Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

E-Mail: bsnguyenvanthinh@khoahoc.net

19 tháng 06 năm 2008

1/ CÁC THẦY THUỐC KHOA DA CHỐNG LẠI VIỆC SỬ DỤNG LASER TRONG CÁC VIỆN THẨM MỸ.

        Các mối hiểm nguy của vài loại máy móc trong tay những người không sành sỏi làm lo ngại các thầy thuốc.

          Từ một ít lâu nay, một vài viện thẩm mỹ (institut de beauté) đề nghị điều trị bằng laser, cho phép làm rụng lông (épilation) vĩnh viễn, loại bỏ các vết nâu (taches brunes) trên da, mụn trứng cá hoặc làm trẻ da (rajeunissement cutané). Những trung tâm này hoạt động ngoài mọi kiểm tra y tế, nhưng hoàn toàn hợp pháp, sử dụng các máy móc có những tia bức xạ khác nhau ( lampes flash, diodes électroluminescentes), tương tự các tia laser. Công đoàn quốc gia các thầy thuốc da liễu vừa chống lại những việc làm này, cho rằng  các máy móc này, nếu không được sử dụng đúng, có thể gây nên các biến chứng, đặc biệt là các vết bỏng, và  chúng có thể làm biến mất các thương tổn da trước khi một chẩn đoán được thực hiện (nhất là trường hợp ung thư da). Theo dự kiến trong những ngày đến, công đoàn sẻ yêu cầu giới hữu trách y tế dùng những biện pháp cần thiết để bảo đảm sự an toàn cho những người tiêu thụ.

            Trong khoa da, các tia laser đã cách mạng hóa một vài điều trị bệnh ngoài da, bằng cách cho phép cắt bỏ một vài u mạch (angiome) mà không cần phải phẫu thuật, bằng cách thực hiện sự nhổ lông vĩnh viễn (épilation définitive) nhất là đối với các phụ nữ bị chứng rậm lông (hirsutisme), hay qua sự loại bỏ một vài dấu hiệu của tuổi già như các vết nâu (taches brunes), bằng cách đề nghị các loại “ lifting ” khác nhau.


300 LẦN ÁNH SÁNG MẶT TRỜI.

           Một vài thầy thuốc, chuyên về thẩm mỹ, thực hiện nhiều động tác thuần túy thẩm mỹ, nhưng thù lao không được đảm nhận bởi Sécurité sociale. Trong những trường hợp này, người chuyên nghiệp y tế dầu sao cũng đảm bảo tính nghiêm túc và chất lượng, mặc dầu theo công ty bảo hiểm các thầy thuốc, những vụ tranh chấp y-pháp y về các điều trị bằng tia laser đã không ngừng gia tăng.

         Vậy có nên chỉ dành quyền sử dụng các tia laser trong điều trị bệnh da cho các thầy thuốc mà thôi không ? “ Việc sử dụng các máy có phóng xạ quang học (appareils à rayonnements optiques) trước hết cần phải chẩn đoán chính xác, B.S Hugues Carlier, chủ tịch của nhóm laser trong Hiệp hội khoa da của Pháp đã giải thích như vậy. Sự lựa chọn điều trị và sự lựa chọn bức xạ quang học tùy thuộc vào chất lượng của chẩn đoán này. Các thầy thuốc cũng phải, trong thời gian điều trị, đảm bảo về hiệu quả của nó, dự kiến các tác dụng phụ gặp phải và điều trị chúng nếu cần. Sau cùng người thầy thuốc phải thông báo trước cho bệnh nhân những nguy cơ gặp phải  ” .

           Thí dụ, một vài vết da nâu  (taches cutanées brunes) có thể được đốt bằng laser bởi một cô sửa sắc đẹp (esthéticienne), trong khi thật ra đó là một u hắc tố ác tính (mélanome malin) ; trong trường hợp này một phẫu thuật cắt bỏ sâu (chirurgie d’excérèse profonde) là cần thiết để đảm bảo chữa lành bệnh. Ví dụ khác, vài phụ nữ bị chứng rậm lông (hirsutisme), nghĩa là hệ lông quá nhiều, do một rối loạn hormone, hoặc do một khối u tiết các hormone. Nếu như nguyên nhân không được điều trị, lông sẽ mọc trở lại mặc dầu các buổi điều trị bằng laser và bệnh trở nên nặng hơn.“ Và khi tia laser không được sử dụng đúng đắn, người tiêu thụ có thể không nhận được kết quả hoặc còn có thể bị bỏng nữa ”.

