Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

E-Mail: bsnguyenvanthinh@khoahoc.net

15 tháng 05 năm 2008

1/ DOROTHY REED MENDENHALL

         Bệnh Hodgkin hay lymphome de Hodgkin là một u bạch huyết được đặc trưng bởi sự hiện diện của các tế bào khổng lồ không điển hình (cellules géantes atypiques), còn được gọi là các tế bào Reed hay các tế bào Sternberg-Reed. Nhưng người ta có biết rằng đứng đằng sau Sternberg-Reed là 2 người thầy thuốc, một  người là Carl Sternberg, nhà giải phẫu bệnh học người Áo và người kia là một thầy thuốc nữ người Mỹ : Dorothy Reed ?

MỘT QUYẾT ĐỊNH LÀM RỤNG RỜI

         Dorothy Reed sinh năm 1874 ở Columbus thuộc tiểu bang Ohio. Bà xuất thân từ một môi trường khá giả ; thật vậy gia đình bà là chủ của một nhà máy chế tạo giày. Cha bà mất khi bà chỉ mới 6 tuổi. Dorothy nhận được nền học vấn đầu tiên tại nhà bởi một giáo sư dạy tư. Sau đó bà ghi tên vào một trường trung học dành cho các thiếu nữ của Northampton trong tiểu bang Massachussets. Lúc còn là thiếu nữ bà yêu cầu được phép tự mình quản lý lấy phần gia sản thừa kế của mình : thật vậy, với phương cách này, bà có thể theo đuổi việc học mà không phải lệ thuộc vào gia đình. Gia đình bà không mấy thiện cảm với lựa chọn này. Mẹ bà ưa thích rằng Dorothy theo con đường của các thiếu nữ con nhà danh giá là đi lấy chồng, tốt nhất là với một người nào đó giàu có.
          Dorothy trước hết học hóa học và vật lý ở Massachussetts Institute of Technology năm 1895. Nhưng bà đã có một ý nghĩ trong đầu : thật ra việc học này chỉ là một bàn đạp để trở thành thầy thuốc. Dorothy đã viết thư cho giám đốc của Johns Hopkins Medical School vừa mới được thành lập. Trường y này đã mở cửa năm 1893 là nhờ các người theo chủ nghĩa nữ quyền (féministes). Những người này đã chấp nhận tài trợ cho ngôi trường y khoa mới này với điều kiện là các phụ nữ phải được chấp nhận cho vào học ở đó. Quyết định của Dorothy làm rụng rời gia đình. Gia đình đã không do dự tuyên bố rằng bà đi nghỉ mát ở miền Nam để người ta khỏi biết rằng bà đang theo học một trường y.

MỘT “ SỰ TÒ MÒ TÍNH DỤC KHÔNG LÀNH MẠNH ”

           Dorothy bắt đầu học y khoa năm 1896, và đã trải qua những khó khăn mà các phụ nữ vào thời kỳ đó đã kinh qua khi vào học trong một môi trường lúc đó chỉ dành cho nam giới . Giữa những lời giễu cợt của các sinh viên và những lời ác ý của các giáo sư, Dorothy đứng vững và cuối cùng đã nhận được văn bằng tốt nghiệp năm 1900. Bà đứng thứ năm của khóa học gồm 43 sinh viên, sau một người phụ nữ khác đứng thứ hai.Vị thứ của bà lúc tốt nghiệp đã cho phép bà nhận được một chức vụ nội trú bệnh viện nhưng khi đó người ta lấy cớ rằng hai nội trú phụ nữ sẽ tạo nên vấn đề. Dorothy năn nỉ và cuối cùng đã được chấp nhận. Bà sẽ có người đỡ đầu và là giáo sư nội trú, BS William Osler.Trong thời gian làm nội trú, bà xem thường những lời bắt bẽ muốn ngăn cản một phụ nữ da trắng săn sóc những người đàn ông da đen. Một giáo sư đã không do dự trách bà “ về sự tò mò tính dục không lành mạnh ”. Việc bổ nhiệm làm nội trú của bà cũng sẽ khép lại các cảnh cửa đối với vài thành viên trong gia đình bà.

TỪ PHÒNG NGHIÊN CỨU ĐẾN KHOA NHI.

        Vào cuối thời kỳ nội trú, BS Reed nhận được một nhiệm sở trong phòng thí nghiệm giải phẫu bệnh lý của BS William Welch. Chính ở đó vào năm 1902 bà đã hoàn thành việc mô tả cuối cùng của tế bào đã được khám phá năm 1898 bởi nhà giải phẫu bệnh lý Carl Sternberg trong bệnh Hodgkin. Với những nghiên cứu của bà, BS Reed chứng tỏ vai trò của những tế bào này trong bệnh Hodgkin và như thế cho phép phân biệt bệnh lý này với bệnh lao. Các công trình của bà được quốc tế công nhận.Tuy nhiên, năm 1903, bà đã từ giã lãnh vực nghiên cứu. Người ta không biết điều gì đã khiến bà đã đi đến quyết định này : các khả năng tiến thân bị giới hạn, hay chuyện tình duyên không được may mắn ? Dẫu sao đi nữa, Dorothy đã từ giã phòng thí nghiệm mặc dầu nơi đây bà đã được xác nhận như là một nữ tiền phong của nghiên cứu y khoa. Sau do bà nhận một nhiệm sở ở khoa nhi, trước hết ở New York Infirmary for Women and Children ( được thành lập bởi BS Elizabeth Blackwell ) và từ năm 1903 đến 1906 ở Babies Hospital de New York.

