|
1/ SỰ SỬ DỤNG
BỨC THIẾT INTERNET LÀ MỘT RỐI LOẠN TÂM THẦN THẬT SỰ.
Ít nhất đó là ý kiến cua nhà tâm
thần học Hoa Kỳ, BS Jerald Block (Portland, USA), đã viết bài xã
luận trong tờ American Journal of Psychiatry. Ông giải thích
rằng, về mặt khái niệm, ta có thể ghép loại nghiện này vào các
rối loạn xung lực cưỡng bức (troubles impulsifs compulsifs), dầu
đó là sự sử dụng lạm dụng máy vi tính (ordinateur) on line hay
không. Ông phân biệt chứng nghiện internet thành 3 loại phụ :
chơi quá độ, những mối bận tâm về tình dục và e-mail hay « chat
». Tất cả những hành vi này có chung 4 đặc điểm : sự lạm dụng
(thường liên kết với sự mất ý niệm về thời gian hay với sự sao
lãng những nhu cầu cơ bản) ; sự thu rút mình lại (repli sur
soi) (cảm giác sợ hãi, căng thẳng, và/hoặc trầm cảm lúc không
có máy vi tính để sử dụng) ; sự quen (accoutumance) (với nhu
cầu muốn có trang bị informatique tốt hơn, nhiều chương trình
hơn, hay tăng thêm giờ sử dụng); và các hậu quả âm tính (cãi
lộn, nói dối, năng suất thấp, cô lập vẻ mặt xã hội, mệt mỏi).
Thầy thuốc chuyên khoa tâm thần Hoa Kỳ
căn cứ những quan sát của ông từ những thí dụ lấy ở Nam Hàn.
Theo ông, ở đây, những công trình nghiên cứu lý thú về nghiện
internet (cyberaddiction) đã được tiến hành. Sau một loạt 10
trường hợp tử vong do nguyên nhân tim mạch xảy ra trong các quán
café internet và một vụ giết người có liên quan với một cuộc
chơi cờ bạc, đất nước này đã xem việc nghiện ngập mạng Internet
( dépendance au web) như là một trong những vấn đề y tế công
cộng nghiêm trọng nhất. Theo những con số thống kê năm 2006,
chính phủ Nam Triều Tiên ước lượng rằng khoảng 210.000 trẻ em
(6-19 tuổi) có liên quan với loại rối loạn này trên đất nước của
họ và rằng chúng cần phải được điều trị : 80% trong số những trẻ
em này cần phải dùng những thuốc dưỡng thần (psychotropes) và từ
20 đến 24% cần phải được nhập viện.
Ở Nam Hàn, các sinh viên học sinh
trung bình dành 23 giờ mỗi tuần để chơi trên ordinateur, và
người ta ước lượng rằng 1,2 triệu sinh viên học sinh có nguy cơ
bị phụ thuộc (dépendance). Các nhà tâm thần đặc biệt lo âu về sự
gia tăng số những người bỏ học hoặc không đi làm việc nữa để
dành nhiều thời gian hơn cho ordinateur. Chính vì thế, từ tháng
6 năm 2007, Nam Hàn đã tuyển mộ hơn 190 bệnh viện và các trung
tâm điều trị để đảm trách việc điều trị các bệnh nhân này. Các
biện pháp phòng ngừa cũng đã được đưa vào trường học.
Trung Quốc cũng đang quan
tâm về vấn đề này vì ở đây người ta ước tính có hơn 13% các
thiếu niên (hoặc
10 triệu người) hội đủ các tiêu chẩn đoán của chứng nghiện
internet này. Năm 2007, Trung Quốc đã bắt đầu hạn chế việc sử
dụng Internet và đưa ra những đạo luật ngăn cản chơi hơn 3 giờ
mỗi ngày.
Thật đáng ngạc nhiên là chúng ta
thiếu các dữ kiện của Hoa Kỳ về vấn đề này. Phải nói rằng, trái
với châu Á là nơi có rất nhiều các cybercafé, ở Hoa Kỳ, các trò
chơi cờ bạc và tình dục ảo (le sexe virtuel) được thực hiện tại
nhà. Chính sự xấu hổ, sự phủ nhận ngăn cản một đánh giá rõ ràng
về vấn đề này.
