|
1/ NHIỆT CHỐNG LẠI BỆNH SUYỄN
Các nhà nghiên cứu Canada đã nghiên cứu các tác dụng của một
điều trị căn cứ trên nhiệt để làm các cơ phế quản hết co
thắt.Những kết quả ban đầu tỏ ra đầy hứa hẹn.
Lần đầu tiên một phương pháp điều trị không cần dùng thuốc được
thí nghiệm ở Canada.Được đặt tên là Thermoplastie bronchiale,
phương pháp nhằm sử dụng một nguồn nhiệt mạnh trong khi làm thủ
thuật soi phế quản (bronchoscopie).
Nguyên tắc đơn giản: một ông soi mềm (fibroscope souple)
được đưa vào qua đường miệng hoặc mũi của bệnh nhân đến tận khí
quản,rồi vào trong phế quản.Ống soi này cho phép đưa nguồn nhiệt
khoảng 65 độ C trực tiếp đến các cơ của phế quản.Điều này làm
giảm sự co thắt phế quản,yếu tố gây bệnh nhân khó thở.Sau một
năm điều trị (những buổi điều trị 1 giờ không gây mê tổng
quát),các bệnh nhân ít bị các cơn suyễn hơn,ít cần đến điều trị
dãn phế quản hơn và đã tuyên bố thấy đời sống hàng ngày của họ
được cải thiện. « Đó là những thử nghiệm đầu tiên về tính hiệu
quả ».B.S John Miller,chuyên gia giải phẫu ngực của St Joseph’s
Hospital de Hamilton (Ontario,Canada) đã tuyên bố như vậy. Mặc
dầu đang còn trong vòng thí nghiệm,điều trị này hiển nhiên cũng
đang được nghiên cứu ở Hoa Kỳ,Ba Tây và Đức.
Theo công trình mới được công bố gần đây trong New England
Journal of Medicine bởi nhóm các nhà nghiên cứu người Canada,ba
buổi điều trị cách nhau 3 tuần là cần thiết để ổn định điều
trị.Những kết quả như thế là đáng phấn khởi trước một bệnh viêm
mà nguyên nhân vẫn không được biết đến và là nguyên nhân của
2000 trường hợp tử vong ở Pháp. (SCIENCES ET AVENIR 5/2007)
2/ KHI NÀO PHẢI ĐIỀU TRỊ CAO HUYẾT ÁP ?
Các BS Hoa Kỳ đã gây nên một cuộc luận chiến lúc đề nghị giảm
mức giới hạn bình thường của huyết áp.
Cao huyết áp đã được công nhận từ lâu như là một yếu tố nguy cơ
của các tai biến tim mạch.Trong nhiều năm qua,một điều trị chống
cao áp được xem là cần thiết ngay khi các trị số huyết áp bằng
hoặc trên 16/9.Từ khoảng 15 năm nay, điều trị chống cao áp suốt
đời được chỉ định đối với những trị số huyết áp trên 14/8.
Cách nay vài tháng các y sĩ Hoa Kỳ đã công bố một nghiên cứu
trong New England Journal of Medicine(NEJM) gợi ý rằng nếu điều
trị tình trạng tiền cao áp (pré-hypertension) (nghĩa là các
trị số huyết áp biến thiên từ 13/8 đến 14/9) sẽ có thể giảm dầu
chỉ chút ít nguy cơ bị cao huyết áp.Bài báo này đã gây tranh cãi
trong cộng đồng các thầy thuốc khoa tim Hoa kỳ từ 6 tháng nay.
Công trình nghiên cứu Trophy của NEJM thực hiện trên 809 bệnh
nhân có huyết áp biến thiên từ 13/8 và 14/9.Một nửa trong số các
bệnh nhân này được điều trị trong 4 năm bởi một placebo( một
chất không có tác dụng).Một nửa còn lại được điều trị trong 2
năm bởi một thuốc chống cao áp Candesartan và sau đó bởi một
placebo.Tất cả đều nhận những lời khuyên về vệ sinh và tiết
thực( giảm thể trọng nếu cần thiết,chế độ ăn uống ít muối,giảm
uống rượu và tập thể dục).