THẦY THUỐC, VỢ VÀ MẸ : CUỘC ĐẤU TRANH CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ.

          Vào năm 1906, bà cưới Charles Elwood Mendenhall . Cặp vợ chồng sinh sống ở Madison trong Wisconsin, nơi đây Charles được bổ nhiệm làm giáo sư vật lý ở đại học. Suốt trong những năm tiếp theo sau đó, sau khi đứa trẻ đầu lòng qua đời vào lúc sinh, Dorothy lại sinh 3 đứa trẻ khác và dành thời gian ưu tiên cho cuộc sống gia đình dầu có bị thiệt hại đến nghề nghiệp y khoa của mình..

          Vào khoảng năm 1910, bà lại bắt đầu hành nghề dần dần trở lại và bởi vì lần sinh đẻ đầu tiên của bà đã bị kết thúc bởi tử vong của đứa con sơ sinh, do đó bà sẽ đặt ưu tiên cho việc săn sóc tốt các sản phụ và sức khỏe của các trẻ em. Bà tạo nên những trung tâm y tế cho các trẻ em, thuyết trình tại các hội nghị về các săn sóc tiền sản, viết nhiều bài văn chuyên về sự nuôi dưỡng các trẻ em.

         Công việc của bà bị dèm pha bởi một vài đồng nghiệp nam giới. Những người này đã không ngần ngại nói rằng những bổn phận của bà đối với gia đình và sự quan tâm của bà đối với y tế cộng đồng thể hiện sự thiếu quan tâm đối với nền y khoa “ nghiêm túc ”. Và trong giới đại học, người ta đã không do dự trách bà  là đã “ lãng phí sự giáo dục y khoa đầy tốn kém mà bà đã nhận được ”.

CUỘC VẬN ĐỘNG VÌ CÁC BÀ MẸ VÀ TRẺ EM.

            Năm 1917, Dorothy cùng gia đình đi định cư ở Washington là nơi mà chồng bà được bổ nhiệm. Bà nhận được một nhiệm sở ở Bureau national de l’enfance. Bà ở lại đó cho đến cuối cuộc đời và từ nay cống hiến chủ yếu cho sự thăng tiến sức khỏe của các phụ nữ và trẻ em . Bà xuất bản nhiều bài báo về sức khỏe của bà mẹ và trẻ em, trong đó có bài « Milk, the indispensable food ». Các bài báo của bà xuất hiện trong những tạp chí có uy tín như John Hopkins Hospital Report hay American Journal of Medical Science. Năm 1926, bà thực hiện một nghiên cứu về tỷ lệ tử vong của bà mẹ và trẻ em ở Đan Mạch và so sánh với những thống kê của Hoa Kỳ. Năm 1929, Bureau national de l’enfance

công bố công trình nghiên cứu này, «Midwifery in Denmark », mà những kết luận phát hiện rằng tỷ lệ tử vong của các bà mẹ và trẻ em ở Hoa Kỳ cao hơn là do những can thiệp y khoa thừa hoặc không thích đáng .

          BS Dorothy Reed thực hiện cuộc vận động nhằm cải thiện sức khỏe của các bà mẹ và trẻ em cho đến cuối đời. Bà mất năm 1964 hưởng thọ 90 tuổi.
                        
Nguồn :  SEMAINE MEDICALE 10/4/2008
                                                                                                                                          

2/ HÚT THUỐC CÓ HẠI CHO GIẤC NGỦ SÂU

           Những người hút thuốc ngủ kém. Sự phân tích quang phổ của điện não đồ những người hút 25 điếu thuốc mỗi ngày, đã xác nhận như thế. Những người này trải qua nhiều thời gian hơn những người không hút thuốc trong giai đoạn giấc ngủ nhẹ (sommeil léger) với một hoạt động alpha tăng mạnh trên điện não đồ, và ít thời gian hơn trong giai đoạn giấc ngủ sâu (sommeil profond) với các sóng delta. Những biến đổi này được quan sát, có tính đến tuổi, giới tính và những yếu tố khác khả dĩ làm biến đổi chất lượng của giấc ngủ (tăng thể trọng, uống cà phê...)
                            
Nguồn :  SCIENCE ET AVENIR 5/2008
 

3/ ĐỪNG CHỜ ĐỢI RỒI MỚI CÓ CON

           Nếu các phụ nữ cứ trì hoãn quá lúc mang thai, thì họ sẽ có nguy cơ không thể có thai được nữa.