         Đối với Serge Mordon, giám đốc nghiên cứu ở Inserm, “ các dụng cụ này là những thiết bị y khoa. Chúng có những tác dụng điều trị trên các mô và các tế bào và phải dành cho các thầy thuốc. Những máy sắp xuất hiện trên thị trường có thể phát ra năng lượng tương đương với 300 lần ánh sáng mặt trời vào buổi trưa. Thế thì chúng ta sẽ để bán tự do các thiết bị này hay sao ? ”. Hiện nay việc sử dụng các máy này trong các viện thẩm mỹ không có gì là bất hợp pháp cả.
                        
Nguồn :
 LE FIGARO (31/5/2008)


2/ CÀ PHÊ, TRÀ VÀ NGUY CƠ BỊ UNG THƯ VÚ.

          Ganmaa và các cộng sự viên ( Hoa Kỳ) đã thu góp các dữ kiện liên quan đến 86.000 phụ nữ đã tham gia vào công trình nghiên cứu Nurses’ Health Study về sự tiêu thụ cà phê, trà và caféine. Các người tham gia ở trong lứa tuổi 30 đến 55 vào lúc khởi đầu công trình nghiên cứu. Suốt trong 22 năm theo dõi, 5.272 phụ nữ trong số những người tham gia, đã phát triển một ung thư vú. Sau khi điều chỉnh về các yếu tố khác nhau khả dĩ ảnh hưởng lên các kết quả (tuổi tác, chứng nghiện thuốc lá, thể dục, các tiền sử gia đình ung thư vú, tình trạng mãn kinh, các tiền sử về điều trị bằng hormone, số con có đuợc), các nhà nghiên cứu đã không nhận thấy rằng nguy cơ bị ung thư vú nơi các phụ nữ uống ít nhất 4 tách cà phê hay trà mỗi ngày là cao hơn so với các phụ nữ chỉ uống mỗi tách mỗi ngày.
                       Nguồn :
 LE JOURNAL DU MEDECIN (6/6/2008 )


3/ CÁC UNG THƯ DA
        Đứng trước sự gia tăng dần của các ung thư da, G.S Patrice Morel ( trưởng khoa da bệnh viện Saint-Louis) đã xây dựng một trung tâm đặc biệt để điều trị các ung thư này. Ông giải thích cho chúng ta về lợi ích của trung tâm điều trị này.

         Hỏi : Tại sao đã nghĩ ra một trung tâm điều trị riêng cho các ung thư da

         G.S Patrice Morel : Bởi vì tỷ lệ các khối u này đang gia tăng : thí dụ u hắc tố (mélanome) là loại ung thư có tần số gia tăng nhanh nhất ở nước Pháp      (sau ung thư phổi ở phụ nữ). Tỷ lệ mắc phải u hắc tố đã tăng gấp đôi trong vòng 10 năm ! Mặt khác, việc điều trị các khối u da này đã được cải thiện : ở bệnh viện Saint-Louis, chúng tôi có những xét nghiệm mới cho phép đánh giá sự hiện diện hay không của một di căn hạch, vào một giai đoạn rất sớm.

          Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những ung thư da nào thường xảy ra nhất ?
          G.S P.M : Trong số những ung thư da thông thường nhất (phát triển từ các tế bào của biểu bì, chủ yếu trên các vùng tiếp xúc với ánh sáng mặt trời), có hai loại. Loại 1 là các basocellulaires (150.000 trường hợp mới mỗi năm). Loại 2 là các carcinome épidermoide (50.000 trường hợp mới mỗi năm). Các ung thư basocellulaire xuất hiện dưới dạng các tăng sinh nhỏ vài mm. Các carcinome épidermoide có một dạng sần sùi trăng trắng (rugosité blanchatre)  (kératose solaire). Ít thường xảy ra hơn nhưng vô cùng nguy hiểm là các u hắc tố (mélanome) (mà yếu tố nguy cơ đầu tiên là một đợt trúng nắng lúc còn ấu thơ). Các u hắc tố phát triển từ các mélanocytes, những tế bào chế tạo sắc tố ( 6000 đến 700 trường hợp mới mỗi năm). Các u sắc tố có thể xuất hiện dưới 2 dạng : khi thì dưới dạng một nốt ruồi (grain de beauté), đã hiện diện từ lâu nhưng thay đổi dạng vẻ (với một kích thước lớn hơn, một màu sắc ít đồng đều hơn, chỗ nổi rõ hơn, các đường viền ít đều đặn hơn), khi thì dưới dạng một nốt ruồi mới, lần này có tất các các đặc điểm của u sắc tố.

