Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

17 tháng 05 năm 2007

1/ NHIỆT CHỐNG LẠI BỆNH SUYỄN

        Các nhà nghiên cứu Canada đã nghiên cứu các tác dụng của một điều trị căn cứ trên nhiệt để làm các cơ phế quản hết co thắt.Những kết quả ban đầu tỏ ra đầy hứa hẹn.

        Lần đầu tiên một phương pháp điều trị không cần dùng thuốc được thí nghiệm ở Canada.Được đặt tên là Thermoplastie bronchiale, phương pháp nhằm sử dụng một nguồn nhiệt mạnh trong khi làm thủ thuật soi phế quản (bronchoscopie).
       Nguyên tắc đơn giản: một ông soi mềm (fibroscope souple) được đưa vào qua đường miệng hoặc mũi của bệnh nhân đến tận khí quản,rồi vào trong phế quản.Ống soi này cho phép đưa nguồn nhiệt khoảng 65 độ C trực tiếp đến các cơ của phế quản.Điều này làm giảm sự co thắt phế quản,yếu tố gây bệnh nhân khó thở.Sau một năm điều trị (những buổi điều trị 1 giờ không gây mê tổng quát),các bệnh nhân ít bị các cơn suyễn hơn,ít cần đến điều trị dãn phế quản hơn và đã tuyên bố thấy đời sống hàng ngày của họ được cải thiện. « Đó là những thử nghiệm đầu tiên về tính hiệu quả ».B.S John Miller,chuyên gia giải phẫu ngực của St Joseph’s Hospital de Hamilton (Ontario,Canada) đã tuyên bố như vậy. Mặc dầu đang còn trong vòng thí nghiệm,điều trị này hiển nhiên cũng đang được nghiên cứu ở Hoa Kỳ,Ba Tây và Đức.

        Theo công trình mới được công bố gần đây trong New England Journal of Medicine bởi nhóm các nhà nghiên cứu người Canada,ba buổi điều trị cách nhau 3 tuần là cần thiết để ổn định điều trị.Những kết quả như thế là đáng phấn khởi trước một bệnh viêm mà nguyên nhân vẫn không được biết đến và là nguyên nhân của 2000 trường hợp tử vong ở Pháp. (SCIENCES ET AVENIR 5/2007)

 

2/ KHI NÀO PHẢI ĐIỀU TRỊ CAO HUYẾT ÁP ?

       Các BS Hoa Kỳ đã gây nên một cuộc luận chiến lúc đề nghị giảm mức giới hạn bình thường của huyết áp.

      Cao huyết áp đã được công nhận từ lâu như là một yếu tố nguy cơ của các tai biến tim mạch.Trong nhiều năm qua,một điều trị chống cao áp được xem là cần thiết ngay khi các trị số huyết áp bằng hoặc trên 16/9.Từ khoảng 15 năm nay, điều trị chống cao áp suốt đời được chỉ định đối với những trị số huyết áp trên 14/8.

      Cách nay vài tháng các y sĩ Hoa Kỳ đã công bố một nghiên cứu trong New England Journal of Medicine(NEJM) gợi ý rằng nếu điều trị tình trạng tiền cao áp (pré-hypertension)   (nghĩa là các trị số huyết áp biến thiên từ 13/8 đến 14/9) sẽ có thể giảm dầu chỉ chút ít nguy cơ bị cao huyết áp.Bài báo này đã gây tranh cãi trong cộng đồng các thầy thuốc khoa tim Hoa kỳ từ 6 tháng nay.

     Công trình nghiên cứu Trophy của NEJM thực hiện trên 809 bệnh nhân có huyết áp biến thiên từ 13/8 và 14/9.Một nửa trong số các bệnh nhân này được điều trị trong 4 năm bởi một placebo( một chất không có tác dụng).Một nửa còn lại được điều trị trong 2 năm bởi một thuốc chống cao áp Candesartan và sau đó bởi một placebo.Tất cả đều nhận những lời khuyên về vệ sinh và tiết thực( giảm thể trọng nếu cần thiết,chế độ ăn uống ít muối,giảm uống rượu và tập thể dục).