           “ Tuổi trung bình của thai nghén lần đầu thụt lùi mãi từ năm này qua năm khác. Ngày nay, ở Pháp tuổi trung bình có thai lần đầu là 30 tuổi. Ở lứa tuổi này, phụ nữ đang ở ngay trong thời kỳ có khả năng sinh sản. Nhưng cái « cửa sổ » này chỉ kéo dài một thời gian. Hầu hết các phụ nữ nghĩ rằng khả năng sinh đẻ của họ bắt đầu từ lúc xuất hiện những kinh nguyệt đầu tiên và chấm dứt vào lúc mãn kinh. Thực tế, đó là thời kỳ trong đó người phụ nữ có những chu kỳ kinh nguyệt.Thời gian có khả năng sinh sản thật sự (là thời kỳ người phụ nữ có thể có con) thì lại ngắn hơn. Khả năng sinh sản của phụ nữ không bằng nhau trong thời kỳ này . Khả năng này tối ưu cho đến tuổi 36, sau đó giảm dần cho đến 40 tuổi rồi sụt giảm một cách nguy hiểm từ 40 tuổi trở đi. Sau 43 tuổi rất ít phụ nữ có thể có một thai nghén tự phát, mặc dầu ai cũng biết có những phụ nữ mang thai muộn.”. Giáo sư François Olivennes (chuyên gia về thụ thai nhân tạo ở Paris), trong một tác phẩm tựa đề “ Đừng chờ đợi quá lâu mới có con ” (N’attendez pas trop longtemps pour avoir un enfant) được công bố vào tháng 3, với kinh nghiệm của bản thân, đã đưa ra một tiếng kêu báo động thật sự để cảnh giác các phụ nữ về vấn đề mà họ thường không hay biết này. Nếu như quả thật có một sự bất bình đẳng thật sự giữa đàn ông và phụ nữ, thì chính đó là khoảng thời gian quá khác nhau của thời kỳ có khả năng sinh sản giữa nam và nữ. Nếu chúng ta cho rằng thời kỳ này bắt đầu ở nam và nữ sau tuổi dậy thì, thì ở phụ nữ trung bình thời kỳ này dừng lại ở tuổi 42, trong khi đó ở đàn ông được xem là vô hạn ..

         Cuốn sách của giáo sư Olivennes, rõ ràng, chính xác, dựa vào các tư liệu, nhằm thông tin cho các phụ nữ về các giới hạn này. Do thiếu thông tin, nhiều phụ nữ ở tuổi 40 hoặc hơn phải nhờ đến thụ thai nhân tạo, mà không còn có một lựa chọn nào khác. “ Tôi tin chắc rằng cần phải phát động những chiến dịch như các chiến dịch được phổ biến trong truyền thông Hoa Kỳ, qua đó nhắc lại rằng các phụ nữ phải nghĩ đến có con trước tuổi 40 nếu như họ thật sự muốn có », giáo sư Olivennes đã viết như thế trong phần kết luận của cuốn sách của mình .
                                
Nguồn :   LE FIGARO 28/4/2008
 
4/ NHỒI MÁU CƠ TIM : TỐT HƠN LÀ HÚT CỤC MÁU ĐÔNG.

         Tạo hình động mạch vành (angioplastie coronarienne) là thủ thuật nhằm điều trị bệnh nhồi máu cơ tim. Người thao tác đưa một ống thông có quả bóng nhỏ (une sonde à ballonnet) từ một động mạch ngoại biên lên động mạch vành bị nghẽn, rồi thổi phồng quả bóng nhỏ này lên để mở huyết quản và đặt một ống nhỏ dạng hình lưới (hay stent) để duy trì một tuần hoàn đầy đủ. Theo những kết quả thu được nơi hơn 1.000 bệnh nhân, việc hút trực tiếp cục máu đông trước khi đặt stent được thể hiện bởi một sự tái tạo mạch (revascularisation) quan trọng hơn so với việc thổi phồng quả bóng nhỏ.
                        
Nguồn :   SCIENCE ET AVENIR 5/2008
 

5/ TRIỆT SẢN PHỤ NỮ : MỘT KỸ THUẬT BỊT VÒI TRỨNG  BẰNG ĐƯỜNG TỰ NHIÊN CÓ HIỆU QUẢ.
          BS Caroline Dhainaut, chuyên khoa phụ sản của bệnh viện Bichat giải thích những lợi ích của kỹ thuật triệt sản không cần phẫu thuật Essure.Từ nay kỹ thuật này được đề nghị cho các phụ nữ trên 40 tuổi không muốn có con nữa.

          Hỏi : Trong trường hợp nào bà dự kiến một sự triệt sản ?

          B.S Caroiline Dhainaut. Chúng tôi đề nghị triệt sản cho các phụ nữ mong muốn ngừa thai vĩnh viễn bởi vì họ không muốn có con nữa, với điều kiện là quyết định này phải rõ ràng. Chúng tôi cũng khuyên các phụ nữ có khả năng bị nguy hiểm cho sức khỏe của họ trong trường hợp có thai (5% các trường hợp). Một vài bệnh nhân cũng đòi chúng tôi triệt sản để tránh phải ở vào trong tình huống tế nhị là phải yêu cầu một gián đoạn thai nghén (interruption de grossesse).

