Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

E-Mail: bsnguyenvanthinh@khoahoc.net

16 tháng 08 năm 2007

1/ CHỈ CẦN MỘT PROTEINE CŨNG CÓ THỂ TIÊN ĐOÁN ĐƯỢC CÁC NGUY CƠ TỬ VONG

            Bằng cách định lượng protéine C trong máu của những bệnh nhân bị bệnh nhiễm trùng nặng, các nhà nghiên cứu hy vọng nhận biết những trường hợp bệnh nặng nhất.

         Phải chăng chỉ cần định lượng trong phòng xét nghiệm protéine C là có thể tiên đoán được nguy cơ tử vong của những bệnh nhân bị nhiễm trùng nặng ? Mục đích : nhận dạng những bệnh nhân yếu ớt nhất và điều trị họ một cách đặc hiệu hơn. Protéine C là một chất chống đông được cơ thể tổng hợp trong trường hợp có phản ứng viêm nhưng nếu phản ứng viêm trở thành mãn tính thì sự tổng hợp protéine C phần nào bị thiếu hụt.. Lần đầu tiên các nhà nghiên cứu của đại học Friedrich Schiller của Jena ( Đức) đã phân tích mối liên hệ giữa nồng độ của protéine trong máu và các loạn chức năng của những cơ quan chủ yếu (phổi, gan, thận..) trên 312 bệnh nhân được đưa vào phòng hồi sức sau một phẫu thuật ngoại khoa. Kết quả : Tỷ lệ tử vong 4 lần cao hơn ở những bệnh nhân có nồng độ protéine C thấp. Những điều được quan sát này “ trong bất cứ trường hợp nào cũng không được lý giải như là một mối liên hệ nhân quả “. Giáo Sư Didier Payen, Bệnh Viện Lariboisière, Paris đã phát biểu như vậy. Chỉ có những nghiên cứu sâu hơn mới có thể cho phép kết luận về tính hiệu quả của sự định lượng này. Một công ty tư nhân đã theo đường hướng này và đã phát triển một xét nghiệm cho kết quả nhanh chóng. (SCIENCE ET VIE 8/2007)

 

2/ CÓ ANH (EM) SINH ĐÔI LÀM KHẢ NĂNG SINH SẢN BỊ GIẢM

        
Khi những trẻ sinh đôi có giới tính đối nghịch nhau, thì khả năng sinh sản của trẻ sinh đôi gái bị giảm nếu trẻ sinh đôi kia có giới tính nam.Việc giảm khả năng sinh sản này là do thai nhi giới tính nữ bị tác dụng của testostérone của thai nhi giới tính nam trong thời kỳ thai nghén. Ngược lại, thai nhi sinh đôi giới tính nam không bị ảnh hưởng bởi oestrogène của em gái (hay chị) sinh đôi. Giả thuyết này là kết quả của phân tích các thai sinh đôi được thống kê trong 5 giáo xứ vùng thôn quê của Phần Lan từ năm 1734 đến 1888, là thời kỳ mà các dữ kiện không bị ảnh hưởng bởi kế hoạch ngừa thai. Nhóm của nhà nghiên cứu Virpi Lummaa (đại học Sheffield Vương Quốc Anh) quan tâm đến những trẻ song đôi được nuôi nấng cùng nhau hoặc được tách rời ra, như thế loại bỏ ảnh hưởng của giáo dục. Trong cả hai trường hợp, nhóm nghiên cứu đã tính toán rằng các trẻ song sinh giới tính nữ chung đụng với những trẻ song sinh giới tính nam trong tử cung có xác suất con cháu bị giảm 25% so với các trẻ song sinh nữ chung đụng với những trẻ song sinh cùng giới tính. Ngoài ra những trẻ song sinh nữ này khi lớn lên sẽ có trung bình 2 con ít hơn. (SCIENCE ET VIE 8/2007)


3/ ĂN QUÁ NHIỀU GAN MỞ SẼ CÓ HẠI CHO TRÍ NHỚ?

         Tin tức gây chấn động và lo âu cho những người thích ăn gan mỡ. Các nhà nghiên cứu của Hoa Kỳ của Đại Học Tennesse cho rằng việc tiêu thụ gan mỡ sẽ làm dễ các bệnh thoái hóa thần kinh. Đừng hoảng sợ : nghiên cứu của các nhà nghiên cứu chỉ được thực hiện trên loài chuột bị biến đổi về mặt di truyền để làm phát sinh các bệnh này. Ở các động vật loài gậm nhấm, các protéines amyloides được chứa trong gan mỡ,  lắng đọng trong vài cơ quan trong đó có não bộ. Thế mà chính các protéines amyloides này, lúc tạo thành các chất lắng đọng bất thường chung quanh các neurone đã gây nên sự phá hủy chúng. Vậy các protéines này là nguồn gốc của bệnh Alzheimer. Từ đó các nhà nghiên cứu nảy ra ý nghĩ rằng gan mỡ sẽ làm dễ bệnh Alzheimer nơi những người có tiền sử gia đình về bệnh này. Nhưng tính đến hôm nay sự suy luận này không dựa trên một điều tra dịch tễ học nào cả. Mặt khác, chuột được sử dụng bị biến đổi về mặt di truyền (transgénique) và do đó dẫu thế nào chăng nữa cũng phát triển các bệnh thoái hóa thần kinh. (SCIENCE ET VIE 8/2007)