      Sau 4 năm, vào cuối công trình nghiên cứu,người ta thống kê 10% người bị cao huyết áp ít đi trong nhóm đã nhận điều trị trong 2 năm trước đó.Các kết quả này làm nghĩ rằng trong một số nhỏ trường hơp ta có thể loại bỏ nguy cơ trở nên cao huyết áp bằng cách điều trị tình trạng tiền huyết áp.Do đó vài chuyên gia muốn đề nghị áp dụng điều trị trong một thời gian giới hạn ngay khi bệnh nhân có những trị số tiền cao huyết áp(13/8 đến 14/9),là những trị số được xem là bình thường từ trước đến nay.

    Các thầy thuốc phản pháo thì cho rằng phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu này là hoàn toàn thiên lệch bởi vì đã không tính đến những biến thiên có tính chất sinh lý mỗi ngày của huyết áp.Một chuyên viên khác cho rằng tất cả công trình này được phân tích lại bởi một nhóm nhà thống kê độc lập có thể dẫn đến những kết quả khác.B.S Stephen Persell (Feinberg school of medicine, Nortwestern university) trong the American Journal of Hypertension nói rằng ở Hoa Kỳ có hàng triệu người bị cao huyết áp thật sự.Những người này đáng lý ra cần một điều trị có hiệu quả thế mà lại chẳng được săn sóc đến.
                                                 

NHỮNG MỐI LỢI CHỦ YẾU CÓ TÍNH CHẤT THƯƠNG MÃI

       Theo B.S Stephen Persell,điều đầu tiên cần làm là cho toa các thuốc chống cao áp cho các bệnh nhân thật sự cần đến. » Mặt khác,để đánh giá hiệu quả của một chiến lược điều trị tiền cao áp,cũng cần phải có một đánh giá về lâu về dài nguy cơ xảy ra các biến chứng (nhồi máu cơ tim,tai biến mạch máu não),thế mà điều này đã không được thực hiện » Một vài chuyên gia đã phàn nàn như thế.

       Tạp chí Prescrire,trong một bài báo được đăng cách nay vài tuần cho rằng « việc giảm có tính cách nhân tạo các giới hạn bình thường của huyết áp mà không có được một bằng chứng về lợi ích lâm sàng do điều trị mang lại sẽ làm gia tăng số người bị gán cho là có bệnh hay có nguy cơ,chỉ vì những lợi ích chủ yếu có tính chất thương mãi.Thái độ này khả dĩ khiến cho một số lớn người mạnh khỏe bị những phản ứng không mong muốn do thuốc gây nên »

      Khoan dung hơn,Giáo sư Xavier Girerd (B.V Pitié-Salpetrière) mới đây trong tạp chí HTA-Info cho rằng: » Các kết quả của công trình thử nghiệm Trophy dầu có đáng quan tâm thế nào chăng nữa, cũng không được vì thế mà làm chúng ta lầm lạc.Các kết quả này không cho phép kết luận rằng sự điều trị bằng thuốc đối với những người có huyết áp trên 13/9 là cần thiết »

      Theo Giáo sư Jean Michel,chủ tịch của Cơ quan nghiên cứu cao huyết áp, những lời dặn dò mới đây của Cơ quan cao cấp y tế cho rằng ngoại trừ những trường hợp đặc biệt (đái đường,suy thận). chỉ bắt đầu từ trị số huyết áp 14/9 điều trị bằng thuốc mới được bàn đến.Công trình nghiên cứu có tính chất lịch sử của Fragminham đã chứng tỏ rằng nguy cơ tai biến mạch máu não gia tăng theo tuyến tính với trị số của huyết áp »

      Theo B.S Yves Benacin,thầy thuốc khoa tim ở Paris,điều trị dĩ nhiên phải được uyển chuyển tùy theo thể trạng. “Khi trị số huyết áp ở mức giới hạn, trong khoảng từ 14 đến 15, mà không có yếu tố nguy cơ quan trọng,chúng ta có thể chờ đợi 3 tháng trước khi quyết định điều trị.Mục đích là tận dụng thời gian này để cố gắng quân bình huyết áp,bằng một chế độ ăn uống,luyện tập thể dục,giảm ăn muối uống rượu” ( LE FIGARO 8/5/2007)



3/ BÚ SỬA MẸ LÀ TỐT CHO THỊ LỰC.