           Hỏi : Tính nguy hiểm nào của những ung thư da thường gặp nhất, các basocellulaires và các épidermoides ?
            G.S P.M : Tính chất nguy hiểm là do sự lan rộng tại chỗ của chúng, bởi vì các khối u này hiếm khi di căn.
Nếu không được lấy đi đúng lúc, các khối u có nguy cơ lan rộng theo bề mặt và bề sâu, điều này làm cho động tác phẫu thuật khó khăn hơn, với một kết quả thẩm mỹ ít tốt hơn.

           Hỏi : Các mối nguy cơ của một u hắc tố ( mélanome)  ?

           G.S P.M : Các ung thư da này là đáng sợ, bởi vì chúng rất dễ phân tán nhanh chóng bằng đường bạch huyết và máu, nghĩa là di căn đi xa. Những nguy cơ này càng lớn khi u hắc tố được lấy đi càng trễ. Do đó, lợi ích của một chẩn đoán sớm !

           Hỏi : Các basocellulaires và các carcinome épidermoide thường được điều trị như thế nào ?
           G.S P.M : Có thể có nhiều phương cách, tất cả đều rất hiệu quả ( với khoảng 5% tái phát trong 5 năm). Các phương thức xưa cổ nhất nhằm, hoặc là lấy đi khối u bằng phẫu thuật, hoặc là áp dụng một điều trị tại chỗ (dưới dạng pommade) làm phá hủy khối u. Từ ít lâu nay, người ta sử dụng một phương thức mới, quang động trị liệu pháp (photothérapie dynamique).Trong phương pháp này, người ta trải lên thương tổn một chất thuốc sẽ ngấm vào các tế bào ung thư.

 Chất thuốc này, khi được tiếp xúc với một ánh sáng đặc biệt (được phát ra bởi một ngọn đèn), sẽ gây nên một phản ứng độc do ánh sáng (réaction phototoxique) có tác dụng loại bỏ khối u.

             Hỏi : Và trong điều trị u hắc tố, tiến bộ mới nhất là tiến bộ nào?
             G.S P.M :  Phương thức hiệu quả nhất vẫn là phương thức cắt bỏ bằng phẫu thuật ở một giai đoạn sớm (trước khi ung thư dày lên). Từ hai hoặc ba năm nay, chúng ta có được một tiến bộ : cũng như đối với ung thư vú, chúng ta thăm khám phát hiện hạch “ sentinelle ”. Phương thức này nhằm lấy hạch đầu tiên của chuỗi hạch liên hệ, để tìm kiếm một vi di căn (micrométastase) khả dĩ xảy ra. Nếu như hạch bị di căn ( trong 20% các trường hợp u hắc tố), người ta thực hiện nạo (curage), cho phép phân tích các hạch khác của chuỗi hạch bạch huyết . Chính nhờ những kết quả của những sinh thiết này mà thầy thuốc sau đó có thể để nghị hay không một điều trị đặc hiệu. Mãi đến ngày nay, trong những trường hợp rất tiến triển (với di căn), người ta đã nhận thấy rằng các hoá học trị liệu không cho phép thu được những kết quả rất có hiệu xuất.
Do đó ngày nay, người ta hướng về những liệu pháp mới.

             Hỏi : Những phương pháp điều trị mới nhất  nhằm vào những gì ?

             G.S P.M  : Các phương pháp này có hai mục đích : hoặc là can thiệp trực tiếp lên quá trình ung thư hóa, hoặc là tăng cường các phòng thủ miễn dịch của cơ thể và như thế làm dễ sự tự phá hủy những tế bào ung thư. Ở bệnh viện Saint-Louis, chúng tôi đã đạt đến một giai đoạn thử nghiệm đầy hứa hẹn.Vấn đề là chúng tôi còn phải xác nhận tính hiệu quả và độ dung nạp tốt của chúng.

           Hỏi : Trung tâm điều trị ung thư da của ông hoạt động như thế nào ?