Sau 4 năm, vào cuối công trình nghiên cứu,người ta thống kê 10%
người bị cao huyết áp ít đi trong nhóm đã nhận điều trị trong 2
năm trước đó.Các kết quả này làm nghĩ rằng trong một số nhỏ
trường hơp ta có thể loại bỏ nguy cơ trở nên cao huyết áp bằng
cách điều trị tình trạng tiền huyết áp.Do đó vài chuyên gia muốn
đề nghị áp dụng điều trị trong một thời gian giới hạn ngay khi
bệnh nhân có những trị số tiền cao huyết áp(13/8 đến 14/9),là
những trị số được xem là bình thường từ trước đến nay.
Các
thầy thuốc phản pháo thì cho rằng phương pháp được sử dụng trong
nghiên cứu này là hoàn toàn thiên lệch bởi vì đã không tính đến
những biến thiên có tính chất sinh lý mỗi ngày của huyết áp.Một
chuyên viên khác cho rằng tất cả công trình này được phân tích
lại bởi một nhóm nhà thống kê độc lập có thể dẫn đến những kết
quả khác.B.S Stephen Persell (Feinberg school of medicine,
Nortwestern university) trong the American Journal of
Hypertension nói rằng ở Hoa Kỳ có hàng triệu người bị cao huyết
áp thật sự.Những người này đáng lý ra cần một điều trị có hiệu
quả thế mà lại chẳng được săn sóc đến.
NHỮNG MỐI LỢI CHỦ
YẾU CÓ TÍNH CHẤT THƯƠNG MÃI
Theo B.S Stephen Persell,điều đầu tiên cần làm là cho toa các
thuốc chống cao áp cho các bệnh nhân thật sự cần đến. » Mặt
khác,để đánh giá hiệu quả của một chiến lược điều trị tiền cao
áp,cũng cần phải có một đánh giá về lâu về dài nguy cơ xảy ra
các biến chứng (nhồi máu cơ tim,tai biến mạch máu não),thế mà
điều này đã không được thực hiện » Một vài chuyên gia đã phàn
nàn như thế.
Tạp chí Prescrire,trong một bài báo được đăng cách nay vài tuần
cho rằng « việc giảm có tính cách nhân tạo các giới hạn bình
thường của huyết áp mà không có được một bằng chứng về lợi ích
lâm sàng do điều trị mang lại sẽ làm gia tăng số người bị gán
cho là có bệnh hay có nguy cơ,chỉ vì những lợi ích chủ yếu có
tính chất thương mãi.Thái độ này khả dĩ khiến cho một số lớn
người mạnh khỏe bị những phản ứng không mong muốn do thuốc gây
nên »
Khoan dung hơn,Giáo sư Xavier Girerd (B.V Pitié-Salpetrière) mới
đây trong tạp chí HTA-Info cho rằng: » Các kết quả của công
trình thử nghiệm Trophy dầu có đáng quan tâm thế nào chăng nữa,
cũng không được vì thế mà làm chúng ta lầm lạc.Các kết quả này
không cho phép kết luận rằng sự điều trị bằng thuốc đối với
những người có huyết áp trên 13/9 là cần thiết »
Theo Giáo sư Jean Michel,chủ tịch của Cơ quan nghiên cứu cao
huyết áp, những lời dặn dò mới đây của Cơ quan cao cấp y tế cho
rằng ngoại trừ những trường hợp đặc biệt (đái đường,suy thận).
chỉ bắt đầu từ trị số huyết áp 14/9 điều trị bằng thuốc mới được
bàn đến.Công trình nghiên cứu có tính chất lịch sử của
Fragminham đã chứng tỏ rằng nguy cơ tai biến mạch máu não gia
tăng theo tuyến tính với trị số của huyết áp »
Theo B.S Yves Benacin,thầy thuốc khoa tim ở Paris,điều trị dĩ
nhiên phải được uyển chuyển tùy theo thể trạng. “Khi trị số
huyết áp ở mức giới hạn, trong khoảng từ 14 đến 15, mà không có
yếu tố nguy cơ quan trọng,chúng ta có thể chờ đợi 3 tháng trước
khi quyết định điều trị.Mục đích là tận dụng thời gian này để cố
gắng quân bình huyết áp,bằng một chế độ ăn uống,luyện tập thể
dục,giảm ăn muối uống rượu” ( LE FIGARO 8/5/2007)
3/ BÚ SỬA MẸ
LÀ TỐT CHO THỊ LỰC.