 

4/ TIÊM CÁC TẾ BÀO CƠ ĐỂ ĐIỀU TRỊ CHỨNG SÓN ĐÁI CHO NHỮNG KẾT QUẢ ĐẦU TIÊN ĐÁNG PHẤN KHỞI

         Được phát triển ở Innsbruck (Áo), phương pháp điều trị này nhằm trích lấy một vùng cơ nhỏ ở cẳng tay, sau đó nuôi cấy những tế bào này rồi tiêm chúng trở lại vào cơ vòng bàng quang.

          63 bệnh nhân đã tham gia vào công trình nghiên cứu này, trong đó 42 người nhận các tế bào và 21 người chỉ nhận collagène để lấp đầy vùng bị thương tổn. Tất cả các bệnh nhân đều được tái huấn luyện phục hồi chức năng. Kết quả : 90% những bệnh nhân của nhóm thứ nhất không còn bị són đái sau một năm so sánh với dưới 10% trong nhóm thứ hai. Chẳng bao lâu nữa phương pháp này có thể được đề nghị cho những bệnh nhân mà những điều trị theo phương pháp cổ điển bị thất bại. (SCIENCE ET VIE 8/20007)

 

5/ MỘT MINICAMERA CHO THẤY CÁC THƯƠNG TỔN UNG THƯ TRONG LÚC GIẢI PHẪU

         Được sử dụng trong phòng mổ, một máy quay phim thu nhỏ có khả năng phát hiện những thương tổn ung thư đã được hiệu chính bởi các nhà nghiên cứu của Viện quốc gia Vật lý Nguyên tử của CNRS. Máy quay phim này cho phép hướng dẫn các động tác của phẫu thuật viên bằng cách phát hiện các sóng gamma đuợc phát ra từ các thương tổn ung thư trước đó đã được đánh dấu bằng một nguyên tố phóng xạ. Với một thị trường 13cm2, máy quay phim có thể được đặt tiếp xúc với vùng cần phải mổ. Như vậy, máy quay phim thu nhỏ này cho phép định vị một cách chính xác các tổ chức khối u, thực hiện sự cắt bỏ hoàn toàn khối u và xác nhận không còn hoạt động phóng xạ còn sót lại sau khi cắt bỏ ung thư. Được thử nghiệm ở bệnh viện Tenon (Paris) trên 100 bệnh nhân bị ung thư vú, máy quay phim thu nhỏ này mang lại những kết quả rất tốt trong việc nhận dạng «các hạch biên phòng» (ganglions sentinelles), nghĩa là giai đoạn đầu của di căn. (SCIENCE ET VIE 8/2007)

 

6/ MỘT CHIẾC CHÌA KHÓA CỦA KHẢ NĂNG SINH SẢN NAM GIỚI
        
Một nhóm nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia (CNRS) vừa nhận diện một yếu tố chủ chốt mới góp phần vào việc làm trưởng thành sinh dục trên chuột có giới tính nam : protéine SHP. Những công trình này mở ra những triễn vọng nghiên cứu mới để cải thiện sự sản xuất tinh trùng. Nhất là ở những người có rối loạn về khả năng sinh đẻ (fertilité).

          Nhóm nghiên cứu của viện di truyền học và sinh học phân tử và tế bào của CNRS thuộc đại học Louis Pasteur của Strasbourg (cộng tác với những nhà nghiên cứu của đại học Dallas và đại học Louvain) đã nghiên cứu vai trò của protéine này. Để thực hiện điều này nhóm nghiên cứu đã hiệu chính 2 mẫu chuột. Mẫu thứ nhất có protéine SHP và mẫu thứ 2 thì không có. Kết quả rất đáng ngạc nhiên : các chú chuột không có protéine SHP đã có khả năng sinh sản khoảng một tuần sớm hơn các chú chuột chứng ! Một sự khác nhau đáng kể. Vì lẽ theo quy tắc chung các chú chuột nam trưởng thành sinh dục ngay tuần thứ 7 và 8. Ngoài ra, các chú chuột không có SHP cũng đã sản xuất nhiều testostérone hơn, dẫn đến sự trưởng thành sớm các tính chất sinh dục sơ cấp.