« Khoảng 86% những trường hợp nghiện
mạng (addition au Web) kết hợp với một rối loạn tâm thần khác.
Đó là lý do tại sao nếu thầy thuốc không tìm kiếm nguyên nhân
đặc hiệu của tình trạng phụ thuộc Internet, thì không thể chẩn
đoán được ; các bệnh nhân thường đến khám vì có hai tình trạng
bệnh lý kết hợp với nhau »
« Các thầy thuốc gia đình phải có khả
năng nhận biết vấn đề này và, đứng trước các triệu chứng trầm
cảm không giải thích được hoặc đề kháng với điều trị, trước tình
trạng lo âu (anxiété), rối loạn giấc ngủ, thất nghiệp, những vấn
đề đôi lứa hay học đường, hãy hỏi xem bệnh nhân đã dành bao
nhiêu giờ on line », Anna Meennan (đại học Illinois) trong một
bài xã luận của tờ American Family , đề ngày 15/10/2007, đã nêu
nhận xét như thế.
« Bất hạnh thay, sự phụ thuộc mạng đề kháng với điều
trị, dẫn đến những nguy cơ quan trọng và có một tỷ lệ tái phát
cao. Đó là chưa kể đến sự phụ thuộc này cũng làm cho các bệnh lý
cùng xảy ra trở nên ít đáp ứng hơn với điều trị », Jerald Block
đã kết luận như vậy và do đó chủ trương đưa chứng nghiện
Internet này vào trong ấn bản sắp đến của DSM-V.
« Được đưa vào trong một cuốn sách
chuẩn như DSM, đó là một cái gì cực kỳ quan trọng đối với sự
công nhận về mặt lâm sàng và khoa học của rối loạn này, GS Marc
Ansseau ( chuyên khoa tâm thần và tâm lý y học, CHU Liège, Bỉ)
đã bình luận như thế.
Mặc dầu ít có nghiên cứu về vấn
đề này, thầy thuốc tâm thần người Liège công nhận rằng loại
nghiện này đã trở nên một động cơ thăm khám khá thường xuyên. «
Nhất là các thanh thiếu niên đã ngồi nhiều giờ trước Internet.
Điều này làm nhiễu loạn tất cả các khía cạnh khác của đời sống
xã hội, học đường hay nghề nghiệp. Đó là không nói đến những
khía cạnh vật lý : những rối loạn giấc ngủ, rối loạn dinh
dưỡng, rối loạn tâm lý »
Nguồn :
LE
JOURNAL DU MEDECIN 1/4/2008
2/ THỂ DỤC, MỘT THUỐC NHIỆM MẦU
KHÔNG GÌ SÁNH ĐƯỢC
Tại sao các thầy thuốc không dành
nhiều thời gian hơn để giải thích cho các bệnh nhân của họ vai
trò hữu ích của thể dục lên sức khỏe ? Số các bệnh nhân đái
đường, béo phì, cao huyết áp, ung thư, hay trầm cảm có thể được
làm giảm xuống nếu như các người Pháp thuộc mọi lứa tuổi biết
đưa vào trong lối sống của họ, việc thực hiện đều đặn một hoạt
động vật lý.
Điều gợi
ý này không dựa trên một giáo điều về vệ sinh học hay bán quân
sự. Nhưng căn cứ trên một tổng cộng
các công trình khoa học, được tập hợp lại trong một tài liệu gồm
hơn 800 trang, Activité physique, contexte et effet sur la
santé. Công trình này đã được thực hiện và trình bày hôm qua bởi
Viện y tế và nghiên cứu y học quốc gia (Inserm). Một kết luận
chung cần thiết : các bệnh mãn tính (đái đường, các bệnh tim
mạch..) bùng nổ và tấn công vào con người hiện đại, cũng là một
hậu quả của tình trạng không hoạt động (sédentarité), chưa bao
giờ sánh kịp từ thuở khai thiên lập địa.
Một cách
tổng quát, một công trình nghiên cứu rộng rãi của Hoa Kỳ, được
công bố cuối năm 2007 và được thực hiện trên 250.000 người,
chứng tỏ rằng một hoạt động vật lý có cường độ đều (ít nhất 20
phút, 3 lần mỗi tuần) làm giảm nguy cơ tử vong khoảng 30%.