           G.S P.M : Bệnh viện đa khoa bệnh ngoài da (polyclinique de dermatologie) này bao gồm một nhóm nhiều chuyên khoa, liên kết các thầy thuốc khoa da, các thầy thuốc ngoại khoa, các chuyên gia về ung thư, các chuyên gia quang tuyến và các thầy thuốc phóng xạ trị liệu pháp. Đối với mỗi điều trị, các quyết định được thực hiện vào lúc thăm khám hội chẩn quy tụ nhiều trong số các thầy thuốc chuyên khoa này. Đó là một trung tâm tiên tiến, được trang bị bởi các kỹ thuật có hiệu năng (các máy siêu âm, scanners thuộc thế hệ mới nhất, Pet Scan...) mà mục đích chủ yếu là điều trị nhanh chóng những bệnh nhân đã được chẩn đoán bởi các thầy thuốc của họ. Trong một vài trường hợp u hắc tố ở giai đoạn tiến triển, các bệnh nhân có thể được cho tiếp cận với những thử nghiệm lâm sàng.

          Hỏi : Ông có thể cho vài lời khuyên trước mùa nghỉ hè sắp đến ?
          G.S P.M : Tránh bị trúng nắng do sưởi nắng gia tăng dần từ ngày này qua ngày khác và biết thỏa mãn một rám nắng nhẹ tạo nên một gương mặt tươi tỉnh.
Lời khuyên khác của tôi, còn bức thiết hơn, là bảo vệ các trẻ em để chúng không phạm vào quá sớm cái vốn ánh nắng mặt trời của chúng. Chúng ta đừng quên rằng những đợt trúng nắng trong thời kỳ thơ ấu là những yếu tố nguy cơ đầu tiên của u hắc tố.
                             Nguồn : PARIS MATCH (5/6-11/6/2008)


  

4/CÁC BỆNH NHÂN BỊ BỆNH TIM MẮC CHỨNG TRẦM CẢM, THƯỜNG BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO HƠN.

         Wouts (Nijmegen) và nhóm nghiên cứu đã tự hỏi rằng sự hiện diện, mức độ nghiêm trọng và tính kinh niên của các triệu chứng trầm cảm (symptômes dépressifs) có thể ảnh hưởng một cách độc lập hay không lên sự xuất hiện một tai biến mạch máu não nơi những người già, có hoặc không có bệnh lý về tim . Sau 9 năm theo dõi, các nhà nghiên cứu đã có thể xác lập rằng sự hiện diện của những triệu chứng trầm cảm thích đáng trên bình diện lâm sàng là liên kết với nguy cơ bị tai biến mạch máu não 2,18 lần cao hơn nơi các bệnh nhân bị bệnh tim. Nơi những người già không bị bệnh tim, trái lại, các triệu chứng trầm cảm đã không liên kết một cách đáng kể với việc xuất hiện một tai biến mạch máu não. Cùng một cách như vậy, mức độ nghiêm trọng và tính chất mãn tính của các triệu chứng trầm cảm đã liên kết một cách đáng kể với sự xuất hiện một tai biến mạch máu não nơi những bệnh nhân bị bệnh tim, nhưng không nơi những bệnh nhân không bị loại bệnh lý này.
                      Nguồn :
 LE JOURNAL DU MEDECIN (6/6/2008)


5/ UNG THƯ NÃO : MỘT VACCIN ĐẦY HỨA HẸN.

            Được mổ hôm qua vì một glioblastome, một khối u não, Edward Kennedy có thể sẽ được hưởng phép điều trị mới này.

            Yves Saint Laurent, qua đời hôm chủ nhật, thượng nghị sĩ đảng dân chủ Hoa Kỳ Edward Kennedy và hàng ngàn người là nạn nhân của các khối u não ác tính, được xem là ít có khả năng điều trị và lại còn có tiên lượng  đáng sợ. Ở Pháp, mỗi năm có từ 3.000 đến 5.000 các trường hợp ung thư não mới xảy ra. Thế mà, dạng thường xảy ra nhất của những ung thư này, glioblastome, đã là đối tượng của một tiến bộ khoa học đáng lưu ý : một vaccin thử nghiệm được trình bày ở hội nghị hàng năm lần thứ 44 của Hiệp hội ung thư lâm sàng Hoa Kỳ, vừa họp mới đây ở Chicago.

