|
1/
CHỈ CẦN MỘT PROTEINE CŨNG CÓ THỂ TIÊN ĐOÁN
ĐƯỢC CÁC NGUY CƠ TỬ VONG
Bằng cách định lượng protéine C
trong máu của những bệnh nhân bị bệnh nhiễm trùng nặng, các nhà
nghiên cứu hy vọng nhận biết những trường hợp bệnh nặng nhất.
Phải chăng chỉ cần định lượng trong
phòng xét nghiệm protéine C là có thể tiên đoán được nguy cơ tử
vong của những bệnh nhân bị nhiễm trùng nặng ? Mục đích : nhận
dạng những bệnh nhân yếu ớt nhất và điều trị họ một cách đặc
hiệu hơn. Protéine C là một chất chống đông được cơ thể tổng hợp
trong trường hợp có phản ứng viêm nhưng nếu phản ứng viêm trở
thành mãn tính thì sự tổng hợp protéine C phần nào bị thiếu
hụt.. Lần đầu tiên các nhà nghiên cứu của đại học Friedrich
Schiller của Jena ( Đức) đã phân tích mối liên hệ giữa nồng độ
của protéine trong máu và các loạn chức năng của những cơ quan
chủ yếu (phổi, gan, thận..) trên 312 bệnh nhân được đưa vào
phòng hồi sức sau một phẫu thuật ngoại khoa. Kết quả : Tỷ lệ tử
vong 4 lần cao hơn ở những bệnh nhân có nồng độ protéine C thấp.
Những điều được quan sát này “ trong bất cứ trường hợp nào cũng
không được lý giải như là một mối liên hệ nhân quả “. Giáo Sư
Didier Payen, Bệnh Viện Lariboisière, Paris đã phát biểu như
vậy. Chỉ có những nghiên cứu sâu hơn mới có thể cho phép kết
luận về tính hiệu quả của sự định lượng này. Một công ty tư nhân
đã theo đường hướng này và đã phát triển một xét nghiệm cho kết
quả nhanh chóng. (SCIENCE ET VIE 8/2007)
2/ CÓ ANH (EM) SINH ĐÔI
LÀM KHẢ NĂNG SINH SẢN BỊ GIẢM
Khi những trẻ sinh đôi có
giới tính đối nghịch nhau, thì khả năng sinh sản của trẻ sinh
đôi gái bị giảm nếu trẻ sinh đôi kia có giới tính nam.Việc giảm
khả năng sinh sản này là do thai nhi giới tính nữ bị tác dụng
của testostérone của thai nhi giới tính nam trong thời kỳ thai
nghén. Ngược lại, thai nhi sinh đôi giới tính nam không bị ảnh
hưởng bởi oestrogène của em gái (hay chị) sinh đôi. Giả thuyết
này là kết quả của phân tích các thai sinh đôi được thống kê
trong 5 giáo xứ vùng thôn quê của Phần Lan từ năm 1734 đến 1888,
là thời kỳ mà các dữ kiện không bị ảnh hưởng bởi kế hoạch ngừa
thai. Nhóm của nhà nghiên cứu Virpi Lummaa (đại học Sheffield
Vương Quốc Anh) quan tâm đến những trẻ song đôi được nuôi nấng
cùng nhau hoặc được tách rời ra, như thế loại bỏ ảnh hưởng của
giáo dục. Trong cả hai trường hợp, nhóm nghiên cứu đã tính toán
rằng các trẻ song sinh giới tính nữ chung đụng với những trẻ
song sinh giới tính nam trong tử cung có xác suất con cháu bị
giảm 25% so với các trẻ song sinh nữ chung đụng với những trẻ
song sinh cùng giới tính. Ngoài ra những trẻ song sinh nữ này
khi lớn lên sẽ có trung bình 2 con ít hơn. (SCIENCE ET VIE
8/2007)
3/
ĂN QUÁ NHIỀU GAN MỞ SẼ CÓ HẠI CHO TRÍ NHỚ?
Tin tức gây
chấn động và lo âu cho những người thích ăn gan mỡ. Các nhà
nghiên cứu của Hoa Kỳ của Đại Học Tennesse cho rằng việc tiêu
thụ gan mỡ sẽ làm dễ các bệnh thoái hóa thần kinh. Đừng hoảng sợ
: nghiên cứu của các nhà nghiên cứu chỉ được thực hiện trên loài
chuột bị biến đổi về mặt di truyền để làm phát sinh các bệnh
này. Ở các động vật loài gậm nhấm, các protéines amyloides được
chứa trong gan mỡ, lắng đọng trong vài cơ quan trong đó có não
bộ. Thế mà chính các protéines amyloides này, lúc tạo thành các
chất lắng đọng bất thường chung quanh các neurone đã gây nên sự
phá hủy chúng. Vậy các protéines này là nguồn gốc của bệnh
Alzheimer. Từ đó các nhà nghiên cứu nảy ra ý nghĩ rằng gan mỡ sẽ
làm dễ bệnh Alzheimer nơi những người có tiền sử gia đình về
bệnh này. Nhưng tính đến hôm nay sự suy luận này không dựa trên
một điều tra dịch tễ học nào cả. Mặt khác, chuột được sử dụng bị
biến đổi về mặt di truyền (transgénique) và do đó dẫu thế nào
chăng nữa cũng phát triển các bệnh thoái hóa thần kinh.