Các hiệu quả của hoạt động vật lý tác
động lên nhiều lãnh vực của cơ thể, nhưng ngăn ngừa một cách đặc
biệt các bệnh liên kết với các thái quá này.
KHÔNG CẦN ĐIỀU TRỊ
Hiệu quả dương tính của việc tập thể
dục được chứng tỏ nhất là trên nguy cơ bệnh tim. Ngoài các tác
dụng khác ra, hoạt động vật lý cải thiện nồng độ cholestérol,
huyết áp và tính dẻo của động mạch. « Một chương trình hoạt động
vật lý có tổ chức làm giảm huyết áp nơi những người bị tăng
huyết áp, các tác giả đã viết như vậy. Việc hoạt động thể dục
cho phép trì hoãn, hoặc thậm chí làm cho việc điều trị bằng
thuốc một bệnh cao huyết áp mới được chẩn đoán, trở thành vô
ích. Một chương trình hoạt động như thế cũng góp phần vào sự cải
thiện profil lipidique với giảm 3,7% nồng độ triglycérides và 5%
nồng độ LDL-cholestérol (cholestérol xấu).
Hoạt động vật lý cũng đã có một vai trò quyết định
trong sự ngăn ngừa bệnh đái đường loại 2 : nó làm giảm gần 60%
nguy cơ bị bệnh đái đường nơi những người có một tố bẩm bị bệnh
này. « Vì lý do này, hoạt động vật lý hiện nay được xem như là
một mục tiêu ưu tiên trong công cuộc chống lại trận đại dịch đái
đường loại 2 ». Ngoài ra, hoạt động vật lý cho phép kiểm soát
trọng lượng cơ thể và chống lại chứng béo phì, bằng cách làm gia
tăng khối lượng cơ và làm giảm khối lượng mỡ .
Hoạt động vật lý cũng đóng một vai
trò quan trọng trong việc làm mạnh cơ và xương, do đó góp phần
vào việc ngăn ngừa sự té ngã của những người già. « Ngày nay
người ta đã chứng tỏ rằng lực cơ có thể được gia tăng nhờ các
chương trình tập luyện, ngay cả ở một lứa tuổi rất cao », các
nhà nghiên cứu đã lập luận như vậy. Ngoài ra, hoạt động vật lý,
do các ứng lực (contraintes) cơ học tác dụng lên khung xương,
kích thích sự tạo thành mô xương và do đó chống lại nguy cơ bị
loãng xương (ostéoporose). Các phụ nữ trên 70 tuổi dạo bước ít
nhất 4 giờ mỗi tuần, có nguy cơ gãy cổ xương đùi giảm 40% so với
những phụ nữ dạo bước dưới 1 giờ mỗi tuần.
Sau cùng phải nhấn mạnh các hiệu
quả trên lãnh vực tâm thần : nhiều công trình đoan chắc rằng sự
thực hiện đều đặn một hoạt động vật lý làm gia tăng mức độ tự
tin. « Việc luyện tập thể dục đều đặn làm giảm sự lo âu của
những người trưởng thành. Nó làm giảm mức độ trầm cảm nơi các
đối tượng rất khác nhau và phải được đề nghị trong mọi thái độ
điều trị của chứng trầm cảm. »
Để được đầy đủ hơn, chúng ta nêu lên những hiệu quả có
lợi của tập thể dục được xem như là một hỗ trợ trong điều trị
các bệnh khác nhau như viêm phế quản phổi tắc nghẽn mãn tính,
các bệnh thấp khớp có viêm hay không, bệnh xơ cứng rải rác, v..v
Phải thực hành loại hoạt động nào ?
Những khuyến nghị của Collège américain de médecine du sport et
des cardiologues américains chủ trương, đối với những người trên
50 tuổi bị các bệnh mãn tính, cùng nhịp điệu với những người trẻ
tuổi nhất : hoặc 30 phút hoạt động vừa phải ( bước nhanh, thể
dục) 5 ngày mỗi tuần, hoặc 20 phút thể dục rất cật lực ( chạy,
bơi...), 3 lần mỗi tuần.
Nguồn :
LE
FIGARO 2/4/2008
3/ MỘT PROTEINE PHONG BẾ VIRUS
CỦA VIÊM GAN C ĐÃ ĐƯỢC NHẬN DIỆN.
