng trường. Quảng trường là chứng nhân lịch sử của những cuộc biểu tình to lớn trong thời kỳ Péron cầm quyền, những cuộc tuần hành của các bà mẹ có con bị mất tích dưới thời chính phủ quân nhân, những cuộc diễn hành ủng hộ trong cuộc chiến Đảo Malouines, những cuộc tập hợp động đảo dân chúng ủng hộ dân chủ vào đầu những năm 80.
      

Obélisque de Mayo
 

ĐIỆU NHẢY TANGO
Lịch sử về sự ra đời của điệu nhảy Tango gắn liền với lịch sử thành lập thành phố Buenos Aires. Vào cuối thế kỷ thứ 19, trong những năm 1880, người di dân đến từ khắp châu Âu. Đó là những người nam giới, cô độc, ra đi bỏ lại đằng sau tất cả, mà mục đích là để tìm kiếm một thành đạt trong xã hội.

Họ đến phần lớn từ Espagne, Pologne, Đức,Ý. Họ sống trong những khu phố nghèo nàn ở ngoài  thành phố. Và họ đã tự hình thành một nhóm dân bé nhỏ của thủ đô liên bang. Chính từ nhóm dân này đã nảy sinh ra điệu nhảy Tango, tạo dựng trong bầu không khí của những người đàn ông cô đơn, khó khăn trong việc diễn đạt ngôn ngữ, vất vả trong cuộc sống, nhớ tiếc hạnh phúc của cuộc đời mà họ đã để lại trên đất nước mình.

 Vì vậy nhảy Tango là giữa các người đàn ông với nhau và thuờng diễn ra trong căn nhà thổ (bordels) hay các quán rượu (cabarets). Chính ở đây tất cả những người mất cội nguồn (déracinés) của Buenos Aires tụ hội để tìm quên lảng qua những ván bài, tìm hơi ấm qua những chầu rượu hay đàn bà và để gợi lại một cách buồn rầu cuộc sống đã xa trong khu phố cũ của họ. Chính ở đó Tango đã thành hình, vào giữa những năm 1860 và 1880.

 

Khởi đầu Tango là một thế loại thuần nhạc khí (instrumental), gồm có đàn tây ban cầm, sáo và vĩ cầm (violon) là những nhạc cụ duy nhất được sử dụng để diễn đạt Tango. Sau đó một nhạc cụ được nhập từ Đức tên goi là Bandonéon (accordéon miniature) phong cầm. Nhưng phải đợi đến khi có sự hội nhập của piano thì Tango mới có được cái tên đích thực của mình. Sau đọan khởi đầu bằng nhạc khí là giai đoạn của điệu nhảy Tango. Trước hết, điệu nhảy được thực hiện bởi các cặp đàn ông trên hè phố nhưng sau đó bị cấm đóan vì đã trở ngại cho vấn đề lưu thông, qua một quyết định vào năm 1916.


PERON VA EVITA
Peron được bầu làm tổng thống nước cộng hòa Argentine năm 1946 và bắt đầu thực hiện những cải cách xã hội bằng cách quốc hữu hóa những xí nghiệp trước đây nằm trong tay tư bản nước ngoài.Vào thời kỳ đó không một nhà chính trị nào dám đi xa như thế vì những thế lực cực kỳ bảo thủ đang ngự trị ở đây. Peron đã xây trường học, nhà xã hội, bệnh viện vì vậy được những người nghèo khổ ủng hộ triệt để. Nhưng đề đạt những thành quả như vậy không thể quên EVITA, người vợ đầu tiên của PERON.

Evita sinh ở Los Toldos, cách Buenos Aires 250 km.Bà là con ngoài giá thú của một người đàn ông đã có vợ và mẹ là một người thợ may.Vì vậy từ thuở bé, bà đã mang trong lòng mối thù hận sự quyền quý cao sang và thói đạo đức giả. Được nuôi nấng dạy dỗ trong một gia đinh không biết xa hoa là gì, bà đã biết sử dụng sắc đẹp và vẻ đẹp quyến rũ của mình để đến sống ở Buenos Aires. Tại đây bà nổi lên rất nhanh chóng dưới tên Eva Duarte. Bà được biết đến qua các buổi truyền thanh trong đó bà tố cáo một cách hăng say sự bất công xã hội và sự khốn cùng của người dân. Sau đó bà trở thành tài tử điện ảnh (hạng nhì).

Vào lúc xảy ra trận động đất ở San Juan, Evita lần đầu tiên gặp Peron, một viên sĩ quan trẻ tuổi đầy tham vọng và trở thành vợ của ông sau đó. Thế rồi, do lòng say mê và niềm hứng khởi, bà từ bỏ nghề tài tử để cống hiến hết mình cho sự nghiệp bảo vệ người nghèo.Về phương diện chính trị bà đã hỗ trợ Peron đắc lực, thời gian đó ông trở thành bộ trưởng, và đã thúc đẩy ông thực hiện những cải cách xã hội (mang tính chất cách mạng vào thời kỳ đó).

