Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

E-Mail: bsnguyenvanthinh@khoahoc.net

17 tháng 01 năm 2008

1/ REBECCA LEE CRUMPLER, NGƯỜI PHỤ NỮ THẦY THUỐC DA ĐEN ĐẦU TIÊN CỦA HOA KỲ.
         Đối với một phụ nữ, trở thành thầy thuốc trong suốt những thế kỷ vừa qua là cả một chiến công. Huống hồ lại chọn y khoa làm nghề nghiệp khi bạn là một phụ nữ da đen ở Hoa Kỳ vào thế kỷ thứ XIX, vào lúc mà chế độ nô lệ đang còn hiện hành ?

         Rebecca Davis Lee Crumpler sinh năm 1831 trong một gia đình của những người nô lệ được giải phóng trong tiểu bang Delaware, một tiểu bang theo chế độ nô lệ, vẫn ở trong Hiệp Chủng Quốc nhưng chỉ phê chuẩn tu chính án thứ 13 của hiến pháp (1865) hủy bỏ chế độ nô lệ 40 năm sau… Năm 1852, gia đình bà dời về Massachusetts , ở đây Rebecca làm việc như nữ y tá trong 9 năm mặc dầu đã không được đào tạo thật sự, bởi vì trường y tá đầu tiên chỉ ra đời vào năm 1873. Có lẽ chúng ta sẽ không biết gì về Rebecca nếu bà đã không xuất bản vào năm 1883 một cuốn sách : Book of Medical Discourses in Two Parts.


MỘT VĂN BẰNG BÁC SĨ CHO NGƯỜI CON GÁI CỦA NHỮNG NGƯỜI NÔ LỆ DA ĐEN.

          Theo vài dữ kiện về tiểu sử được ghi lại trong sách của bà, thiên chức nghề nghiệp được nảy sinh là do bà đã được dạy dỗ bởi một ông chú sống ở Pennsylvania. Ông này đã cống hiến cuộc đời mình để săn sóc các người bệnh và những người bị thương trong vòng thân cận. Năm 1859, Rebecca Lee được nhận vào New England Female Medical College de Boston, trường y đầu tiên dành cho phụ nữ được thành lập năm 1848 bởi BS Israel Talbot. Việc được thu nhận này là hoàn toàn không bình thường bởi vì vào thời kỳ đó không có một trường y nào sẽ chấp nhận những người chủng tộc châu Phi. Bà vào học được là nhờ các bức thư gởi gắm của các thầy thuốc mà bà đã làm việc trước đây với tư cách là nữ y tá.

          Nhưng việc học của bà không hẳn là một dòng sông êm ả. Khi cuộc nội chiến bùng nổ năm 1861, bà buộc phải ngừng học. Bà trở lại Boston năm 1863 nhưng ở đó bà không được một sự nâng đỡ về tài chánh nào cả. May mắn thay, bà đã thắng được một giải do một cơ quan cứu trợ tổ chức. Cơ quan này được thành lập bởi Benjamin Wade, một người theo chủ trương hủy bỏ chế độ nô lệ ở Ohio, và nhờ tiền thưởng thu được này, sau đó bà đã có thể tiếp tục theo đuổi công việc đào tạo của mình.

         Bà nhận được văn bằng năm 1864… một năm trước khi chế độ nô lệ được bãi bỏ. Rebecca Lee David là người phụ nữ thầy thuốc da đen đầu tiên của Hoa Kỳ. Bà cũng là người phụ nữ da đen duy nhất đã tốt nghiệp trường y dành cho các phụ nữ ; trường này đóng cửa vào năm 1873.


MỘT KINH NGHIỆM VỀ Y KHOA ĐƯỢC CÔNG BỐ.