         Hỏi : Luật liên quan đến yêu cầu triệt sản quy định điều gì ?

         B.S C.D. Luật được ban hành tháng 7 năm 2001, cho phép triệt sản đàn ông và phụ nữ tuổi thành niên với điều kiện đã tôn trọng một thời hạn suy nghĩ 4 tháng.

         Hỏi : Ngay khi công bố đạo luật này, kỹ thuật nào đã được sử dụng ưu tiên một. ?

         B.S.C.D. Phương thức  cổ điển bằng đường nội soi (par voie coelioscopique), cần gây mê tổng quát và nhập viện 24 đến 48 giờ. Kỹ thuật này nhằm bịt các vòi trứng bằng các clips (hoặc một phương tiện đóng vòi khác), làm gián đoạn sự thông thương của các vòi trứng. Loại phẫu thuật này cần thực hiện hai hoặc ba đường xẻ nhỏ nơi bụng để đưa vào đó những giùi chọc (trocart) Qua những giùi chọc này, phẫu thuật viên sẽ đưa vào một caméra nhỏ xíu và các vi dụng cụ ngoại khoa. Nhà phẫu thuật thực hiện động tác giải phẫu bằng cách nhìn vào một màn ảnh tạo lại hình ảnh phẫu trường.

          Hỏi : Với phương thức cổ điển này, những kết quả nào đã đạt được ?

          B.S C.D. Do đau bụng sau mổ, cần một thời gian dưỡng sức vài ngày. Nhưng phương thức này có lợi điểm là có hiệu quả tức thời. Về lâu dài, 10 năm sau, tỷ lệ thất bại được ghi nhận là 1% bởi vì clip có thể đã bị tuột hay vòi trứng có thể đã trở nên thông thương trở lại. Các vết sẹo không còn có thể nhìn thấy nữa.

          Hỏi : Tiến bộ trong những kỹ thuật triệt sản Essure là những tiến bộ nào ?
          B.S.C.D. Essure, một phương thức triệt sản mới bằng các đường tự nhiên, đã được hiệu chính ở Hoa Kỳ và Úc 1999. Ở Pháp, phương pháp này đã không được sử dụng trước năm 2001 và không được đề nghị như là phương pháp được chọn lựa đầu tiên. Một trong những lợi thế lớn của kỹ thuật này là có thể thực hiện mà không cần phải gây mê chút nào cả. Kỹ thuật Essure nhằm thiết đặt qua đường âm đạo và cổ tử cung, một hệ thống đặc biệt làm bịt các vòi trứng : một loại lò xo chứa các sợi polyéthylène. Một khi đã được đưa vào trong vòi trứng, các sợi này gây ra một phản ứng mô làm bịt vòi trứng trong vòng 3 tháng. Can thiệp này kéo dài khoảng 10 phút và chỉ gây một đau đớn nhẹ, như vài cơn đau kinh nguyệt. Do đó bệnh nhân còn cần phải tiếp tục phương pháp ngừa thai thông thường trong 3 tháng và sau đó phải chụp X quang hình bụng để kiểm tra. Nếu phim chụp hình bụng đạt yêu cầu, chúng ta biết rằng bệnh nhân đã được triệt sản vĩnh viễn, và phương pháp ngừa thai thông thường có thể dừng lại. Sự kiểm tra này vô cùng quan trọng bởi vì nếu cần có thể được bổ sung bằng một chụp tử cung-vòi (hystérosalpingographie).

          Hỏi : Và nếu thăm khám phát hiện thiết bị được đặt không đúng vị trí, thì phải làm gì ?

          B.S.C.D. Vấn đề này rất hiếm khi xảy ra ; chỉ trong 2% các trường hợp. Khi đó sẽ dự kiến một xử trí khác, thích nghi tùy trường hợp.              

          Hỏi : Về lâu dài, hiệu quả của Essure như thế nào ?

          B..S.C.D. Từ khi thực hiện, tỷ lệ thất bại được quan sát là 1 trên 1000 , thấp hơn nhiều so với phương pháp triệt sản bằng đường nội soi bụng.
          Hỏi : Theo bà, những lợi điểm chính nào đã khiến giới hữu trách y tế từ nay đặt kỹ thuật triệt sản bằng đường tự nhiên này thành phương pháp được chọn lựa ưu tiên ?

           B.S.C.D. Có 3 ưu điểm : 1/ Không cần gây mê toàn thân. 2/ Không cần thời kỳ dưỡng bệnh, tạo nên một phí tổn. 3/ Hiệu quả rõ rệt hơn so với kỹ thuật triệt sản bằng đường nội soi bụng.

           Hỏi : Có những chống chỉ định cho kỹ thuật này hay không ?