Một công trình nghiên cứu xác nhận điều đó : bú sửa
mẹ đảm bảo một thị lực rất tốt.260 trẻ em được nuôi bằng sữa mẹ
hoặc bởi một loại sửa tăng trưởng (lait de croissance) đã được
theo dõi đến lứa tuổi từ 4 đến 6.Thị giác nhìn nỗi (vision
stéréoscopique) tốt hơn ở những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ.Nhưng
tác dụng có lợi này trên thị lực vẫn không được giải thích.Không
có khác nhau nào được ghi nhận tùy theo đó là acide
docosahexaénoique (DHA) hay acide arachdonique ( là hai acide
oméga 3 có trong sữa mẹ). (SCIENCES
ET AVENIR 5/2007)
4/ XE HƠI LÀM GIA TĂNG BỆNH LÝ ĐƯỜNG HÔ
HẤP.
Các văn liệu chứng tỏ rõ ràng rằng sự ô nhiễm không khí làm trầm
trọng các triệu chứng hô hấp như suyễn,nhưng mãi cho đến ngày
nay có ít dữ kiện chứng tỏ rằng các chất gây ô nhiễm không khí
có khả năng làm phát sinh bệnh suyễn. Brauer và các cộng sự viên
(Canada) đã tiến hành một nghiên cứu trên 4.146 trẻ em được
tuyển mộ ngay trước khi sinh (tam cá nguyệt thứ hai của thai
nghén) và sống ở những địa phương khác nhau của Hoà Lan.Các
thông số được quan sát từ các bảng câu hỏi mà các bố mẹ của các
trẻ đã điền vào.Các thông số này gồm có xét nghiệm máu,đo nồng
độ các chất gây ô nhiễm (dioxyde d’azote, các hạt nhỏ,bồ hóng)
nơi nhà ở.Sau một thời gian theo dõi 4 năm,các tác giả ghi nhận
một sự gia tăng 20-30% nguy cơ bị suyễn và nhiễm trùng (tai mũi
họng, cảm cúm) trên những trẻ sống ở những nơi bị ô nhiễm.Mặt
khác xét nghiệm máu cho thấy IgE gia tăng chống lại vài loại
thức ăn.Do đó sự ô nhiễm do xe hơi gây ra những tác dụng độc hại
ngay lúc đời sống đang còn trong tử cung. Nhưng tác dụng này kéo
dài trong suốt thời kỳ thơ ấu và làm biến đổi sự phát triển phổi
cho đến tuổi thiếu niên.Ngoài ra còn có những tác dụng lên các
động mạch.Các tác giả đánh giá rằng ngoài việc thực hiện những
điều lệ chống ô nhiễm gây nên bởi xe hơi, cần khẩn trương tách
riêng về mặt địa dư,các trục lộ lớn,các nơi nhà ở và các văn
phòng.
( LE JOURNAL DU MEDECIN 8/5/2007)
5/ RƯỢU CHỐNG HỢP CHỨNG RANAUD.
Đặc điểm của hợp chứng Raynaud là những cơn đau ở các ngón tay
do các huyết quản bị co thắt.Trong khi xét đến nhiều yếu tố có
liên hệ trong bệnh này,nhất là thuốc lá,người ta nhận thấy rằng
uống rượu có mức độ làm giảm 30% nguy cơ gây các cơn đau nơi phụ
nữ và 60% nơi đàn ông.Những kết quả này được rút ra từ các dữ
kiện thu thập được trong công trình điều tra nổi tiếng
Framingham được thực hiện trên 3500 người.
( SCIENCES ET AVENIR 5/2007)
6/ VAI TRÒ CỦA NÃO BỘ TRONG CHỨNG BÉO PHÌ.