           Sau khi tốt nghiệp, BS David hành nghề ở Boston cho đến năm 1865, bà chuyên tâm vào các bệnh của phụ nữ và trẻ em. Cũng cần phải nói rằng các bệnh phụ nữ và trẻ em khi đó là một lãnh vực mà các thầy thuốc nam chấp nhận dành cho các thầy thuốc nữ, lúc đầu luôn luôn với sự dè sẻn và trong những lãnh vực thứ yếu đối với các thầy thuốc nam…Vào năm 1865, bà cưới Arthur Crumpler. Sau đó bà đi làm việc ở Richmond, nơi bà xem như là « vùng đất sứ mệnh tạo nhiều cơ hội để học hỏi điều trị các bệnh của phụ nữ và trẻ em ». Ở đó bà theo cùng các thầy thuốc nam da đen khác để săn sóc toàn bộ dân nô lệ cũ đã không được phép nhận điều trị trong miền nam rất phân biệt chủng tộc vào thời kỳ ngay sau nội chiến.
         Năm 1869 bà trở lại Boston ; ở đây bà hành nghề tại nhà, điều trị và nhất là cho những lời khuyên về dinh dưỡng cho các phụ nữ và trẻ em nghèo khó nhất. Năm 1883, bà đã cho xuất bản những ghi chép được viết lúc bà bắt đầu làm việc    : Book of Medical Discourses in Two Parts. Như vậy tài liệu xuất bản y học thật sự đầu tiên hết, được viết bởi một thầy thuốc da đen Hoa Kỳ, là tác phẩm của một phụ nữ. Cuốn sách này có thiên hướng về y tế công cộng bởi vì được viết với mục đích dạy cho các phụ nữ làm thế nào để tự săn sóc chính mình cũng như các con cái của họ.

          Rebecca Crumpler mất năm 1895.

          Một tổ chức mang tên bà được thành lập năm 1989 để khuyến khích các phụ nữ da đen theo nghề y ; vinh dự này nhằm xóa bỏ sự việc tên bà đã bị rơi vào quên lãng. Thật vậy, trong một thời gian rất lâu, khi người ta nêu tên người thầy thuốc phụ nữ da đen đầu tiên thì không phải là tên của bà, mà chính là tên của một bạn đồng nghiệp nữ gần như đương thời, Rebecca J.Cole đã chiếm niềm vinh dự đó. Bà này thật ra chỉ tốt nghiệp hai năm sau đó.LA SEMAINE MEDICALE 8/11/2007)


2/ REBECCA J.COLE
        Rebecca J.Cole sinh năm 1846 ở Philadelphia, Pennsylvania. Bà tiếp nhận giáo dục trung cấp ở Institute for Coloured Youth, một trường dành cho các học sinh da đen. Pensylvania là một tiểu bang ở đó chế độ nô lệ được hủy bỏ rất sớm, bởi những người theo giáo phái Quaker, ngay vào thế kỷ thứ XVIII, nhưng mặc dầu thế những người da đen không được phép học cùng trường với những người da trắng.


ĐƯỢC ĐÀO TẠO BỞI MỘT NHÂN VẬT CÓ TÊN TUỔI CỦA TRƯỜNG Y DÀNH CHO PHỤ NỮ.

         Năm 1863, bà vào học tại Woman’s Medical College de Pensylvanie, một trường đào tạo các thầy thuốc phụ nữ khác. Bà tốt nghiệp năm 1867 với đề tài luận án “ Con mắt và các phần phụ ”.

          Sau đó bà được bổ nhiệm làm thầy thuốc thường trú (médecin résident) tại bệnh viện dành cho phụ nữ và trẻ em của Nữu Ước ( New York Infirmary for women and children) được sáng lập bởi Elisabeth Blackwell, người phụ nữ da trắng đầu tiên đã nhận văn bằng bác sĩ. Ngoài công việc ở bệnh viện (gồm việc đi khám tại gia để săn sóc những bệnh nhân nghèo khổ), Rebecca còn được bổ nhiệm làm visiteur sanitaire. Sứ mạng của visiteur sanitaire là giáo dục y tế các bà mẹ gia đình với mục đích phòng bệnh cho các bà mẹ và trẻ con của họ. Trong phần tiểu sử của mình, BS Blackwell đã nhấn mạnh đến sự tinh tế và ý thức nghề nghiệp mà BS Cole đã thể hiện trong khi hoàn thành vai trò của mình.