(SCIENCE ET VIE 8/2007)
4/ TIÊM CÁC TẾ BÀO CƠ ĐỂ ĐIỀU TRỊ CHỨNG
SÓN ĐÁI CHO NHỮNG KẾT QUẢ ĐẦU TIÊN ĐÁNG PHẤN KHỞI
Được phát triển ở Innsbruck (Áo),
phương pháp điều trị này nhằm trích lấy một vùng cơ nhỏ ở cẳng
tay, sau đó nuôi cấy những tế bào này rồi tiêm chúng trở lại vào
cơ vòng bàng quang.
63 bệnh nhân đã tham gia vào công
trình nghiên cứu này, trong đó 42 người nhận các tế bào và 21
người chỉ nhận collagène để lấp đầy vùng bị thương tổn. Tất cả
các bệnh nhân đều được tái huấn luyện phục hồi chức năng. Kết
quả : 90% những bệnh nhân của nhóm thứ nhất không còn bị són đái
sau một năm so sánh với dưới 10% trong nhóm thứ hai. Chẳng bao
lâu nữa phương pháp này có thể được đề nghị cho những bệnh nhân
mà những điều trị theo phương pháp cổ điển bị thất bại. (SCIENCE
ET VIE 8/20007)
5/
MỘT MINICAMERA CHO THẤY CÁC THƯƠNG TỔN UNG THƯ TRONG LÚC GIẢI
PHẪU
Được sử dụng trong phòng mổ, một máy
quay phim thu nhỏ có khả năng phát hiện những thương tổn ung thư
đã được hiệu chính bởi các nhà nghiên cứu của Viện quốc gia Vật
lý Nguyên tử của CNRS. Máy quay phim này cho phép hướng dẫn các
động tác của phẫu thuật viên bằng cách phát hiện các sóng gamma
đuợc phát ra từ các thương tổn ung thư trước đó đã được đánh dấu
bằng một nguyên tố phóng xạ. Với một thị trường 13cm2, máy quay
phim có thể được đặt tiếp xúc với vùng cần phải mổ. Như vậy, máy
quay phim thu nhỏ này cho phép định vị một cách chính xác các tổ
chức khối u, thực hiện sự cắt bỏ hoàn toàn khối u và xác nhận
không còn hoạt động phóng xạ còn sót lại sau khi cắt bỏ ung thư.
Được thử nghiệm ở bệnh viện Tenon (Paris) trên 100 bệnh nhân bị
ung thư vú, máy quay phim thu nhỏ này mang lại những kết quả rất
tốt trong việc nhận dạng «các hạch biên phòng» (ganglions
sentinelles), nghĩa là giai đoạn đầu của di căn. (SCIENCE ET VIE
8/2007)
6/ MỘT CHIẾC CHÌA KHÓA CỦA KHẢ NĂNG SINH
SẢN NAM GIỚI
Một nhóm nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia
(CNRS) vừa nhận diện một yếu tố chủ chốt mới góp phần vào việc
làm trưởng thành sinh dục trên chuột có giới tính nam : protéine
SHP. Những công trình này mở ra những triễn vọng nghiên cứu mới
để cải thiện sự sản xuất tinh trùng. Nhất là ở những người có
rối loạn về khả năng sinh đẻ (fertilité).
Nhóm nghiên cứu của viện di truyền học
và sinh học phân tử và tế bào của CNRS thuộc đại học Louis
Pasteur của Strasbourg (cộng tác với những nhà nghiên cứu của
đại học Dallas và đại học Louvain) đã nghiên cứu vai trò của
protéine này. Để thực hiện điều này nhóm nghiên cứu đã hiệu
chính 2 mẫu chuột. Mẫu thứ nhất có protéine SHP và mẫu thứ 2 thì
không có. Kết quả rất đáng ngạc nhiên : các chú chuột không có
protéine SHP đã có khả năng sinh sản khoảng một tuần sớm hơn các
chú chuột chứng ! Một sự khác nhau đáng kể. Vì lẽ theo quy tắc
chung các chú chuột nam trưởng thành sinh dục ngay tuần thứ 7 và
8. Ngoài ra, các chú chuột không có SHP cũng đã sản xuất nhiều
testostérone hơn, dẫn đến sự trưởng thành sớm các tính chất sinh
dục sơ cấp.