        Cần có những nghiên cứu bổ sung trước khi có thể hiểu được toàn thể các cơ chế can dự vào trong quá trình thành thục sinh dục của các thiếu niên.(READER’S DIGEST 7/2007)


 

7/ CHỨNG BÉO PHÌ CÓ ẢNH HƯỞNG MẠNH LÊN TRÍ NHỚ

       Việc thặng dư thể trọng có hại cho quá trình nhận thức. Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu của CNRS và của INSERM (Toulouse) được tiến hành trên 2223 người trưởng thành chịu những trắc nghiệm về trí nhớ, khả năng chú ý và tốc độ xử lý thông tin. Nguyên nhân là do những vấn đề huyết quản gây nên bởi chứng béo phì hoặc tác dụng trực tiếp của những chất được tiết ra bởi các tế bào mỡ lên trên các neurone.  (READER’S DIGEST 7/2007)

 

8/ XƠ GAN VÀ TÍNH MỎNG MANH CỦA RUỘT NON

          Tất cả các bệnh nhân bị xơ gan đều có thành ruột non mỏng manh. Từ trước đến nay người ta cho rằng tính chất mỏng manh của hàng rào ruột non này là một trong những hậu quả của bệnh xơ gan. Thế mà Laurent Ferrier thuộc INRA (Toulouse) vừa chứng tỏ ở loài chuột rằng không phải như thế mà ngược lại! Quả vậy, trong quá trình tiêu hóa, các vi khuẩn cấu thành hệ khuẩn ruột làm thoái biến một phần lớn rượu thành acétaldehyde. Sự thoái biến gây nên sự hoạt hóa các mastocyte. Khi đó những tế bào này phóng thích những chất làm thương tổn ruột non. Do đó ruột non trở nên dễ thẩm thấu, để các chất độc tự nhiên trong ruột non đi vào trong máu. Và chính những độc tố này làm trầm trọng căn bệnh của bệnh nhân. Như vậy xơ gan có thể do 2 cơ chế xảy ra đồng thời : sự hiện diện trong máu của éthanol và tác dụng của những vi khuẩn, lúc làm thoái biến ruợu làm thương tổn ruột non và do đó làm dễ sự lan tràn những độc tố được chứa trong ruột. (READER’S DIGEST 8/2007)
 


9/ CAFEINE BẢO VỆ TRÍ NHỚ CỦA PHỤ NỮ

           Sự tiêu thụ ít nhất 3 tách cà phê (hoặc 6 tách trà) mỗi ngày bảo vệ các phụ nữ trên 65 tuổi khỏi bị sa sút trí nhớ, so với các phụ nữ uống một tách hoặc ít hơn. Đó là kết luận của các công trình của đơn vị Inserm 888 «Các Bệnh lý của hệ thần kinh : nghiên cứu dịch tễ và lâm sàng ». Gần 4.197 phụ nữ và 2.820 đàn ông tuổi 65 hoặc hơn, đã được theo dõi trong vòng 4 năm. Đối với đàn ông thì không có một hiệu quả nào có thể định mức được. (LE FIGARO 7/8/2007)

 

10/ CANNABIS LÀM TĂNG NGUY CƠ MẮC BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT

          Theo một công trình nghiên cứu của viện tâm thần của đại học Zurich thì sự tiêu thụ cannabis làm tăng mối nguy cơ trở nên tâm thần phân liệt (schizophrène) ” Trên phương diện phòng ngừa, cannabis có vẻ ít vô hại hơn điều mà người ta thường nghĩ ”, các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ như thế. Vai trò của cannabis như là yếu tố nguy cơ đối với các bệnh tâm thần cần phải được xét lại. Theo những nhà nghiên cứu của công trình nghiên cứu mà các kết quả đã được công bố trên Site Internet của tạp chí y khoa “ Schizophrenia Research ” thì những người đã bị các bệnh tâm thần vì lý do khung cảnh gia đình cần phải từ bỏ cannabis. Các nhà nghiên cứu này đã nêu lên một sự gia tăng cao những trường hợp tâm thần phân liệt nơi những thanh niên trong những năm 90. Các trường hợp được nhận thấy ở các thanh niên 15-19 tuổi được nhân lên gấp 3 và những thanh niên 20-24 tuổi được nhân lên gấp 2. Theo nghiên cứu thì chính những thanh niên trong những lứa tuổi này là tiêu thụ cannabis nhiều nhất. (METRO 25-26/7/2007)



                                               BS NGUYỄN VĂN THỊNH
                                                     ( 9/8/2007)

 

Trở về Trang Chính