MỘT NGHỀ NGHIỆP PHỤC VỤ CHO CÁC PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM

        BS Rebecca đi hành nghề y khoa ở Columbia, Nam Caroline, trước khi trở về Philadelphia để mở phòng mạch tư ở đó. Năm 1873, bà mở Women’s Directory Center nhằm bảo đảm trợ giúp y tế và pháp lý cho các phụ nữ và trẻ em nghèo khó. Năm 1899, bà nhận chức vụ quản lý thượng hạng (superintendante) của hiệp hội quốc gia cứu trợ phụ nữ và trẻ em da den nghèo khó Washington. Một báo cáo hàng năm của hiệp hội nhấn mạnh đến nghị lực, kinh nghiệm, lương tri và sự tinh tế mà bà đã thể hiện trong lúc thi hành chức vụ.
         Rebecca Cole chết năm 1922 sau khi đã hành nghề y khoa gần nửa thế kỷ. 
(LA SEMAINE MEDICALE 8/11/2007)

 

3/ VIỆC PHẢI MỔ DẠ CON ( CESARIENNE) LÀ MỘT YẾU TỐ NGUY CƠ MẮC BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP.

         Những trẻ được sinh ra sau một lần sinh đẻ bằng mổ dạ con nguyên phát (césarienne primaire) thường có những vấn đề về hô hấp nhiều hơn là những trẻ được sinh ra bằng đường tự nhiên hoặc bằng mổ dạ con thứ phát (césarienne secondaire).

         Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu của Đan Mạch, được công bố trên BMJ on-line vào giữa tháng 12 vừa rồi. Các thầy thuốc chuyên khoa Sản người Bỉ đã biết rõ vấn đề này và thường chỉ nhờ đến mổ dạ con nguyên phát trong trường hợp hết sức cần thiết và trong trường hợp sinh đủ tháng mà thôi.

       Anne Kirkeby Hansen và nhóm nghiên cứu của Đại Học Aarhus (Đan Mạch) đã thu lượm các dữ kiện có liên quan đến hơn 34.000 trẻ sơ sinh, sinh ra đời không bị bất thường bẩm sinh, sau một thời kỳ thai nghén từ 37 đến 41 tuần. Các nhà nghiên cứu đã có thể xác lập rằng những trẻ sinh ra đời bằng mổ dạ con nguyên phát (césarienne primaire) thường có tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp cao hơn.  Mặt khác, nguy cơ càng lớn khi việc mổ dạ con này xảy ra sớm trong thời kỳ thai nghén : nguy cơ 4 lần cao hơn sau 37 tuần (10% so với 2,8% sau khi sinh đủ tháng bằng đường tự nhiên), 3 lần cao hơn sau 38 tuần ( 5,1% so với 1,7%) và hai lần cao hơn sau 39 tuần (2,1% so với 1,1%).


MỘT VẤN ĐỀ ĐÃ ĐƯỢC BIẾT ĐẾN.

        Đã từ lâu Giáo Sư Piet Vanhaesebrouck, thầy thuốc chuyên khoa về sơ sinh học ( néonatologue) tại UZGent ( Bỉ) đã gặp phải loại vấn đề này trong kinh nghiệm của ông. “ Thật vậy, những trẻ em này thường bị những vấn đề về hô hấp hơn ( nhịp thở nhanh tạm thời hay hợp chứng phổi ướt ). Nói chung, đó là một tình trạng bệnh tạm thời và ít nghiêm trọng nhưng đôi khi có thể dẫn đến những biến chứng cần phải nhập viện để điều trị. ”
       Trong khung cảnh này, giáo sư thành phố Gand viện dẫn một công trình nghiên cứu đã được công bố năm 2006 trong Archives of Diseases in Childhood. Các tác giả gợi ý rằng cần phải cho phép các sản phụ với  mổ dạ con nguyên phát đã được hoạch định, bắt đầu thời kỳ chuyển dạ, như thế làm cho trẻ được tiếp xúc, trong một khoảng thời gian nào đó, với môi trường hormone đặc thù của sinh đẻ bình thường. Việc tiếp xúc này sẽ có một tác dụng thuận lợi lên sự phát triển của các lá phổi của trẻ sơ sinh. “ Trong lúc chuyển dạ, có sự đảo ngược của tuần hoàn nước ối. Điều này được xảy ra dưới ảnh hưởng của nhiều thay đổi hormone và huyết động học, mà chúng ta chưa hiểu rõ lắm ”
          Trong trường hợp mổ dạ con nguyên phát ( không được đi trước bởi một thời kỳ chuyển dạ cũng như không có vỡ màng ối ), giai đoạn tiếp xúc hormone này không xảy ra. Theo Giáo Sư Piet Vanhaesebrouck, điều này có thể giải thích rằng các lá phổi đã không được chuẩn bị kỹ vào lúc sinh.