Một nhóm các nhà nghiên cứu Mỹ đã
nhận diện một protéine, hiện diện trong cơ thể, có tác dụng
phong bế không cho virus của viêm gan C (VHC) đi vào trong các
tế bào. Trong một bài báo được công bố hòm thư tư 2/4, bởi tạp
chí on line PloS ONE, Laurence Cocquerel và Jean Dubuisson,
thuộc Viện sinh học Lille, giải thích là đã khám phá ra rằng
phân tử này, được gọi là « EWI-2wint », tương tác với một trong
các thụ thể được sử dụng bởi VHC vào lúc khởi đầu của chu kỳ
nhiễm khuẩn.
« Trong lúc trắc nghiệm in vitro, chúng tôi đã chứng
nhận rằng, trong các dòng tế bào mà EWI-2wint và thụ thể này
tương tác với nhau, VHC không thể sử dụng thụ thể này và do đó
không thể làm nhiễm trùng tế bào. Khi không có protéine này, VHC
sẽ liên kết với thụ thể và đi vào bên trong tế bào », Laurence
Cocquerel đã giải thích như thế. Các tế bào gan vì thiếu phân tử
cản EWI-2wint này, do đó virus có thể vào trong tế bào, một hiện
tượng có thể được vận dụng đối với các tác nhân nhiễm trùng
khác.
Khám phá này sẽ mở ra những triển
vọng điều trị quan trọng về lâu dài. các nhà nghiên cứu lưu ý
đến 3 bộ phận của protéine EWI-2wint. « Chúng tôi sẽ thử sản
xuất những dạng hoà tan để xem dạng nào sẽ có cùng những khả
năng cản của protéine toàn thể. », Laurence Cocquerel đã chỉ rõ
như vậy.
Các công trình này đã được hổ trợ
bởi ANRS ( cơ quan quốc gia nghiên cứu bệnh sida và viêm gan do
siêu vi trùng). Khoảng 130 triệu người bị mắc phải viêm gan C
trên thế giới, trong đó một nửa triệu ở Pháp. Trở nên mãn tính
trong 60 đến 80% các trường hợp, viêm gan C có thể dẫn đến xơ
gan và ung thư gan.
Nguồn :
LE
MONDE 3/4/2008)
LE SOIR 3/4/2008
4/ CÁC NỐI KẾT THẦN KINH BỊ ĐỨT
CÓ THỂ ĐƯỢC SỬA CHỮA TRONG NÃO BỘ.
Có thể sửa chữa một não bộ bị thương
tổn sau một chấn thương bằng cách tạo nên các nối kết thần kinh
(connexions neurologiques) mới, với số lượng nhỏ nhưng nhắm đúng
vào trọng điểm, hơn là với số lượng nhiều hơn nhưng không đặc
hiệu. Nhóm nghiên cứu Pháp-Úc của Rachel Sherrard (đại học
Paris-VI và CNRS) đã chứng minh điều đó trên chuột và mô tả
trong một bài báo được công bố hôm thứ ba 1/4, trong tạp chí
Brain.
Lúc trở nên trưởng thành, não bộ của chúng ta mất khả
năng (ngẫu nhiên nơi trẻ em rất nhỏ tuổi) tạo nên những nối kết
neurone mới và do đó mất khả năng phục hồi các chức năng vận
động và không gian sau một thương tổn não bộ. Nhóm nghiên cứu
Pháp-Úc đã chứng tỏ trên một mô hình động vật rằng có thể sữa
chữa não bộ bằng cách tạo nên những nối kết thần kinh mới nơi
người trưởng thành trẻ tuổi sau khi làm thương tổn đường thần
kinh nối liền thân não và tiểu não. Để được như vậy các nhà
nghiên cứu đã sử dụng một peptide hiện diện tự nhiên trong não
bộ ; ở đây peptide này (BDNF : Brain derived neurotrophic
factor) làm dễ sự phát triển của các neurones.