Sau khi Peron được bầu làm Tổng thống của nước cộng hoà Argentine, Peron và Evita đẩy nhanh những cải cách xã hội bằng cách sử dụng tiền nợ được cấp trong thời hậu chiến và tiền quyên góp một cách độc đoán lên các chủ xí nghiệp giàu có trong công việc xây dựng trường học, bệnh viện, các trung tâm nghỉ ngơi, định mức lương tối thiểu, giảm thời gian làm việc, tăng cường vai trò các công đoàn. Evita đã thành công trong việc trao quyền bầu cử cho phụ nữ Argentine trước cả De Gaule đối với phụ nữ Pháp.

Evita được mệnh danh là Madone des descamisados (les sans-chemises) và đã trở nên rất gần gủi với người dân argentin qua lời tuyên bố sau đây:  "Bạo lực trong tay nhân dân không phải là bao lực mà là công lý!". Người ta thấy bà xuất hiện trong các nhà máy, bệnh viện, khu phố bình dân, đọc diễn vẫn ca ngợi tổng thống Peron. Bà trở thành nữ thánh đối với dân nghèo.Trong cuộc bầu cử năm 1951, bà ra ứng cử phó tổng thống nhưng bị quân đội dùng quyền phủ quyết. Đó là thất bại đầu tiên và duy nhất của bà. Nhưng rồi Evita bi bệnh ung thư máu và giã từ cuộc đời năm 1952 ở lứa tuổi 30 trước sự thương tiếc khôn nguôi của người dân Á căn đình (Argentina).                                                                                

Sự thương tiếc Evita không những được khóc than ở đất nước Argentine, mà còn vượt đại dương đến trong từng hộ của những người dân nước Pháp, bởi vì bà không những được yêu thương như một huyền thoại mà còn như một thành viên thân thiết của gia đình. Mặc dầu qua đời đã trên 50 năm nhưng Evita vẫn còn để lại một dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân Á căn đình. Mới đây Alan Parker đã phỏng theo cốt chuyện về cuộc đời của bà để thực hiện thành phim, với Madonna trong vai  chính. Điều này đã gây vài phản đối lúc quay phim bởi vì người dân Argentine không thể nhìn vào sự kiện nầy với đôi mắt thiện cảm trước sự việc một "junkette" américaine khoác áo nữ thánh Evita.
                                                                                                                                                       

Mặc dầu có những tư tưởng cách mạng, chế độ Peron không chấp nhận tranh đấu và tự do báo chí và nhất là có thiện cảm với nazis. Và nhất là ông không che dấu thiện cảm của ông đối với Đức quốc xã mà ông đã có thời gian làm cố vấn quân sự ở Berlin trong những năm 1930. Argentine chỉ tham chiến chống Đức vào ngày 6 tháng 5 năm 1945 và Peron đã cấp phát 10.000 thẻ căn cước cho một nhóm người Đức thua trận muốn định cư ở Argentine. MENGELE, y sĩ của các trại tập trung nazis, người có trách nhiệm về cái chết của hơn 300.000 người Do thái, đã sống an nhàn ở Argentine. Tổng cộng có đến 60.000 người tị nạn nazis ở Argentine. Peron bi lật đổ và sống lưu đày sau đó ở Espagne năm 1955, và đã để lại cho đất nước ông một tình trạng kinh tế thảm hại.                                                                         

Nhưng rồi sau gần 20 năm của một đời sống chính trị hỗn loạn với các chính phủ quân nhân và lập hiến kế tiếp nhau, áp lực nhân dân đã lật đổ chế độ độc tài quân sự được dựng lên vào tháng 3 năm 1973 và đã kêu gọi sự trở về vị đại tá độc đoán có tinh thần cải cách xã hội cùng với người vợ đầy huyền thoại Evita. Năm 1973 Peron lại đắc cử và trở thành tổng thống, trở lại Argentine cầm quyền, nhưng Evita đâu còn nữa bên ông để làm sống dậy những ước mơ. Bộ máy cầm quyền péroniste bắt đầu tan rã trong bạo lực dưới tác dụng của những cuộc thanh toán lẫn nhau.

Một năm sau Péron qua đời, để lại chính quyền cho người vợ thứ ba là Isabelle. Vốn là một vũ nữ chuyên nghiệp. Isabelle chỉ là một cái bóng mờ so với Evita trong việc điều hành đất nước. Nhiều phong trào cách mạng nảy sinh và biện minh việc dùng bạo lực để áp đặt luật lệ riêng của mình. Đất nước rơi vào một hỗn loạn và khủng hoảng kinh tế bên bờ nội chiến. Một hội đồng quân nhân dưới sự lãnh đạo của tướng Videla đã lật đổ Isabelle năm 1976.  Mở đầu một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử của Argentine, thời kỳ của một cuộc chiến bẩn thỉu với 7 năm dưới chế độ khủng bố (1976-1983).