          Thử nghiệm lâm sàng được thực hiện trên 23 bệnh nhân bị một glioblastome có kích thước lớn : trong khi các bệnh nhân bị ung thư này, được điều trị với phép trị liệu chuẩn, sẽ có một tỷ lệ sinh tồn trung bình 14 tháng, thì những bệnh nhân được điều trị bằng một vaccin thực nghiệm, trung bình đã sống được 33 tháng sau khi chẩn đoán. Chính một thụ thể (récepteur) hiện diện trên những tế bào ung thư ( mà sự đột biến là nguyên nhân của sự tăng trưởng của ung thư) là cái đích của vaccin thực nghiệm. Yếu tố quan trọng khác : vaccin đã làm chậm lại sự tái phát của khối u sau khi được cắt bỏ bằng phẫu thuật. Khối u này trung bình chỉ tái xuất hiện 16,6 tháng sau giải phẫu nơi các bệnh nhân được tiêm chủng, so với 6 tháng nơi những bệnh nhân khác. 
         Lúc trình bày với báo chí về thử nghiệm này, B.S Mark Gilbert, thuộc MD Anderson Cancer Center (Texas) đã chỉ rõ rằng Thượng Nghị Sĩ Edward Kennedy, hôm qua được mổ thành công một glioblastome nằm ở phần trên của bán cầu đại não trái, “ ông cũng có thể được cho sử dụng vaccin này ” .Tại Avant Immunotherapeutic, hãng thuốc sản xuất vaccin, người ta chỉ rõ rằng       “ không có một tiêu chuẩn loại bỏ vì lý do tuổi tác nào, ngăn cản sự tham dự của Edward Kennedy vào thử nghiệm này, nếu như khối u đúng là do một đột biến (mutation) loại 3 của thụ thể bia (récepteur cible) ”  (có nhiều loại đột biến khác nhau).

          Một vaccin cạnh tranh, Oncophage, được sản xuất bởi phòng bào chế Antigenics, có trụ sở ở Lexington (Maryland), cũng đã ra đời. Các kết quả của một thử nghiệm lâm sàng đã được trình bày năm vừa qua tại hội nghị American Association of Neurological Surgeons ở Washington. BS Andrew Parsa, của Đại Học Californie (San Fransisco) đã cho tham dự một nhóm 12 bệnh nhân bị glioblastome vào một thử nghiệm giai đoạn 1, nhằm xác lập độ an toàn của vaccin và tính hiệu quả sơ khởi của nó. Vaccin này, được chế tạo nhằm chống lại nhiều kháng nguyên đặc hiệu của glioblastome của mỗi bệnh nhân, đã cho phép 6 bệnh nhân sống thêm gần 9 tháng ( thời gian trung bình sống sót thường được quan sát trong ung thư này là 6,5 tháng kể từ lần tái phát đầu tiên).

          Tại phòng bào chế Antigenics, hôm qua người ta cho biết rằng “ nếu khối u được mổ của Edward Kennedy đã được làm đông lạnh và bảo quản, người ta có thể chế tạo một vaccin chống lại glioblastome của ông ta ” .

          Những thử nghiệm khác về liệu pháp gène cũng đang được tiến hành.
                      
      Nguồn :  LE FIGARO (4/6/2008)

 

6/ SỮA CHOCOLAT TỐT CHO BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 2 ?

           Một chế độ ăn uống giàu flavanols, một chất chống oxy hóa được tìm thấy trong fève de cacao, có một tác dụng thuận lợi lên sự loạn chức năng huyết quản (dysfonction vasculaire) nơi những bệnh nhân bị bệnh đái đường loại 2. Đó là điều được rút ra từ một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi Balzer (Đức) và nhóm nghiên cứu của ông. Các nhà nghiên cứu đã muốn trắc nghiệm tính khả thi của một chế độ ăn uống dựa trên sự tiêu thụ hàng ngày cacao giàu chất flavanols, cũng như hiệu quả của nó trên chức năng huyết quản nơi những người bị bệnh đái đường. Công trình nghiên cứu được thực hiện đã chứng tỏ rằng sự sử dụng cacao giàu flavanols mang lại một sự gia tăng rõ rệt các chất flavanols trong máu và của FMD (flow-mediated dilatation), một chỉ dấu về khả năng giãn của các mạch máu. Balzer kết luận rằng cacao giàu flavanols có một tác dụng thuận lợi lên sự loạn chức năng huyết quản của những bệnh nhân bị bệnh đái đường.