Với nghiên cứu này, nhóm các nhà nghiên cứu mang lại
bằng cớ rằng các đường nối kết thần kinh mới được tạo ra, tương
tác một cách đúng đắn với các tế bào thần kinh nguyên vẹn hiện
diện lúc ban đầu. Các con chuột được xử lý với BDNF sau khi bị
thương tổn đã hoàn thành những công việc di chuyển trong không
gian, chuyển động đồng bộ và ghi nhớ, cũng tốt như những con
chuột bình thường. Sự tái nối kết thần kinh, mặc dầu bị giới hạn
nhưng được thích nghi tốt, cho phép bù trừ những khiếm khuyết
trong những hành vi vận động và không gian phức tạp, các nhà
nghiên cứu đã kết luận như vậy. BDNF như thế có thể là một đường
hướng hứa hẹn đề điều trị các bệnh thoái hóa thần kinh.
Nguồn :
LE
MONDE 2/4/2008
LE SOIR 4/4/2008
5/ CÁC THỢ HỚT TÓC CÓ NGUY CƠ
GIA TĂNG BỊ UNG THƯ BÀNG QUANG.
Việc sử dụng các chất nhuộm
(colorants) và những sản phẩm hoá học khác sẽ gây nên một nguy
cơ gia tăng cho các thợ hớt tóc, theo Trung tâm quốc tế nghiên
cứu về ung thư, có cơ sở ở Lyon. Các công trình nghiên cứu được
thực hiện bởi cơ quan này của OMS đã được báo cáo bởi tạp chí
The Lancet Oncology trong số tháng 4. Một nguy cơ đặc biệt bị
ung thư bàng quang, mặc dầu thấp nhưng có thật, đã được nêu lên
trong báo cáo. Nguy cơ này dường như ở phụ nữ ít rõ rệt hơn. Các
chất hoá học được sử dụng bởi các thợ hớt tóc đã được phân tích.
Trong số các chất này, có những chất như ortho-toluidine, được
sử dụng trong việc chế tạo các sắc tố và được xếp loại là chất
gây ung thư.
Ngược lại, các chuyên gia không xác lập mối liên hệ
với các nguy cơ mắc phải ung thư khả dĩ xảy ra nơi những người
tự nhuộm tóc. Ở Châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ, có khoảng 35% các
phụ nữ và 10% các ông tự nhuộm lấy tóc của mình.
Nguồn :
LE
MONDE 27/3/2008
6/ MUỐI : KỂ
THÙ LỚN CỦA UNG THƯ DẠ DÀY
Ung thư dạ dày : 870.000 trường hợp mới mỗi
năm trên thế giới. 7000 trường hợp mới ở Pháp.
Ở Pháp, tỷ lệ tử vong của ung thư
dạ dày đã được chia 4 từ năm 1950, và tỷ lệ mắc bệnh này cũng
thụt lùi rõ rệt. Nhiều thủ phạm đã được nhận diện, như việc tiêu
thụ nhiều muối, ăn các thức ăn được hun khói hay ngâm nước muối.
Việc giảm rõ rệt tỷ lệ mắc phải ung thư dạ dày, một phần, thường
được gán cho sự xuất hiện của tủ lạnh, đã làm cho việc hun khói
(fumage) và ướp muối (salage) để bảo quản thức ăn trở thành vô
ích. Ở Nhật Bản, nơi cá sống và rau ngâm muối rất được tiêu thụ,
nên tỷ lệ ung thư dạ dày vẫn cao. Dẫu sao, mối liên hệ giữa ung
thư dạ dày với việc tiêu thụ quá nhiều muối là không còn nghi
ngờ gì nữa. Người ta đã có thể ước tính rằng nguy cơ bị ung thư
dạ dày được nhân lên 1,5 đến 6,2 lần đối với những người tiêu
thụ quá nhiều muối. Mặc dầu nước muối đã không còn được dùng
nữa, nhưng đôi khi vẫn khó có thể thoát khỏi NaCl, được chứa
trong nhiều thức ăn ( các món ăn được nấu...).Và các thịt rất
mặn như thịt lợn nhân gấp đôi nguy cơ bị ung thư dạ dày. Ở Pháp,
mặc dầu mức độ trung bình tiêu thụ muối đã giảm 5% trong 6 năm,
nhưng sự tiêu thụ vẫn còn cao : gần 8g mỗi ngày, trong khi lượng
muối được khuyến nghị là 5g.