          “ Nghiên cứu Đan Mạch chứng tỏ một lần nữa rằng việc đợi cho đến khi thai kỳ đủ tháng hoặc ít nhất cố đợi cho đến khi khi bắt đầu chuyển dạ là điều chủ yếu trước khi nhờ đến mổ dạ con nguyên phát ” , thầy thuốc thành phố Gand đã nhấn mạnh như thế.

         Theo ông, công trình nghiên cứu của Đan Mạch đáng được phổ biến.          “ Chúng ta thường có nhiều khó khăn để thuyết phục các thầy thuốc phụ khoa để họ hoãn mổ dạ con nguyên phát cho đến khi thai đủ tháng. Vả lại công trình nghiên cứu này rất hữu ích về mặt y tế công cộng. Nếu chúng ta có thể tránh được các phẫu thuật mổ dạ con nguyên phát hoặc hoãn chúng lại cho đến cuối thời kỳ thai nghén đã được dự kiến, điều này sẽ cho phép giảm số lần nhập viện.”, thầy thuốc chuyên khoa sơ sinh học đã kết luận như vậy. ( LE JOURALDU MEDECIN 8/1/2008)
        
       
 

4/ MỘT CUỘC SỐNG LÀNH MẠNH LÀM GIA TĂNG TUỔI THỌ 14 NĂM.

        Không hút thuốc, uống ít rượu, ăn trái cây và rau xanh và tập thể dục đều đặn..4 quy tắc đơn giản để kéo dài tuổi thọ.

       Nhiều công trình điều tra đã chứng tỏ rằng nghiện thuốc lá cũng như uống rượu quá độ làm rút ngắn cuộc đời. Người ta cho rằng ăn trái cây và rau xanh đều đặn và tập thể dục là điều tốt. Nhưng chưa có ai đã tính toán những điều lợi ích từ một lối sống có những tập tính như thế.
        Từ nay đó là điều đã được thực hiện, bởi vì một nhóm các nhà nghiên cứu của đại học Cambridge (Vương Quốc Anh), cùng với Medical Research Council đã chú ý đến vấn đề này và đã tiến hành trong 14 năm một điều tra cho phép xác nhận rằng lối sống được xem là lý tưởng này (ít nhất là về mặt y tế) sẽ làm gia tăng tuổi thọ 14 năm, so với những người có tất cả những yếu tố nguy cơ cộng lại. Công trình của các nhà nghiên cứu được công bố tuần này trong tạp chí Public Library of Science Medicine.

         Để đạt được kết quả này, các nhà nghiên cứu của Cambridge vào năm 1993 đã bắt đầu theo dõi 20.244 người, đàn ông và phụ nữ, tuổi từ 45 đến 79 tuổi, sau khi đã tra cứu về lối sống của họ. Mỗi người tham gia được nhận một điểm số (score) một điểm đối với mỗi tập tính có lợi về mặt sức khỏe ( không hút thuốc = 1 điểm, uống rượu ít (1/2 ly mỗi ngày) = 1 điểm, cũng như ăn 5 trái cây và rau xanh mỗi ngày (1 điểm) và tập thể dục nửa giờ mỗi ngày (1 điểm).Vào năm 2006, các nhà điều tra đã có thể ghi nhận được 1987 tử vong trong số 20.000 người tình nguyện này và đã đặt mối tương quan giữa thời gian sống của mỗi người với lối sống của họ.


TỶ LỆ TỬ VONG DO TIM BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI LỐI SỐNG.