           B.S.C.D. Có. Không thể đề nghị phương thức này trong lúc đang có thai ; khi một nhiễm trùng âm đạo hay cổ tử cung được phát hiện và nơi những phụ nữ có vài rối loạn kinh nguyệt ( quá nhiều hoặc quá không đều)
                    Nguồn :  PARIS MATCH 17-23/4/2008
 

6/ MỘT VI KHUẨN CHỐNG SỎI ĐƯỜNG TIỂU.

          Oxalobacter formigenes là một vi khuẩn kỵ khí bình thường hiện diện trong ống tiêu hóa và có khả năng làm thoái biến oxalate, nguyên nhân của hầu hết các sỏi tiết niệu . Sự hiện diện của vi khuẩn không sinh bệnh này trong ruột phải chăng có thể làm giảm nguy cơ phát sinh ra sỏi trong đường tiết niệu ? Đó là điều được gợi ý bởi một công trình nghiên cứu quy tụ 500 người mà một nửa đã bị những cơn đau quặn thận lặp đi lặp lại, do các hòn sỏi oxalate.
                      
Nguồn :   SCIENCE ET AVENIR 5/2008
 

7/ THẮNG BỆNH DẠI.

           Một thiếu nữ bị bệnh dại, được truyền bệnh bởi một con dơi, và đã được cứu sống sau khi được đắm chìm trong một cơn hôn mê nhân tạo và đã nhận các thuốc chống lại virus nhưng đồng thời bảo vệ não bộ. Một trường hợp đặc biệt mở ra vài hướng để điều trị bệnh này.

           Bệnh dại là một trong những bệnh đáng sợ nhất. Bệnh tấn công não bộ và gây nên sự kích động và những cơn co giật. Trước hết nạn nhân bị những cơn co thắt thanh quản và không thể nào uống hoặc ăn được. Sau đó là bại liệt các chi.Tuy vậy những người bị nhiễm bởi virus bệnh dại vẫn tỉnh táo cho đến lúc chết và có thể truyền đạt những nỗi lo âu và đau khổ của mình cho các người thân quen. Có một thuốc chủng phòng bệnh dại, ngăn cản sự phát triển của bệnh, nhưng thuốc chủng chỉ có hiệu quả lúc được tiêm trước khi bị cắn bởi con vật bị dại hoặc ngay sau đó. Các thầy thuốc không thể cứu sống một bệnh nhân không được tiêm chủng và bị nhiễm virus bệnh dại từ nhiều ngày qua. Nói chung, khoảng 2 tháng sau khi bị cắn, các triệu chứng xuất hiện và tử vong là điều không thể tránh được.

           Tuy nhiên, năm 2004, nhóm nghiên cứu của Children’s Hospital ở Milwaukee, Wisconsin, đã cứu sống một thiếu nữ 15 tuổi. Jeanna Giese đã trở nên bệnh nhân đầu tiên không được tiêm chủng nhưng đã sống sót sau khi bị bệnh dại.

         Bệnh dại hiếm xảy ra ở Hoa Kỳ và châu Âu, bởi vì các chiến dịch y tế cộng đồng đã thật sự loại bỏ virus này nơi các động vật nuôi trong gia đình như chó, mèo và gia súc. Chỉ hai đến ba bệnh nhân chết vì bệnh dại ở Hoa Kỳ mỗi năm. Ở Pháp tình hình khác hẳn và chỉ có dơi là truyền virus.

          Tuy nhiên một điều trị chống lại bệnh dại sẽ rất là hữu ích trong vài nước đang phát triển, nơi đây bệnh này vẫn còn là một mối quan tâm lớn ; ở Châu Á , Châu Phi, Nam Mỹ và Đông Âu, Tổ chức y tế thế giới ước tính rằng bệnh dại giết chết 55.000 người mỗi năm, phần lớn các nạn nhân bị nhiễm trùng bởi các vết cắn của chó. Virus bệnh dại phát triển chủ yếu trong các dây thần kinh và não bộ, do đó phát sinh những triệu chứng co thắt, bại liệt và lú lẩn, và hiếm khi ở những nơi khác trong cơ thể.

           Khi một động vật bị dại cắn một người nào đó, động vật này truyền vào trong vết thương nước miếng bị nhiễm bởi virus ; siêu vi trùng này tăng sinh tại chỗ trong các cơ hoặc da. Vì lẽ virus hiện diện với nồng độ rất thấp và không đi vào trong tuần hoàn máu hay các hạch bạch huyết, nên hệ miễn dịch của cơ thể không thể phát hiện được virus vào lúc đó. Thời kỳ tiềm phục (période d’incubation) này nói chung kéo dài từ hai đến 8 tuần, nhưng có thể kéo dài nhiều năm.Vào một lúc nào đó, virus tiến đến các dây thần kinh và len lỏi vào trong đó : lúc đó thì chẳng còn làm gì được nữa .