Về mặt phòng ngừa, người ta biết
rằng các trái cây ( tất cả nhưng đặc biệt là cam quýt) và các
loại rau (tất cả nhưng tốt hơn là tỏi tây, hành) đều có một tác
dụng bảo vệ. Trong những năm qua, vai trò của một vi khuẩn,
Helicobacter pylori, cũng đã được nhận diện. “ Không có vi
khuẩn, không có ung thư ”, Groupe d’études françaises des
Helicobacter (GEFH) đã xác nhận như thế, bởi vì ung thư chỉ phát
triển với sự hiện diện của vi khuẩn này. Một trị liệu bằng kháng
sinh đơn giản và nhanh chóng trong vòng 7 ngày cho phép làm biến
mất vi khuẩn Helicobacter. GEFH chủ trương thực hiện các sinh
thiết một cách có hệ thống trong khi thực hiện nội soi dạ dày và
không chỉ, như những khuyến nghị chính thức chủ trương, nơi
những người được gọi là có nguy cơ bởi vì có một tiền sử gia
đình.
Nguồn :
SCIENCES
ET AVENIR 4/2008
7/ TƯ TƯỞNG CỦA NHỮNG NGƯỜI CÂM CHẰNG BAO LÂU NỮA SẼ ĐƯỢC THẾ
HIỆN BẰNG LỜI NÓI.
Giải mã các tín hiệu phát ra từ não bộ xuống
các dây thanh âm ! Một chiếc máy cho những người bị câm sẽ cố
gắng đạt được điều đó.
Phương thức, được phát minh bởi 2
nhà nghiên cứu trẻ của đại học Illinois (Hoa Kỳ) đang chờ được
xác nhận ở Viện phục hồi chức năng Chicago . Máy này, được đặt
tên là Audeo, cho phép giải mã một vài trong các tín hiệu thần
kinh được phát ra từ não bộ hướng về các dây thanh âm. Những bộ
phận dò (détecteurs) được đặt vòng theo cổ, sẽ bắt các xung điện
trong các dây thanh âm của người sử dụng. Một máy vi tính
(ordinateur) sau đó sẽ phiên các xung điện này thành các lời nói
được tổng hợp. “ Diễn dịch các hoạt động thần kinh không phải là
chuyện dễ, Michael Callahan, một trong những nhà phát minh đã
giải thích như thế. Chúng tôi đã mất nhiêu năm để phát triển
những sơ đồ có khả năng xử lý chúng một cách đúng đắn. Mặt khác,
chiếc máy đầu tiên của chúng tôi chỉ có khả năng phân biệt các
tín hiệu được phát ra cho các chữ vâng và không. Chúng tôi sẽ
gia tăng dần dần vốn ngữ vựng để có thể diễn tả các nhu cầu cơ
bản. Từ năm 2005, một phương pháp được phát triển ở đại học
Brown (Hoa Kỳ), cũng được căn cứ trên sự giải mã của các sóng
não, cho phép những người liệt 4 chi xê dịch một curseur trên
màn của máy vi tính.
Nguồn :
SCIENCE
ET VIE 4/2008
8/ QUÁ NHIỀU
ĐƯỜNG LÀM TEO CƠ
Theo các nhà nghiên cứu của các đại học
Ferrare và Padoue (Ý), việc tiêu thụ quá nhiều đường sẽ làm hoạt
hoá quá trình tạo thành mô mỡ, gây thiệt hại cho mô cơ. Người ta
đã biết rằng đường kích thích sự tích tụ mỡ trong các tế bào mỡ
(adipocytes), là những tế bào dự trữ (cellules réservoirs) có
nhiệm vụ tạo thành mô mỡ (tissu adipeux). Nhưng trong phòng thí
nghiệm, khi các nhà nghiên cứu gia tăng các nồng độ đường trong
môi trường cấy tế bào, các tế bào mỡ đã xuất hiện không những từ
các tế bào gốc (cellules souches) của mô mỡ, mà còn từ các tế
bào của cơ. « Nếu những kết quả này được xác nhận, mối nguy hiểm
của việc lạm dụng đường lại càng rõ rệt hơn ở trẻ em »,
Christian Dani, chuyên gia về các tế bào gốc của mô mỡ, thuộc
đại học Nice đã nhấn mạnh như thế, « bởi vì các kết quả này có
nghĩa là đường ảnh hưởng rất sớm lên sự tạo thành các mô. Thật
vậy, chính trong thời kỳ bé thơ là lúc cái vốn các tế bào mỡ của
chúng ta được tạo thành. Nếu đường quá thặng dư tác động lên sự
tạo thành đó, nó có thể lấy mất tiềm năng của các tế bào cơ của
chúng ta. Các tế bào này phải đốt cháy năng lượng cho các tế bào
mỡ tích trữ năng lượng này dưới dạng mỡ »
Theo nhà nghiên cứu, ảnh hưởng này
có thể được cảm nhận trước khi sinh nếu chính người mẹ tiêu thụ
quá nhiều đường hay bị đái đường, điều này cũng giải thích sự
truyền bệnh béo phì từ thế hệ này qua thế hệ khác. Ngoài ra các
nhà nghiên cứu người Ý gợi ý rằng bệnh đái đường loại hai phát
sinh càng dễ khi cơ thể đã mất một phần lớn các mô có khá năng
loại bỏ đường.“ Chúng ta thấy thiết lập ở đó một vòng luẩn quẩn
đáng sợ ”, Jean- François Tanti, nhà nghiên cứu về bệnh đái
đường và béo phì ở đơn vị Inserm 895, đại học Nice đã nói như
vậy.