Cần có những nghiên cứu bổ sung trước
khi có thể hiểu được toàn thể các cơ chế can dự vào trong quá
trình thành thục sinh dục của các thiếu niên.(READER’S DIGEST
7/2007)
7/
CHỨNG BÉO PHÌ CÓ ẢNH HƯỞNG MẠNH LÊN TRÍ NHỚ
Việc thặng dư thể trọng có hại cho quá trình nhận thức. Đó là
kết luận của một công trình nghiên cứu của CNRS và của INSERM
(Toulouse) được tiến hành trên 2223 người trưởng thành chịu
những trắc nghiệm về trí nhớ, khả năng chú ý và tốc độ xử lý
thông tin. Nguyên nhân là do những vấn đề huyết quản gây nên bởi
chứng béo phì hoặc tác dụng trực tiếp của những chất được tiết
ra bởi các tế bào mỡ lên trên các neurone.
(READER’S DIGEST 7/2007)
8/
XƠ GAN VÀ TÍNH MỎNG MANH CỦA RUỘT NON
Tất cả các bệnh nhân bị xơ gan đều có
thành ruột non mỏng manh. Từ trước đến nay người ta cho rằng
tính chất mỏng manh của hàng rào ruột non này là một trong những
hậu quả của bệnh xơ gan. Thế mà Laurent Ferrier thuộc INRA
(Toulouse) vừa chứng tỏ ở loài chuột rằng không phải như thế mà
ngược lại! Quả vậy, trong quá trình tiêu hóa, các vi khuẩn cấu
thành hệ khuẩn ruột làm thoái biến một phần lớn rượu thành
acétaldehyde. Sự thoái biến gây nên sự hoạt hóa các mastocyte.
Khi đó những tế bào này phóng thích những chất làm thương tổn
ruột non. Do đó ruột non trở nên dễ thẩm thấu, để các chất độc
tự nhiên trong ruột non đi vào trong máu. Và chính những độc tố
này làm trầm trọng căn bệnh của bệnh nhân. Như vậy xơ gan có thể
do 2 cơ chế xảy ra đồng thời : sự hiện diện trong máu của
éthanol và tác dụng của những vi khuẩn, lúc làm thoái biến ruợu
làm thương tổn ruột non và do đó làm dễ sự lan tràn những độc tố
được chứa trong ruột. (READER’S DIGEST 8/2007)
9/ CAFEINE BẢO VỆ TRÍ NHỚ CỦA PHỤ NỮ
Sự tiêu thụ ít nhất 3 tách cà phê
(hoặc 6 tách trà) mỗi ngày bảo vệ các phụ nữ trên 65 tuổi khỏi
bị sa sút trí nhớ, so với các phụ nữ uống một tách hoặc ít hơn.
Đó là kết luận của các công trình của đơn vị Inserm 888 «Các
Bệnh lý của hệ thần kinh : nghiên cứu dịch tễ và lâm sàng ». Gần
4.197 phụ nữ và 2.820 đàn ông tuổi 65 hoặc hơn, đã được theo dõi
trong vòng 4 năm. Đối với đàn ông thì không có một hiệu quả nào
có thể định mức được. (LE FIGARO 7/8/2007)
10/ CANNABIS LÀM TĂNG NGUY CƠ MẮC BỆNH TÂM THẦN
PHÂN LIỆT
Theo một công trình nghiên cứu của
viện tâm thần của đại học Zurich thì sự tiêu thụ cannabis làm
tăng mối nguy cơ trở nên tâm thần phân liệt (schizophrène) ”
Trên phương diện phòng ngừa, cannabis có vẻ ít vô hại hơn điều
mà người ta thường nghĩ ”, các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ như thế.
Vai trò của cannabis như là yếu tố nguy cơ đối với các bệnh tâm
thần cần phải được xét lại. Theo những nhà nghiên cứu của công
trình nghiên cứu mà các kết quả đã được công bố trên Site
Internet của tạp chí y khoa “ Schizophrenia Research ” thì những
người đã bị các bệnh tâm thần vì lý do khung cảnh gia đình cần
phải từ bỏ cannabis. Các nhà nghiên cứu này đã nêu lên một sự
gia tăng cao những trường hợp tâm thần phân liệt nơi những thanh
niên trong những năm 90. Các trường hợp được nhận thấy ở các
thanh niên 15-19 tuổi được nhân lên gấp 3 và những thanh niên
20-24 tuổi được nhân lên gấp 2. Theo nghiên cứu thì chính những
thanh niên trong những lứa tuổi này là tiêu thụ cannabis nhiều
nhất. (METRO 25-26/7/2007)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
( 9/8/2007)
Trở về Trang Chính
|