         Các kết luận đã được dự kiến, tuy nhiên chúng mang lại nhiều lời giải thích rõ ràng về những hậu quả về mặt y tế của một lối sống lành mạnh. Đối với những người không có điểm nào, nghĩa là có đủ tất cả 4 tập tính có hại (hút thuốc, uống rượu nhiều, không ăn trái cây và rau xanh, không tập thể dục), nguy cơ tử vong được nhân lên 4,4 lần, so với những người có điểm số 4. Nguy cơ tử vong lần lượt được nhân lên 2,52 , 1,95 và 1,39 đối với những người tôn trọng một (1điểm), hai (2 điểm) hoặc ba (3 điểm) tập tính có lợi về mặt sức khỏe.
        Với tất cả các dữ kiện này, các nhà nghiên cứu cũng đã tính toán rằng một người 60 tuổi có tất cả các tập tính có nguy cơ (comportements à risques)           (nghĩa là không có một điểm số nào) có cùng nguy cơ tử vong như một người 74 tuổi có điểm số 4 (nghĩa là không có một yếu cố nguy cơ nào được nêu trên đây). Nhìn toàn bộ, trong nhóm người được theo dõi bởi các nhà nghiên cứu này, các khả năng sống sót là 95% đối với những người có một cuộc sống hoàn toàn “ lành mạnh ”, so với 75% đối với những người có nhiều tập tính có nguy cơ. “ Có một sự giảm dần rõ rệt nguy cơ tử vong với sự gia tăng của những tập tính dương tính. Những người tôn trọng 4 tập tính có lợi, có nguy cơ tử vong ¼ ít hơn so với những người không tôn trọng một tập tính nào cả, điều này tương đương với một dị biệt 14 năm hy vọng được sống thêm, các tác giả kết luận như thế.Tỷ lệ tử vong do tim (mortalité cardiaque) có vẻ bị ảnh hưởng nhất bởi lối sống ”.

        “ Đây là lần đầu tiên người ta phân tích hiệu quả kiêm nhiệm của các yếu tố nguy cơ lên tỷ lệ tử vong, giáo sư Kay-Tee Khaw, tác giả công trình nghiên cứu trên site Internet của BBC đã giải thích như thế. Chúng ta cũng đã chứng tỏ rằng nguồn gốc xã hội hay thể trọng chỉ ảnh hưởng rất ít lên nguy cơ tử vong. Một bộ phận lớn của dân chúng có thể rút được nhiều lợi ích về mặt y tế bằng cách thay đổi có mức độ lối sống ” .

          Như vậy mặc dầu không sử dụng một viên thuốc nào, chúng ta vẫn có thể kéo dài tuổi thọ.Vấn đề là xem có thể thuyết phục các đồng hương của chúng ta để họ thay đổi lối sống để được sống lâu hơn và nếu họ muốn sống già hơn thì họ phải tự nhịn bớt một vài lạc thú của trần gian.( LE FIGARO 9/1/2008)


        
5/ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỨNG NGHIỆN THUỐC LÁ VÀ TỰ TỬ ?

         Có một mối quan hệ đáng lo ngại giữa chứng nghiện thuốc lá và nguy cơ tự tử, các nhà nghiên cứu người Đức trong một công trình nghiên cứu được công bố trong một tạp chí chuyên môn « Journal of Affective Disorders » đã gợi ý như vậy.

       Những lời cảnh cáo mà ai cũng đã biết rõ trên những bao thuốc lá , như       « Hút thuốc làm chết người » hay « Hút thuốc gây ung thư », rồi một ngày nào đó lại thêm một thông điệp « Hút thuốc gia tăng nguy cơ tự tử ».

       « Các chiến dịch chống nghiện thuốc lá cũng phải nhấn mạnh đến nguy cơ cao có những ý tưởng tự tử (pensées suicidaires) nơi những người hút thuốc ngẫu nhiên hay đều đặn », nhóm các nhà nghiên cứu được dưới sự chỉ đạo của Thomas Bronisch đã xác nhận như vậy. Các công trình của họ được căn cứ trên các dữ kiện của một nghiên cứu tâm lý học được phát động vào năm 1995 nơi 3.021 thanh niên Munich tuổi từ 14 đến 24 tuổi, được theo dõi trong 3 năm rưỡi. Khoảng ¼ trong số những thanh niên này đã không bao giờ hút thuốc lá. Số còn lại là người người hút thuốc ngẫu nhiên (40%), những người hút thuốc đều đặn (17%), những người hút thuốc đều đặn “ không nghiện ” (17%) và những người nghiện hút thuốc (19%).