Nguồn :
SCIENCE
ET AVENIR 3/2008
9/ NHŨ NHI 3
THÁNG ĐÃ CÓ Ý NIỆM VỀ CON SỐ.
Đứa trẻ đã cảm nhận được số lượng ngay từ 3
tháng tuổi, một nhóm nghiên cứu của phòng thí nghiệm Pháp
Neurospin vừa chứng tỏ như thế. Các nhà chuyên khoa thần kinh đã
ghi bằng điện não đồ hoạt động não bộ của 36 nhũ nhi, trong khi
chúng quan sát các hình ảnh biểu tượng những tập hợp các đồ vật.
Tất cả những hình ảnh này đều giống nhau, trừ một vài khác nhau
hoặc bởi con số, hoặc bởi tính chất của các đồ vật. Kết quả :
tùy theo loại biến đổi, não bộ đã không cho thấy cùng loại hoạt
động. Nhờ một phương pháp tái tạo theo 3 chiều, các nhà chuyên
khoa thần kinh đã có thể nhận diện các vùng não bộ có liên quan
: sự xử lý các con số làm hoạt hóa thùy đỉnh (lobe pariétal),
trong khi sự xử lý các thông tin về bản chất của các đồ vật, làm
hoạt hóa các thùy thái dương, như đối với người trưởng thành.
Theo các tác giả, điều này giả thiết rằng nhận thức về các con
số đã phát triển một cách liên tục bắt đầu từ tuổi 3 tháng.
Nguồn :
LA
RECHERCHE 4/2008
10/ TẠI SAO
VIRUS CÚM GÂY BỆNH VÀO MÙA ĐÔNG ?
Virus cúm, Myxovirus influenzae, ưa thích
sống trong một môi trường không nóng quá cũng không lạnh quá. Do
đó, để đi ra ngoài vào mùa đông, virus được khoác một lớp rất
dày các phân tử mỡ, cholestérol, mà kết cấu thay đổi tùy theo
nhiệt độ, gần giống như bơ vậy. Lỏng ở nhiệt độ 40 độ C, lớp vỏ
được kết tinh lại với những đợt sương giá đầu tiên, như vậy đảm
bảo một sự che chở chống lại nhiệt. Các virus, được tống xuất
dưới dạng các hạt vi thể vào mỗi lần hắt hơi, có thể tồn tại ở
môi trường bên ngoài trong một thời gian vừa đủ để đi vào một cơ
thể mới. Ngay khi chúng gặp được một ký chủ niềm nở đón chào,
chúng đi vào tận các phế quản. Một khi tại chỗ, lớp màng hóa
lỏng, và các siêu vi trùng có thể gây nhiễm trùng một tế bào và
sinh sản ở đó. Trái lại, vào mùa hè theo công trình nghiên cứu
được công bố trong Nature Chemical Biology, vừa mới ra ngoài
không khí, lớp vỏ của virus bị rã ra và do không được bảo vệ,
virus chết trước khi có thể gây nhiễm cho một người nào đó. Đó
là lý do tại sao cúm chỉ hoành hành vào những tháng mùa đông.
Nguồn :
SCIENCES
ET AVENIR 4/2008
BS
NGUYỄN VĂN THỊNH
( 11/4/2008 )
Trở về Trang Chính
|