Quân đội dùng mọi phương tiện để đè bẹp các phong trào cách mạng và đạt được mục đích với cái giá của một cuộc chiến vô cùng tàn bạo và cái chết của nhiều người vô tội.Cuộc đàn áp nhanh chóng nhằm vào những thành phần chống đối chế độ. Những phần tử khuynh đảo bị bắt giữ một cách độc đoán, bị tra tấn và trong số đó đã có hàng ngàn người  bị "biến mất" một cách bí mật. Vì vậy mới có cái tên là desaparecidos (disparus).



NGHĨA ĐỊA RECOLETA
Mộ của bà Evita nằm phía trái của nghĩa địa và rất là khó tìm. Evita được chôn trong phần mộ của gia định bà (les Duartes), chứ không phải trong mộ chồng (Peron).Thi hài của bà phải chịu nhiều dặm nẻo sơn khê trắc trở trước khi được mang về lại  Argentine vào năm 1976, sau khi được ướp xác và trưng bày một thời gian lâu ở Tổng Công Đoàn Công Nhân. Khi chồng bà bị lật đổ năm 1955, quan tài của bà được gởi qua Ý và được chôn cất dưới một tên giả. Rồi thi hài bà được dời qua Espagne và được đặt trong một tư dinh. Năm 1973, khi Peron trở lại nắm chính quyền và được bầu làm tổng thống, khi đó ông có khả năng mang thi hài của Evita về trở lại Argentine thì lại bị bà vợ thứ ba là Isabelle chống đối. Nhưng dưới áp lực của nhân dân thi hài lại được đưa trở về, khi Peron mất năm 1976 là cuộc du hành lần cuối của thi hài bà, và người đàn bà gây hiếu động ngay cả khi qua đời này sau cùng đã tìm thấy lại nơi an nghỉ cuối cùng trong phần mộ gia đình bà.   


 
CUỘC CHIẾN Ở ĐẢO MALOUINES
Cuộc chiến tranh ở đảo Malouines thật ra chỉ là một cái cớ để đánh lạc hướng nhân dân khỏi nhìn vào những bộc phát và tai tiếng của chế độ và tình hình tài chánh đầy tai họa của đất nước, nhằm tập hợp những công luận quanh một  ‘đại nghĩa’, nhờ đó tạo một lực thẩm thấu ngay trong lòng đất nước. Là cơn bộc phát cuối cùng của chế đó quân nhân trong tình thế tuyệt vọng. Cuộc chiến tranh thực sự chỉ có tác dụng làm thúc đẩy sự sụp đổ của chế độ này.

 

Falkland Islands (theo cách gọi người Anh) hay Les Malouines (theo cách gọi người Pháp) là một nhóm các hòn đảo nằm cách bờ biển phía Đông của Argentine khỏang chừng  650 km. Khởi thủy không có người ở. Các hòn đảo này được người Anh khám phá năm 1592. Sự hiện diện đầu tiên và duy nhất của người Argentine chỉ từ năm 1829. Nhưng người Anh không bao giờ từ bỏ chủ quyền của mình trên những hòn đảo này nên năm 1833 đã đuổi ra khỏi đảo vài người lính và cư dân Argentine.
 

Trong thế chiến thứ nhất Falkland Islands là nơi diễn ra một trận thủy chiến quyết định giữa Đức và Anh. Sự thắng trận của Anh cho phép lưu thông tự do trên đường thương mãi và Argentine là nước hưởng lợi chủ yếu. Chúng ta cần nhớ rằng Argentine kiếm được rất nhiều tiền trong chiến tranh do tiếp vận lương thực cho châu Âu. Falkland Islands có một tổng diện tích 10.000 km2 đất đai cằn cỗi. Trên đảo có 2.000 cư dân người écosse và 600.000 con cừu.

Năm 1982 chính phủ quân nhân Argentine quyết định tấn công thuộc địa bé nhỏ này của Anh.Các nhà chiến lượt Argentine nghĩ rằng Anh quốc sẽ không chiến đấu để dành lại những hòn sỏi cằn cỗi nầy, vả lại thủ tướng Anh lúc đó là bà Magaret Thatcher chỉ là một phụ nữ. Nhưng không ngờ Dame de Fer – Người đàn bà Sắt thép nầy đã nhanh chóng huy động một hạm đội hùng hậu với một lực lượng các hàng không mẫu hạm và tuần dương hạm tiến về quần đảo Falkland.

 

Cuộc chiến kéo dài trong hai tháng với một phí tổn 850 triệu dollars. Không quân Argentine bắn hoả tiễn Exocet vào các chiến hạm Hoàng Gia nhưng nhiên hậu quân Argentine đã lảnh một thất bại nặng nề về người và vật chất. Về phía Argentine đã có 649 người chết, và về phía Anh đã có 255 người thiệt mạng. Do chiến bại đó quân nhân độc tài phải nhường chỗ cho chế độ dân chủ ở Argentine. Các lãnh tụ chính của Hội Đồng quân nhân (Videla và Massera) bị đưa ra xét xử và lên án. Về phía Anh quốc là nước thắng trận nên uy tín của bà Thatcher nổi lên như cồn và được tái cử năm 1983.

 

ĐẠI LINH

 

Trở về Trang Chính