          Có thể khám phá này sẽ mở đường cho việc phát triển các loại thuốc dựa trên các flavanols này. Nồng độ được sử dụng trong nghiên cứu này thật ra hơi cao hơn nồng độ hiện diện trong chocolat. Đó là chưa kể chocolat, ngoài flavanols, cũng chứa các chất mỡ và đường, điều này buộc phải sử dụng một cách chừng mực.
                       Nguồn :
 LE JOURNAL DU MEDECIN (6/6/2008)


7/ HÃY ĂN NHIỀU HƠN VÀO BUỔI SÁNG.

            Nếu chúng ta muốn tránh lên cân vào lứa tuổi trung niên, thì nên ăn nhiều hơn vào buổi sáng và ăn ít hơn vào buổi chiều. Đây là điều chứng thực của nhóm nghiên cứu của L.Purslow (Anh). Nhà nghiên cứu nữ đã quan tâm đến các dữ kiện của 5.764 đàn ông và phụ nữ trong lứa tuổi 40 đến 75. Những người này được theo dõi trong 3,7 năm. Hầu như tất cả đều lên cân trong thời gian theo dõi. Những tỷ lệ lên cân là thấp nhất nơi những người hấp thụ phần lớn calories hàng ngày vào buổi sáng . Những người hấp thụ 22% đến 50% lượng calories của họ vào buổi ăn sáng trung bình lên 0,79 kg vào cuối thời kỳ theo dõi. Những người không hấp thụ hơn 11% lượng calories mỗi ngày vào buổi ăn sáng có thể trọng gia tăng trung bình 1,23kg.
                      Nguồn :
 LE JOURNAL DU MEDECIN (6/6/2008)


8/  NĂM 2007 CÓ 3 TRIỆU NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ CHỐNG BỆNH SIDA TRONG THẾ GIỚI THỨ BA.

        Cuối năm 2007, trong các nước “ có lợi tức thấp hoặc trung bình ” , các bệnh nhân nhận được điều trị chống lại virus của sida (VIH) là gần 1 triệu trường hợp nhiều hơn vào cuối năm 2006, một bản báo cáo của OMS và của Onusida đã chỉ rõ như vậy. Điều này mang số bệnh nhân được điều trị lên khoảng 3 triệu, hoặc 7 lần nhiều hơn cách nay 4 năm. Mục tiêu của sáng kiến “ 3 triệu từ nay đến năm 2005 ”, nhằm vào các nước của thế giới thứ ba, đã đạt được nhưng với 2 năm bị chậm trễ.
           Các cơ quan của Liên Hiệp Quốc nhấn mạnh sự gia tốc toàn bộ các mũi tiến, kể cả trong những lãnh vực phòng ngừa và phát hiện. “ Vào cuối năm 2007, người ta ước tính rằng 200.000 trẻ em theo một điều trị kháng rétroviral, so với 127.000 năm 2006 và 75.000 năm 2005 ”, văn kiện nói rõ như vậy.

          Vào năm 2007, 33% các phụ nữ có thai với huyết thanh dương tính đã nhận các antirétroviraux để ngăn ngừa sự lây truyền VIH cho các con của họ, so với 10% năm 2004. Số các phụ nữ có thai được xét nghiệm tìm VIH đã lên 18% trên thế giới, so với 16% năm 2006 và 10% năm 2005.

          Năm 2007, với 2,5 triệu các lây nhiễm mới, tình hình còn lâu mới chế ngự được. 

TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA.
          Theo OMS và Onusida, “ chỉ 31% những người cần được điều trị trong các nước có lợi tức thấp hay trung bình, là được hưởng một điều trị như thế vào năm 2007 ” . Ngoài ra, đa số những người sống với VIH/sida mà không hay biết về tình trạng của họ và không tiếp cận với những dịch vụ phòng ngừa và điều trị.