          Vào cuối thế kỷ thứ XIX, Louis Pasteur đã khám phá ra rằng một mũi tiêm virus bệnh dại “ bị giết chết ” (không gây bệnh) kích thích hệ miễn dịch sản xuất các kháng thể chống lại virus. Ngoài ra ông đã chứng nhận rằng thời gian cần thiết cho cơ thể phát triển phản ứng miễn dịch này là dưới thời gian tiềm phục của bệnh. Pasteur đã tiêm các virus bị giết chết, được phân lập từ tủy sống của các con thỏ  bị nhiễm trùng, vào những người bị chó dại cắn : những người này đã sống sót nhờ thụ đắc một miễn dịch chống dại trước khi xuất hiện các triệu chứng.
          Tuy nhiên bệnh dại luôn luôn có thể phát triển giữa lúc tiêm chủng và lúc hoạt hóa phản ứng miễn dịch, vì vậy ngày nay các thầy thuốc cho các bệnh nhân các kháng thể đặc hiệu để che chở trong khoảng thời gian này. Ngoài ra điều quan trọng là phải rửa thật kỹ vết thương bằng nước và xà phòng, bởi vì động tác này giết chết virus bằng cách phá hủy màng của nó. Phương pháp dự phòng sau khi tiếp xúc với virus bệnh dại ( rửa sạch vết thương, 5 mũi tiêm vaccin và một liều kháng thể ) đã không bao giờ thất bại ở Hoa Kỳ từ khi được đưa vào thực hiện năm 1975.
            Nhưng trường hợp của Jeanna thì khác. Cuộc chiến đấu của cô bé chống lại bệnh dại bắt đầu năm 2004 khi một con dơi bay vào nhà thờ làm vỡ nát một cửa kính và làm Jeanna bị thương ở ngón tay trỏ. Những chiếc răng của một con dơi rất nhỏ và sắc bén như một lưỡi dao cạo. Thường thường, người ta không cảm thấy các vết cắn, khó phát hiện, chính vì vậy mà giới hữu trách y tế khuyên chủng ngừa phòng bệnh dại cho mọi người đã tiếp xúc với một con dơi hay đã ngủ trong một căn phòng mà một con  dơi đã được tìm thấy. Jeanna đã rửa vết cắn bằng eau oxygénée, nhưng không được tiêm chủng phòng bệnh dại
          Virus bệnh dại tăng sinh trong ngón tay bị thương của cô trong khoảng một tháng, rồi theo một dây thần kinh và nhanh chóng đến não bộ, với vận tốc 1 cm mỗi giờ.Vì mục tiêu là hệ thần kinh, nơi đây nhiều loại tế bào miễn dich không tác động, vì vậy cơ thể chỉ phát hiện virus lúc nó đã xâm nhập ồ ạt tủy sống và não bộ. Khi đó bệnh nhân mắc phải bệnh dại, bị liệt các chi và mất toàn bộ cảm giác ngoại biên bởi vì những dây thần kinh vận động và cảm giác bị nhiễm trùng.

         Vào tháng 10 năm 2004, một tháng sau khi bị dơi cắn, Jeanna có triệu chứng cảm cúm. Sau đó cô bị tê bàn tay trái, bị yếu chân trái và nhìn đôi. Cô được nhập viện và trở nên ngủ lịm (léthargique) và bị thất điều vận động. Những triệu chứng này là đặc điểm của viêm não, một thương tổn não bộ khá thường xảy ra.
         Phải làm gì khi thật sự đó là bệnh dại ? Kết cục cổ điển là không có gì có thể điều trị bệnh dại khi các triệu chứng đã xuất hiện ; trong trường hợp Jeanna, chúng ta chỉ có thể điều trị nhằm xoa dịu sự đau đớn mà thôi...trừ phi một kết quả nghiên cứu mới cho phép dự kiến một điều trị khác. Cách nay gần 30 năm, các chuyên gia đã chứng nhận rằng các bệnh nhân bị bệnh dại chết mà không có các bất thường ở não bộ.Và khi chết sau nhiều tuần được điều trị ở phòng hồi sức, người ta không còn tìm thấy virus trong cơ thể nữa. Như thế, hệ miễn dịch người loại bỏ virus với thời gian, nhưng sự trừ tiệt này quá chậm nên không cứu sống bệnh nhân được. Do đó một chiến lược đã được phát họa : virus bệnh dại dường như có khả năng chuyển hướng các chức năng của não bộ để giết bệnh nhân, nhưng không làm thương tổn mô não, do đó các nhà nghiên cứu đã đặt não bộ của Jeanna trong trạng thái nghỉ ngơi bằng cách làm bệnh nhân chìm đắm trong một trạng thái mất tri giác kéo dài. Như vậy Jeanna vẫn sống khá lâu để hệ miễn dịch của cô được hoạt hóa... và loại trừ virus. Hệ miễn dịch của Jeanna phải cần khoảng 7 ngày để sản xuất các kháng thể chống lại virus bệnh dại. Nhưng loại thuốc nào được sử dụng để làm cô ở trong tình trạng hôn mê ? Vài công trình nghiên cứu nói đến vai trò bảo vệ của các chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmetteurs) hay những can thiệp khác nhằm bảo vệ não bộ chống lại các thương tổn. Năm 1992, các công trình của nhóm nghiên cứu của Henri Tsiang của Viện Pasteur Paris đã chứng tỏ rằng một thuốc gây mê, kétamine, có thể cản virus bệnh dại trong các tế bào thần kinh của vỏ não chuột.