Một vài vùng của não bộ,đặc biệt là các vùng nằm trong vỏ não
thúy trước trán phải (cortex préfrontal =CPF) (đóng một vài trò
trong những quá trình nhận thức),có khuynh hướng làm kềm hãm cảm
giác đói và do đó làm giảm cảm giác muốn ăn.Nếu hoạt tính của
CRF phải không được phát huy đầy đủ thì sự kiểm soát ăn uống bởi
nhận thức sẽ bị giảm.Do đó một loạn năng của vùng này có thể
đóng một vài trò chủ yếu trong căn nguyên của chứng béo
phì.Miguel Alonso viết rằng CPF phải là một mục tiêu điều trị
đáng quan tâm trong chương trình nghiên cứu về chứng béo phì.Do
đó phát triển những phương pháp cho phép ảnh hưởng lên hoạt động
của vùng này thì thật là hay.Thật vậy,sự kích thích CPF phải có
lẽ sẽ có khả năng làm kềm hãm cảm giác đói và do đó làm dễ cho
sự thực hiện các động tác điều trị về lâu về dài như chế độ ăn
uống và hoạt động vật lý.Chính những thất bại của các can thiệp
điều trị này là một kềm hãm quan trọng cho sự thành công của
nhiều điều trị chống béo phì. (LE JOURNAL DU MEDECIN 8/5/2007)
7/ ĐỨT DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC : HY VỌNG CỦA
CÁC VẬT LIỆU SINH HỌC.
Tái tạo một dây chằng khớp gối bằng cách ghép một vật liệu sinh
học (biomatériau),đó là mục tiêu của các nhà nghiên cứu của Đại
Học Virginie và của Bệnh Viện Nữu Ước.Các trắc nghiệm đầu tiên
đươc tiến hành trên động vật làm nảy sinh một niềm hy vọng cho
các vận động viên là nạn nhân của một trong những dạng nghiêm
trọng nhất của bong gân khớp gối.Thật vậy,với những phẫu thuật
ngoại khoa hiện nay,sự liền sẹo khó khăn của dây chằng bị đứt sẽ
dẫn đến quá trình hồi phục chức năng kéo dài và các di chứng bền
lâu.Phương thức mới căn cứ trên sự sử dụng một khuôn tạo
hình(matrice plastique) sẽ tự tan biến trong vòng vài tuần.
Đuợc cấy bởi các tế bào lấy từ một dây chằng lành mạnh, mảnh
ghép được ghép vào vùng dây chằng bị đứt.Các kết quả thu được
rất tốt:trong vòng 4 đến 12 tuần,một dây chằng mới sẽ phát
triển.Dây chằng mới có những đặc tinh mô học và cơ học giống hệt
với các đặc tính của các dây chằng tự nhiên (SCIENCE ET VIE
5/2007)
8/ HORMONE VÀ CHỨNG LO ÂU CỦA THIẾU NIÊN.
Khám
phá này có thể giúp điều trị tốt hơn chứng lo âu (anxiété) nơi
các thiếu niên.Sheryl Smith và các cộng sự viên của Trung Tâm Y
Khoa Sunny Downstate vừa chứng tỏ rằng hormone «
alloprégnanolone »(THP) tác dụng như một chất an thần nơi người
lớn, ngược lại sẽ có một tác dụng gây lo âu ( effet anxiogène)
nơi các thiếu niên 14-18 tuổi. Sự lo âu này là nguyên nhân của
mối xung đột giữa các thế hệ. Alloprégnanolone được sản xuất
trong não bộ sau một stress và tác dụng như một thuốc chống trầm
cảm.Alloprégnanolone làm gia tăng hoạt tính của các thụ thể được
gọi là GABAa.Các thụ thể này khi bị kích thích sẽ có tác dụng
cản sự phóng xuất (décharge) từ các neurone của ngư mã
(hippocampe) một vùng có liên quan đến sự lo âu.Vì lẽ ngư mã bị
kích thích ít đi do đó sự lo âu được giảm bớt.Thế thì tại sao
alloprégnanolone lại có tác dụng ngược lại ở tuổi dậy thì?