            Một công trình nghiên cứu xác nhận điều đó : bú sửa mẹ đảm bảo một thị lực rất tốt.260 trẻ em được nuôi bằng sữa mẹ hoặc bởi một loại sửa tăng trưởng (lait de croissance) đã được theo dõi đến lứa tuổi từ 4 đến 6.Thị giác nhìn nỗi (vision stéréoscopique) tốt hơn ở những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ.Nhưng tác dụng có lợi này trên thị lực vẫn không được giải thích.Không có khác nhau nào được ghi nhận tùy theo đó là acide docosahexaénoique (DHA) hay acide arachdonique ( là hai acide oméga 3 có trong sữa mẹ). (SCIENCES ET AVENIR 5/2007)


 

4/ XE HƠI LÀM GIA TĂNG BỆNH LÝ ĐƯỜNG HÔ HẤP.

    
Các văn liệu chứng tỏ rõ ràng rằng sự ô nhiễm không khí làm trầm trọng các triệu chứng hô hấp như suyễn,nhưng mãi cho đến ngày nay có ít dữ kiện chứng tỏ rằng các chất gây ô nhiễm không khí có khả năng làm phát sinh bệnh suyễn. Brauer và các cộng sự viên (Canada) đã tiến hành một nghiên cứu trên 4.146 trẻ em được tuyển mộ ngay trước khi sinh (tam cá nguyệt thứ hai của thai nghén) và sống ở những địa phương khác nhau của Hoà Lan.Các thông số được quan sát từ các bảng câu hỏi mà các bố mẹ của các trẻ đã điền vào.Các thông số này gồm có xét nghiệm máu,đo nồng độ các chất gây ô nhiễm (dioxyde d’azote, các hạt nhỏ,bồ hóng) nơi nhà ở.Sau một thời gian theo dõi 4 năm,các tác giả ghi nhận một sự gia tăng 20-30% nguy cơ bị suyễn và nhiễm trùng (tai mũi họng, cảm cúm) trên những trẻ sống ở những nơi bị ô nhiễm.Mặt khác xét nghiệm máu cho thấy IgE gia tăng chống lại vài loại thức ăn.Do đó sự ô nhiễm do xe hơi gây ra những tác dụng độc hại ngay lúc đời sống đang còn trong tử cung. Nhưng tác dụng này kéo dài trong suốt thời kỳ thơ ấu và làm biến đổi sự phát triển phổi cho đến tuổi thiếu niên.Ngoài ra còn có những tác dụng lên các động mạch.Các tác giả đánh giá rằng ngoài việc thực hiện những điều lệ chống ô nhiễm gây nên bởi xe hơi, cần khẩn trương tách riêng về mặt địa dư,các trục lộ lớn,các nơi nhà ở và các văn phòng.  ( LE JOURNAL DU MEDECIN 8/5/2007)

 

5/ RƯỢU CHỐNG HỢP CHỨNG RANAUD.

       Đặc điểm của hợp chứng Raynaud là những cơn đau ở các ngón tay do các huyết quản bị co thắt.Trong khi xét đến nhiều yếu tố có liên hệ trong bệnh này,nhất là thuốc lá,người ta nhận thấy rằng uống rượu có mức độ làm giảm 30% nguy cơ gây các cơn đau nơi phụ nữ và 60% nơi đàn ông.Những kết quả này được rút ra từ các dữ kiện thu thập được trong công trình điều tra nổi tiếng Framingham được thực hiện trên 3500 người. ( SCIENCES ET AVENIR 5/2007)

 

6/ VAI TRÒ CỦA NÃO BỘ TRONG CHỨNG BÉO PHÌ.