          Vì lẽ não bộ của Jeanna đã bị xâm chiếm bởi virus, do đó thêm virus dưới dạng một vaccin chứa các virus bị giết chết là không có hiệu quả. Điều này có thể có hại vì làm chuyển hướng phản ứng miễn dịch chống lại virus đã hiện diện trong não bộ của Jeanna.Vì những lý do tương tự nên các nhà nghiên cứu đã không tiêm các kháng thể đặc hiệu đối với bệnh dại hay các interféron. Do đó Jeanna được đặt một tuần trong tình trạng hôn mê, và máu và nước não tủy đã được phân tích trong thời kỳ này để xác nhận sự sản xuất các kháng thể. Sau một tuần, cơ thể cua Jeanna sản xuất những số lượng lớn các kháng thể có tác dụng “ làm vô hiệu hóa ”, ngăn cản virus xâm nhập các tế bào mới. Sau 7 ngày, Jeanna được làm tỉnh trở lại. Cô mở mắt và phục hồi lại các phản xạ ở cẳng chân ngày hôm sau. 6 ngày sau cô nhìn mẹ và mở miệng để ăn. Sau 12 ngày, cô ngồi dậy trên giường.
                       
Nguồn :  POUR LA SCIENCE 5/2008

8/ ALBERT HOFMAN ĐÃ KHÁM PHÁ RA LSD.

         Nhà khoa học người Thụy Sĩ đã qua đời ở tuổi 102.

         Nhà dược lý-hóa học thụy sĩ đã qua đời hôm thứ ba sau một cơn đau tim tại tư thất của ông ở Burg, trong canton de Bâle-Campagne, ở tuổi 102. Chính ông vào năm 1938 đã tách được cái chất mà sau đó được gọi tên là LSD, rồi đã khám phá do tình cờ các tác dụng gây ảo giác của chất này.

        Sinh năm 1906 ở Baden, Hoffmann ngay năm 1929 và trong hơn 40 năm đã làm việc cho các phòng bào chế của nhóm dược phẩm Sandoz ở Bâle. Chính ở đó ông đã phân lập diéthylamide de l’acide lysergique (LSD), một alcaloide dẫn xuất của các hợp chất của ergot de seigle

       Ergot de seigle, một loài nấm đã được biết đến do các tác dụng thần kinh và tâm thần, gây nên đặc biệt là “ danse de Saint-Guy ”. Ở Sandoz, các nhà hóa học hy vọng rút ra các chất có thể hữu ích trong y học, đặc biệt là trong tâm thần học.
          Năm 1943, Hoffmann đã khám phá ra những tính chất của LSD sau khi đã để rơi do vô ý vài giọt chất này trên một ngón tay. Nhà dược sĩ-hoá học đã kể lại sau đó rằng ông ta đã phải mau chóng đi về nhà, vì bị chóng mặt và có cảm giác kỳ lạ. Về đến nhà, ông bắt đầu có những “ ảo ảnh ”. Hofffmann đã kể lại rằng     “ Tất cả những gì ông nghĩ lúc đó có vẻ như bằng màu sắc và bằng các hình ảnh ”. 3 ngày sau đó, một lần nữa Hoffmann đã trắc nghiệm dưới sự theo dõi những tác dụng của LSD, nhưng với một liều mạnh hơn. Khi đó, đó là một cuộc “ du hành ” về nỗi lo âu “ trong một thế giới khác, với một thời gian khác ”.

           Hoffmann và các đồng nghiệp sau đó cho rằng sự sử dụng LSD 25 có thể hữu ích trong nghiên cứu thần kinh học và tâm thần học, đặc biệt là trong các điều trị bệnh tâm thần phân liệt. Sandoz đã thương mại hóa LSD 25 dưới tên Delysid

            Trong những năm 50, LSD trở thành thuốc được sùng bái (drogue-culte). Nhưng những hậu quả có hại của thuốc này ( tự tử, giết người dưới ảnh hưởng của thuốc) đã khiến chính phủ Hoa Kỳ năm 1966 cấm lưu hành, cũng như sau đó bởi các chính phủ khác. Về phần mình, Hoffmann đã luôn luôn bào chửa là đã không muốn đem sử dụng LSD như một thuốc ma túy. Đối với ông, LSD chỉ là một dược phẩm.
                       Nguồn :  LE SOIR 2/5/2008
 

9/ ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG BẰNG GHÉP TRONG CÁNH TAY.

            François Pattou điều khiển đơn vị Inserm liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire) điều trị bệnh đái đường, ở Lille (Pháp)

            Từ 7 năm nay, hơn 600 bệnh nhân đái đường trên thế giới đã nhận ghép những tế bào sản xuất insuline ở gan. Để được an toàn hơn mảnh ghép vừa được thực hiện trong cơ.