         Trong số những người không hút thuốc (non-fumeurs), khoảng 15% đã báo cáo là đã có những ý tưởng tự tử (được định nghĩa như là có kế hoạch tự sát hoặc mong muốn được chết trong hai tuần hoặc hơn). Con số này đạt đến khoảng 20% nơi những người hút thuốc ngẫu nhiên (fumeurs occasionnels) và những người hút thuốc không nghiện (fumeurs non dépendants) và 30% nơi những người nghiện hút thuốc (fumeurs dépendants).
         Mối liên hệ càng rõ nét hơn khi người ta xét đến những toan tính tự tử (69). Chỉ 0,6% những người không hút thuốc đã báo cáo là đã toan tính kết liễu cuộc đời, so với tỷ lệ 1,6% nơi những người hút thuốc nhưng không nghiện và 6,4% nơi những người nghiện hút thuốc.

       Những công trình nghiên cứu trước đây đã gợi ý một mối liên kết giữa tự tử và nghiện thuốc lá, nhưng không trả lời được câu hỏi là nghiện thuốc lá là nguyên nhân hay chỉ là triệu chứng.

      Các nhà nghiên cứu người Đức đã công nhận rằng các công trình của họ có nhiều hạn chế.Trước hết, trong thời gian công trình nghiên cứu đã không có trường hợp tự tử nào đã được ghi nhận, và vì vậy công trình này dựa trên những ý tưởng tự tử và những toan tính tự tử. Ngoài ra, vài người trong số những người tham gia còn là những thiếu niên trẻ tuổi, vào cuối công trình, đã chưa qua hết thời kỳ được xem là có nguy cơ tự tử nơi giới trẻ.  ( METRO 11/1/2008)

 

6/ ÁNH NẮNG MẶT TRỜI CÓ LỢI LÀ CHỮA LÀNH MỘT SỐ  BỆNH UNG THƯ NỘI TẠNG.

         Lợi ích về mặt sức khỏe của việc phơi nắng có chừng mực của những người bị thiếu vitamine D là cao hơn nguy cơ bị ung thư da gây nên bởi sự phơi nắng này. Những người sống trên những vĩ độ của quả địa cầu có nhiều ánh nắng hơn và do đó có nồng độ vitamine D trong máu của họ cao hơn, sẽ có nguy cơ chết vì một ung thư nội tạng thấp hơn nhiều, so với những người sống về phía Bắc, theo một nghiên cứu được công bố trong “ Annales de l’Académie nationale américaine des sciences ”. Tỷ lệ mắc phải ung thư đại tràng, ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt gia tăng khi đi từ bắc xuống nam, nhưng tỷ lệ sống sót (taux de survie) ở phương Nam sẽ cao hơn ở phương Bắc.( METRO 11/1/2008)

 

7/ NÃO BỘ CÓ HIỆU NĂNG LÂU DÀI HƠN CHÚNG TA TƯỞNG

     Não bộ con người vẫn hiệu năng lâu dài hơn là điều mà các lý thuyết hiện nay đánh giá, theo một công trình nghiên cứu mới đây được công bố trên           “ Sunday Times ”. Các khả năng sẽ không bị suy yếu vào lúc 30 tuổi những vẫn ổn định và ngay cả được gia tăng trong một vài trường hợp. Nghiên cứu mới, được chỉ đạo bởi nhà tâm lý học Mars Larsen của đại học Đan Mạch Aalborg, căn cứ trên những trắc nghiệm thương số thông minh ( tests de QI) được thực hiện hai lần trên những quân nhân Mỹ, một lần đầu trong thời kỳ thanh niên, và lần thứ hai vào 20 năm sau đó. Một nghiên cứu sâu các kết quả cho phép nghĩ rằng ý tưởng về một đỉnh cao trí thông minh (pic d’intelligence) xảy ra từ 19 đến 26 tuổi, là sai lầm.Trái lại, trí thông minh vẫn ổn định trong suốt cả cuộc đời.
Những khả năng tính toán không bị suy giảm, trong khi đó vài khả năng về ngôn từ (capacité verbale) có khuynh hướng được cải thiện với tuổi tác. Điều chứng nhận này tương phản với những công trình nghiên cứu căn cứ trên những scanner của não bộ, trong đó sự biến mất của các neurone được phát hiện bắt đầu từ khoảng 30 tuổi.( METRO 11/1/2008)