     Một vài vùng của não bộ,đặc biệt là các vùng nằm trong vỏ não thúy trước trán phải (cortex préfrontal =CPF) (đóng một vài trò trong những quá trình nhận thức),có khuynh hướng làm kềm hãm cảm giác đói và do đó làm giảm cảm giác muốn ăn.Nếu hoạt tính của CRF phải không được phát huy đầy đủ thì sự kiểm soát ăn uống bởi nhận thức sẽ bị giảm.Do đó một loạn năng của vùng này có thể đóng một vài trò chủ yếu trong căn nguyên của chứng béo phì.Miguel Alonso viết rằng CPF phải là một mục tiêu điều trị đáng quan tâm trong chương trình nghiên cứu về chứng béo phì.Do đó phát triển những phương pháp cho phép ảnh hưởng lên hoạt động của vùng này thì thật là hay.Thật vậy,sự kích thích CPF phải có lẽ sẽ có khả năng làm kềm hãm cảm giác đói và do đó làm dễ cho sự thực hiện các động tác điều trị về lâu về dài như chế độ ăn uống và hoạt động vật lý.Chính những thất bại của các can thiệp điều trị này là một kềm hãm quan trọng cho sự thành công của nhiều điều trị chống béo phì. (LE JOURNAL DU MEDECIN 8/5/2007)


 

7/ ĐỨT DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC : HY VỌNG CỦA CÁC VẬT LIỆU SINH HỌC.   

        Tái tạo một dây chằng khớp gối bằng cách ghép một vật liệu sinh học (biomatériau),đó là mục tiêu của các nhà nghiên cứu của Đại Học Virginie và của Bệnh Viện Nữu Ước.Các trắc nghiệm đầu tiên đươc tiến hành trên động vật làm nảy sinh một niềm hy vọng cho các vận động viên là nạn nhân của một trong những dạng nghiêm trọng nhất của bong gân khớp gối.Thật vậy,với những phẫu thuật ngoại khoa hiện nay,sự liền sẹo khó khăn của dây chằng bị đứt sẽ dẫn đến quá trình hồi phục chức năng kéo dài và các di chứng bền lâu.Phương thức mới căn cứ trên sự sử dụng một khuôn tạo hình(matrice plastique) sẽ tự tan biến trong vòng vài tuần.

       Đuợc cấy bởi các tế bào lấy từ một dây chằng lành mạnh, mảnh ghép được ghép vào vùng dây chằng bị đứt.Các kết quả thu được rất tốt:trong vòng 4 đến 12 tuần,một dây chằng mới sẽ phát triển.Dây chằng mới có những đặc tinh mô học và cơ học giống hệt với các đặc tính của các dây chằng tự nhiên (SCIENCE ET VIE 5/2007)


 

8/ HORMONE VÀ CHỨNG LO ÂU CỦA THIẾU NIÊN.