          Hỏi : Khoảng 20 nhóm nghiên cứu trên thế giới đang điều trị bệnh đái đường bằng liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire). Đó là gì vậy ?

           François Pattou : đó là một kỹ thuật cho phép chúng ta nhiên hậu sẽ không cần đến ghép tụy tạng. Kỹ thuật ghép tụy tạng là khó khăn bởi vì, để được ghép, một tụy tạng phải chứa đủ các đảo nhỏ Langherans (ilôts de Langherans), tức là các tế bào sản xuất insuline. Thế mà cứ hai tụy tạng thì chỉ có một là đạt được tiêu chuẩn này mà thôi. Do đó, từ vài năm nay, chúng tôi chỉ tách ra các đảo nhỏ Langherans và tiêm chúng vào trong tĩnh mạch cửa của những bệnh nhân đái đường trầm trọng. Tĩnh mạch này, mang máu phát xuất từ hầu hết các nội tạng của bụng, tận cùng trong gan. Do đó các tế bào tụy tạng lưu lại đó và sản xuất đủ insuline để bệnh nhân có glucose huyết bình thường. Hiện chúng tôi đang còn trong giai đoạn lâm sàng

            Hỏi : Tại sao lại tìm cách ghép các tế bào tụy tạng này trong cơ của cẳng tay ? 

            François Pattou : để bảo đảm an toàn hơn cho mảnh ghép này. Điều trị bệnh đái đường bằng liệu pháp tế bào có một mối lợi lớn : phép điều trị không hung bạo. Không cần can thiệp ngoại khoa để tiêm các tế bào vào tĩnh mạch cửa. Nhưng vẫn có một nguy cơ xuất huyết gan lúc thực hiện động tác này. Và những nghiên cứu nơi động vật đã cho thấy rằng các đảo nhỏ Langherans khi được ghép vào gan có thể bị các « cơn giông tố viêm » (orages inflammatoires) phát khởi ở trong cơ quan này. Do đó một nhóm nghiên cứu Thụy Điển đã có ý nghĩ ghép những tế bào này vào trong cẳng tay của một cô bé nhỏ. Cơ cẳng tay dễ nhận mảnh ghép, có rất nhiều mạch máu và ít chịu phản ứng viêm. Và kết quả tốt. Vì vậy trong tương lai vị trí cẳng tay sẽ được sử dụng để ghép thường xuyên hơn.

           Hỏi : Loại ghép này phải chăng được áp dụng cho tất cả các bệnh nhân đái đường.
           François Pattou : Không, loại ghép này chỉ áp dụng cho những bệnh nhân với bệnh khả năng khiến họ chấp nhận nguy cơ của một điều trị bằng thuốc làm suy giảm miễn dịch. Thật vậy việc ghép các đảo nhỏ Langherans hàm ý sử dụng điều trị suy giảm miễn dịch suốt đời, với các hậu quả âm tính do điều trị này mang lại : các bệnh cơ hội, độc tính lên thận, viêm gan. Cái ngày nào đó nếu chúng ta biết cách làm  giảm sự suy giảm miễn dịch này, khi đó chúng ta sẽ nhận điều trị nhiều bệnh nhân hơn bằng kỹ thuật này.
                          Nguồn :  LA RECHERCHE 4/2008
 

10/ CÀ PHÊ KHÔNG CÓ TÁC DỤNG LÊN NHỊP TIM.

            Nhiều bệnh nhân cho rằng cảm thấy hồi hộp khi uống quá nhiều cà phê. Tác dụng của caféine lên tỷ lệ rối loạn nhịp tim đã được thăm dò qua một công trình nghiên cứu viễn cảnh của Đan mạch, được thực hiện bởi Frost và các cộng sự viên trên 48.000 người. Sau khi uống những lượng quan trọng caféine ( 997 mg caféine mỗi ngày), không có một tác dụng nào đã được quan sát cả. Một công trình nghiên cứu viễn cảnh khác của Hoa Kỳ, được thực hiện bởi Klatsky và các cộng sự viên, đã theo dõi trong 8 năm 129.000 người và đã không thể xác lập được mối liên hệ giữa sự tiêu thụ cà phê và việc xảy ra tử vong do các rối loạn nhịp tim. Cũng vậy không có một tương quan nào thuộc loại này được phát hiện qua các nghiên cứu trong đó caféine được tiêu thụ với các liều lượng lên đến 450 mg mỗi ngày. Cũng có vẻ như là cà phê không ảnh hưởng loại hoặc tần số các rối loạn nhịp tim. Trái lại, việc hạn chế tiêu thụ cà phê không chứng tỏ tác dụng lên tim đập nhanh thất (tachycardie ventriculaire)
                         Nguồn :  LE MAGAZINE DES GLEMS 4/2008

                                      
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
                                           ( 10/5/2008 )

 

Trở về Trang Chính