 

TẤM GƯƠNG ĐƯỢC DÙNG ĐỂ CHỐNG LẠI CƠN ĐAU MA (DOULEUR FANTOME ) .

       Một vài người bị cắt cụt một chân có cảm giác đau đớn trong vùng cơ thể bị cắt cụt. Nhờ những buổi “ bước theo gương ” (marche au miroir), theo nhịp độ 15 phút mỗi ngày, 5 ngày mỗi tuần, những cơn đau đớn thường dữ dội của chi ma (membre fantome) này có thể được giảm bớt trong một tháng, theo những kết quả thu được nơi khoảng 20 lính Mỹ trở về từ Irak. Mục đích của kỹ thuật là yêu cầu người thương binh xê dịch bằng chân còn nguyên vẹn, đồng thời nhìn ánh phản chiếu của chi đó trên gương. Sự giảm đau đớn là do sự hoạt hóa các vùng não thị giác (zones cérébrales visuelles) bởi hình ảnh của chi nguyên vẹn được phản chiếu trong gương. ( SCIENCES ET AVENIR 1/2008)

 

9/CÁC SÓNG TỪ CHỐNG LẠI BỆNH TRẦM CẢM.

         Mặc dầu các tranh cãi, các xung động từ (impulsions magnétiques) tỏ ra có hiệu quả và không nguy hiểm trong điều trị bệnh trầm cảm thể nặng, mà 20 đến 40% các trường hợp không đáp ứng với các thuốc chống trầm cảm hoặc với tâm lý trị liệu pháp.Trái với sốc điện (électrochoc) chuyển đi một dòng điện cường độ mạnh trong toàn não bộ, sự kích thích bằng sóng từ xuyên sọ (stimulation magnétique transcranienne : STM) đặt một từ trường trên một vùng đặc biệt.Trong số 325 bệnh nhân của công trình nghiên cứu được lãnh đạo bởi John 0’Reardon (Pensylvanie), 155 bệnh nhân được điều trị bởi STM trong 6 tuần, trong khi những bệnh nhân khác nhận một điều trị giả.Tỷ lệ thuyên giảm hai lần cao hơn nơi những bệnh nhân được điều trị bởi STM so với nhóm nhận điều trị giả.( SCIENCE ET VIE 1/2008)

 

10/ BỆNH THIẾU CHÚ Ý ( DEFICIT D’ATTENTION) Ở TRẺ EM : NGUYÊN NHÂN DO THIẾU SẮT ?

          Bệnh thiếu chú ý ( déficit d’attention), rối loạn có liên quan đến 5% - 10% các trẻ em ở tuổi học đường, là do sự loạn chức năng của vài chất dẫn truyền thần kinh ( dopamine, noradrénaline…). BS Eric Konofal và nhóm nghiên cứu của ông thuộc bệnh viện Robert-Debré đã tự hỏi về lợi ích điều trị của một liều lượng bổ sung sulfate de fer nơi các trẻ em này. Họ đã chứng tỏ rằng 84% các trẻ bị rối loạn này có nồng độ ferritine dưới mức bình thường. Trong một nghiên cứu nhỏ, các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ rằng sắt có thể cải thiện một cách đáng kể tình trạng lâm sàng của những trẻ được điều trị, trái với những trẻ chỉ đã nhận một placebo.( PARIS MATCH, 3/1-9/1/2008)



                               BS NGUYỄN VĂN THỊNH
                                           ( 12/1/2008)

 

Trở về Trang Chính