Các nhà sinh học đã nghiên cứu sự phân bố của các thụ
thể GABAa trên chuột nhỏ (3 đến 6 tuần) và chuột trưởng thành (3
tháng).Không phải tất cả các thụ thể đều giống nhau.Các thụ thể
GABAa được cấu tạo bởi 5 tiểu đơn vị (sous-unités),thường là 2
alpha,2 beta và 1 gamma.Nhưng một thụ thể có một tiểu đơn vị
delta thay vì gamma.Thụ thể delta-GABAa này được biểu hiện trong
màng của các neurone của hải mã vào lúc tuổi dậy thì (ít hiện
diện trước và sau tuổi dậy thì).Thế mà alloprégnanolone cản các
thụ thể có tác dụng cản (récepteur inhibiteur) này,do đó tác
dụng cản bị vô hiệu hóa.Những phóng thích của các neurones của
hải mã can dự trong sự lo âu do đó không còn bị kiểm soát bởi
các thụ thể GABAa nữa,vì vậy sự lo âu bị gia tăng.
Để hủy tác dụng này các nhà sinh học hy vọng có thể tác
động trực tiếp lên tiểu đơn vị delta-GABAa khiến tiểu đơn vị này
không gắn lên THP nữa.
Các công trình này đã cho phép hiểu rằng các thiếu niên
do bản chất đă có nhiều khó khăn hơn trong việc quản lý nỗi lo
âu của chúng. (POUR LA SCIENCE 5/2007
và SCIENCE ET VIE 5/2007)
9/ ĐỒ ĂN SỮA VÀ BỆNH PARKINSON.
Một công trình nghiên cứu của Hoa kỳ đã phát hiện sự liên kết
giữa việc tiêu thụ thức ăn sữa (produits laitiers) và nguy cơ
mắc bệnh Parkinson.Nguy cơ mắc bệnh tỷ lệ với mức độ tiêu thụ
của thực phẩm này.Honglei Chen và các cộng sự viên đã nghiên cứu
sự kết hợp giữa việc tiêu thụ các sản phẩm sửa và nguy cơ bị
bệnh Parkinson bằng cách căn cứ trên những dữ kiện của 57.689
đàn ông và 73.175 phụ nữ của công trình nghiên cứu American
Cancer Society’s Prevention Study II Nutrition Cohort. Trong
thời kỳ theo dõi (1992-2001), 250 đàn ông và 138 phụ nữ đã phát
sinh bệnh Parkinson.Các tác giả đã tìm thấy mối liên hệ dương
giữa việc tiêu thụ thức ăn sữa và nguy cơ phát sinh bệnh
Parkinson.Mối liên hệ này xảy ra ở đàn ông lẫn đàn bà nhưng rõ
rệt hơn ở đàn ông.
Ở những người hấp thụ nhiều sữa nhất
nguy cơ mắc bệnh đạt 1,6 đối với đàn ông và 1,3 đối với phụ
nữ.Các tác giả nhấn mạnh sự cần thiết xác nhận các quan sát thu
được bằng những nghiên cứu khác và nhận diện những cơ chế giải
thích hiện tượng này.(LE JOURNAL DU MEDECIN 4/5/2007)
10/ STENT HAY THUỐC
?
Các stents,các
lò xo được đưa vào các động mạch vành để các huyết quản không bị
tắc nghẽn lại,không có hiệu quả hơi các thuốc được sử dụng.Theo
một nghiên cứu rộng rãi được công bố trong New England Journal
of Medicine, những người bị bệnh tim được điều trị bằng chế độ
ăn uống và thuốc có những kết quả cũng tốt như những kết quả thu
được nơi những bệnh nhân được các thầy thuốc chuyên khoa tim đã
đặt các stents.Các kết quả này không phải vì thế sẽ làm xét lại
lợi ích của các stents trong những tình huống cấp cứu hoặc sau
khi các biện pháp cổ điển bị thất bại.(SCIENCES
ET AVENIR 5/2007)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(
11/5/2007)
Trở về Trang Chính
|