          Bảng báo cáo chủ trương tăng cường vai trò của lãnh vực y tế trong phòng ngừa VIH, bằng cách làm gia tốc “ sự thực thi những can thiệp đã có hiệu quả như cắt bao quy đầu, các chiến lược làm giảm các nguy cơ, sự sử dụng túi dương vật, sự phát hiện tìm VIH trong các sản phẩm máu và sự kết hợp vai trò phòng ngừa trong các chương trình có liên quan đến bệnh lao phổi, và đến sức khỏe bà mẹ và sinh sản ”. Về việc cắt bao quy đầu, một công trình được công bố ngày 2/ 6 , trong tạp chí Plos Medicine, thực hiện tại một quận ở Ouganda, chứng tỏ rằng việc cắt bao quy đầu không dẫn đến những biến chứng phụ trên những người có huyết thanh dương tính.
                                   Nguồn :
LE MONDE (3/6/2008)


9/ BỆNH MẮT HỘT ĐANG THOÁI LUI.

          Là nguyên nhân đứng đầu của mù lòa do nhiễm khuẩn, bệnh mắt hột (trachome) có thể được loại bỏ bởi một liều kháng sinh duy nhất, các nhà nghiên cứu người Anh và Tanzania đã tuyên bố như vậy trong tạp chí The New England Journal of Medicine. Bệnh mắt hột là một bệnh dịch địa phương (endémique) trong 56 nước đang phát triển. Bệnh được gây nên bởi một vi khuẩn Chlamidiae trachomatis.Vi khuẩn này gây nhiễm các tế bào của các niêm mạc mí mắt. Sự viêm nhiễm được gây ra, tạo nên các vết sẹo và sự cọ sát chúng lên mắt, cuối cùng dẫn đến mù lòa. Một chiến dịch của OMS đã mang lại nhiều thay đổi từ 10 năm qua và đã làm giảm số người bị nhiễm trùng từ 100 triệu xuống còn 43 triệu người. Tổ chức y tế thế giới quy định lau mặt đều đặn với nước sạch và dùng đến một kháng sinh bằng đường miệng, azithromycine, được sản xuất bởi phòng bào chế Pfizer. Khi một ngôi làng ở Tanzania với dân số 1000 người, dùng một liều thuốc, tỷ lệ nhiễm trùng đã sụt giảm trong 2 năm từ 9,5% xuống còn 0,1%. Một liều thứ hai đã cho phép làm biến mất bệnh mắt hột khỏi ngôi làng này.Tính hiệu quả này có vẻ là một điềm rất lành trong việc làm tiệt căn bệnh mắt hột, được ấn định vào năm 2020 bởi OMS.

                           Nguồn : SCIENCES ET AVENIR (6/2008)

 

10/ CHÚNG TA KHÔNG ĐƯỢC BÌNH ĐẲNG TRƯỚC UNG THƯ PHỔI.

         3 nhóm nghiên cứu đã chứng tỏ điều đó : những biến dị di truyền trên nhiễm sắc thể 15 làm gia tăng đến 80% nguy cơ phát triển ung thư giết người này.
         3 công trình nghiên cứu quốc tế độc lập vừa nhận diện trên nhiễm sắc thể 15 một chỉ dấu di truyền (marqueur génétique) liên kết với ung thư phổi, ung thư gây chết người nhất trên thế giới. Mỗi nhóm nghiên cứu đã sàng lọc toàn bộ bộ gène (génome) của những người lành mạnh hay bị một ung thư phổi. Kết quả : những người mang vài biến dị di truyền trên hai bản sao của nhiễm sắc thể 15, có một nguy cơ phát triển một ung thư phổi 80% cao hơn so với những người không có các biến dạng di truyền này. Những người chỉ mang biến dị di truyền trên một bản sao có nguy cơ phát triển ung thư phổi 30% cao hơn. “ Dĩ nhiên còn có nguy cơ do chứng nghiện thuốc lá nơi những người hút thuốc ”, Diana Zelenika, thuộc trung tâm génotypage quốc gia, đồng tác giả của một trong những công trình nghiên cứu đã phát biểu như vậy.Trong vùng bị biến dị của nhiễm sắc thể có nhiều gènes mã hóa các thụ thể đối với nicotine (récepteurs à la nicotine). Hai giả thuyết có thể giải thích sự liên hệ của chúng trong ung thư.     “ Những thụ thể này có thể có một tác dụng gián tiếp bằng cách làm gia tăng sự phụ thuộc đối với nicotine, một cách trực tiếp, bằng cách gây nên sự ung thư hóa của biểu mô khí quản mang những tế bào này ” .
                         Nguồn : SCIENCE ET AVENIR (6/2008)

                                BS NGUYỄN VĂN THỊNH
                                       (13/6/2008)

 

 

Trở về Trang Chính