Khám phá này có thể giúp điều trị tốt hơn chứng lo âu (anxiété) nơi các thiếu niên.Sheryl Smith và các cộng sự viên của Trung Tâm Y Khoa Sunny Downstate vừa chứng tỏ rằng hormone « alloprégnanolone »(THP) tác dụng như một chất an thần nơi người lớn, ngược lại sẽ có một tác dụng gây lo âu ( effet anxiogène) nơi các thiếu niên 14-18 tuổi. Sự lo âu này là nguyên nhân của mối xung đột giữa các thế hệ. Alloprégnanolone được sản xuất trong não bộ sau một stress và tác dụng như một thuốc chống trầm cảm.Alloprégnanolone làm gia tăng hoạt tính của các thụ thể được gọi là GABAa.Các thụ thể này khi bị kích thích sẽ có tác dụng cản sự phóng xuất (décharge) từ các neurone của ngư mã (hippocampe)  một vùng có liên quan đến sự lo âu.Vì lẽ ngư mã bị kích thích ít đi do đó sự lo âu được giảm bớt.Thế thì tại sao alloprégnanolone lại có tác dụng ngược lại ở tuổi dậy thì?
        Các nhà sinh học đã nghiên cứu sự phân bố của các thụ thể GABAa trên chuột nhỏ (3 đến 6 tuần) và chuột trưởng thành (3 tháng).Không phải tất cả các thụ thể đều giống nhau.Các thụ thể GABAa được cấu tạo bởi 5 tiểu đơn vị (sous-unités),thường là 2 alpha,2 beta và 1 gamma.Nhưng một thụ thể có một tiểu đơn vị delta thay vì gamma.Thụ thể delta-GABAa này được biểu hiện trong màng của các neurone của hải mã vào lúc tuổi dậy thì (ít hiện diện trước và sau tuổi dậy thì).Thế mà alloprégnanolone cản các thụ thể có tác dụng cản (récepteur inhibiteur) này,do đó tác dụng cản bị vô hiệu hóa.Những phóng thích của các neurones của hải mã can dự trong sự lo âu do đó không còn bị kiểm soát bởi các thụ thể GABAa  nữa,vì vậy sự lo âu bị gia tăng.
         Để hủy tác dụng này các nhà sinh học hy vọng có thể tác động trực tiếp lên tiểu đơn vị delta-GABAa khiến tiểu đơn vị này không gắn lên THP nữa.

         Các công trình này đã cho phép hiểu rằng các thiếu niên do bản chất đă có nhiều khó khăn hơn trong việc quản lý nỗi lo âu của chúng. (POUR LA SCIENCE 5/2007 và  SCIENCE ET VIE 5/2007)


 

9/ ĐỒ ĂN SỮA VÀ BỆNH PARKINSON.

       Một công trình nghiên cứu của Hoa kỳ đã phát hiện sự liên kết giữa việc tiêu thụ thức ăn sữa (produits laitiers) và nguy cơ mắc bệnh Parkinson.Nguy cơ mắc bệnh tỷ lệ với mức độ tiêu thụ của thực phẩm này.Honglei Chen và các cộng sự viên đã nghiên cứu sự kết hợp giữa việc tiêu thụ các sản phẩm sửa và nguy cơ bị bệnh Parkinson bằng cách căn cứ trên những dữ kiện của 57.689 đàn ông và 73.175 phụ nữ của công trình nghiên cứu American Cancer Society’s Prevention Study II Nutrition Cohort. Trong thời kỳ theo dõi  (1992-2001), 250 đàn ông và 138 phụ nữ đã phát sinh bệnh Parkinson.Các tác giả đã tìm thấy mối liên hệ dương giữa việc tiêu thụ thức ăn sữa và nguy cơ phát sinh bệnh Parkinson.Mối liên hệ này xảy ra ở đàn ông lẫn đàn bà nhưng rõ rệt hơn ở đàn ông.

      Ở những người hấp thụ nhiều sữa nhất nguy cơ mắc bệnh đạt 1,6 đối với đàn ông và 1,3 đối với phụ nữ.Các tác giả nhấn mạnh sự cần thiết xác nhận các quan sát thu được bằng những nghiên cứu khác và nhận diện những cơ chế giải thích hiện tượng này.(LE JOURNAL DU MEDECIN 4/5/2007)

 

10/ STENT HAY THUỐC ?

      Các stents,các lò xo được đưa vào các động mạch vành để các huyết quản không bị tắc nghẽn lại,không có hiệu quả hơi các thuốc được sử dụng.Theo một nghiên cứu rộng rãi được công bố trong New England Journal of Medicine, những người bị bệnh tim được điều trị bằng chế độ ăn uống và thuốc có những kết quả cũng tốt như những kết quả thu được nơi những bệnh nhân được các thầy thuốc chuyên khoa tim đã đặt các stents.Các kết quả này không phải vì thế sẽ làm xét lại lợi ích của các stents trong những tình huống cấp cứu hoặc sau khi các biện pháp cổ điển bị thất bại.(SCIENCES ET AVENIR 5/2007)

 

                            BS NGUYỄN VĂN THỊNH

                                        ( 11/5/2007)
                           

      

Trở về Trang Chính