|
1/ CÁCH TRUYỀN BỆNH CỦA VIRUS BỆNH SỞI ?
Bằng tiếp xúc trực
tiếp với các giọt nhỏ gây nhiễm hoặc bằng sự phát tán bằng đường
không khí.
2/ THỜI GIAN Ủ BỆNH CỦA BỆNH SỞI ?
Từ lúc
tiếp xúc đến lúc phát khởi triệu chứng là 8 đến 12 ngày.Từ lúc
tiếp xúc đến khi phát ban là 14 ngày.
3/ KHI NÀO THÌ CÁC
BỆNH NHÂN SỞI GÂY LÂY NHIỄM ?
Các bệnh
nhân gây lây nhiễm 1 đến 2 ngày trước khi có triệu chứng. Chúng
cũng gây lây nhiễm trong 3 đến 5 ngày trước khi phát ban, cho
đến 4 ngày sau khi ban xuất hiện.
4/ LIỆT KÊ NHỮNG TRIỆU CHỨNG VÀ DẤU CHỨNG
CHÍNH NƠI NHỮNG BỆNH NHÂN BỊ SỞI ?
- Sốt cao
- Viêm kết mạc
- Sợ ánh sáng
- Sổ mũi
- Ho
- Ban sởi
- Các đốm Koplik (Koplik ‘s spots)
5/ CÁC ĐỐM KOPLIK LÀ GÌ VÀ KHI NÀO CHÚNG XUẤT HIỆN ?
Các đốm
Koplik ( Koplik’s spots) là các đốm màu trắng-xanh nhạt, 1- 3
mm, nằm trên một bề mặt sáng đỏ, xuất hiện trước hết trên niêm
mạc miệng, đối diện với các răng hàm dưới. Các nốt này là nội
ban (enanthem) đặc hiệu của bệnh sởi. Chúng xuất hiện khoảng 10
ngày sau khi nhiễm bệnh ( trong vòng 48 giờ sau khi phát khởi
triệu chứng ). Chúng thường hiện diện khi bắt đầu phát ban. Các
đốm lan ra trên niêm mạc miệng và môi và biến mất vào ngày thứ
hai sau khi phát ban.
6/ MÔ TẢ BAN ĐIỂN HÌNH CỦA BỆNH SỞI.
- Một ban dát-sần (maculopapular),
đỏ và riêng biệt, trước hết xuất hiện ở trán, trở nên hợp lại
khi lan xuống thân mình, và xuống đến chân vào ngày thứ ba của
bệnh. Sau đó, ban phai màu cũng từ đầu đến chân như lúc xuất
hiện.
- Ban sởi xuất hiện vào ngày thứ 14
sau khi nhiễm bệnh.
7/ KỂ HAI BIẾN CHỨNG THÔNG THƯỜNG CỦA BỆNH SỞI
- nhiễm
trùng tai giữa và viêm phế quản phổi
- viêm tai giữa là biến chứng thông thường nhất của sởi
- viêm phổi và viêm não, do bội nhiễm vi khuẩn, là những
biến chứng hiếm xảy ra của sởi.
- các trẻ
bị sởi thường cần nhập viện là vì viêm phổi
- viêm não
và các di chứng thần kinh có thể xảy ra
8/ VIÊM TOÀN NÃO XƠ
CỨNG BÁN CẤP (SUBACUTE SCLEROSING PANENCEPHALITIS) LÀ GÌ ?
Viêm toàn não xơ cứng bán cấp là một
bệnh thoái hóa của hệ thần kinh trung ương, hiếm gặp, gây nên
bởi một nhiễm trùng sởi tiềm tàng, xảy ra khoảng 10 năm sau bệnh
sởi nguyên phát. Bệnh nhân bị thoái hóa dần dần trí thông minh
và hành vi và có những cơn co giật. Bệnh này không lây nhiễm.
9/ TẠI SAO CẦN MỘT LIỀU TIÊM CHỦNG SỞI THỨ HAI ?
- Có 5%
trường hợp chủng ngừa thất bại sau liều tiêm chủng sởi đầu tiên,
ngay cả khi được cho sau tuổi 12 tháng. Sau hai liều tiêm chủng,
thất bại ít thường xảy ra.
- Vaccin
được sử dụng hiện nay là một vaccin được chế tạo từ virus sống
đã được làm giảm độc lực (attenuated live virus vaccine). Sốt
xuất hiện nơi 5-15% các trẻ em, 5-6 ngày sau khi được tiêm chủng
nhưng hiếm khi hiện diện vào ngày đầu sau khi chủng.Tuổi tiêm
chủng được khuyến nghị hiện nay là 12 đến 15 tháng, với một liều
thứ hai sau 5 tuổi, hoặc ở lứa tuổi mẫu giáo (5-6 tuổi), hoặc ở
lứa tuổi tiểu học ( 11-12 tuổi).
10/ MÔ TẢ NGOẠI BAN
(EXANTHEM) ĐƯỢC THẦY TRONG BỆNH BAN ĐÀO (RUBELLA).
- Nhiều
ban dát-sần (maculopapules), màu hồng và riêng rẽ, trước hết
xuất hiện ở mặt và, cũng như trong bệnh sởi, lan xuống thân và
các chi. Ban trên mặt phai dần vào ngày thứ hai, và ban ở thân
trở nên kết hợp lại. Vào ngày thứ ba, ban biến mất, điều này
giải thích tại sao bệnh ban đào (rubella hay German measles)
cũng còn được gọi là bệnh sởi 3 ngày (3-day measles).
- Ban thường chỉ kéo dài khoảng 3 ngày và có thể
liên kết với một nội ban (enanthem) gồm các đốm đỏ trên vòm
miệng mềm (Forschheimer spots)
11/ CÁC ĐỐM FORSCHHEIMER LÀ GÌ
?
Là các chấm dát đỏ, ở vòm miệng mềm (soft palate), được
thấy trong giai đoạn đầu của bệnh ban đào. Tuy nhiên, trái với
các đốm Koplik, chúng không phải là dấu chứng đặc hiệu của bệnh
ban đào.
12/ THỜI KỲ Ủ BỆNH CỦA BỆNH QUAI BỊ ?
16 đến 18 ngày
13/ KHI NÀO THÌ BỆNH NHÂN QUAI
BỊ ĐƯỢC XEM LÀ GÂY NHIỄM ?
1 đến 2 ngày (đến 7
ngày) trước khi bắt đầu sưng tuyến mang tai.
Bệnh nhân không còn
gây nhiễm nữa 7 đến 9 ngày sau khởi đầu sưng tuyến mang tai
14/ KỂ CÁC BIẾN
CHỨNG CHÍNH CỦA BỆNH QUAI BỊ ?
- viêm não-màng não: xảy ra trong
0,5% các trường hợp, thường xảy ra ở nam giới hơn là nữ giới và
với tỷ lệ mắc bệnh hơi cao hơn sau tuổi thiếu niên. Điếc hoàn
toàn, thường một bên có thể là do thương tổn thần kinh.
- viêm tinh hoàn : tỷ lệ mắc phải
viêm tinh hoàn có thể cao đến 20% nơi các thiếu niên nam sau
tuổi dậy thì, nhưng hiếm khi xảy ra cả hai bên ; vì vậy nguy cơ
bị vô sinh thấp.
- vô sinh (hiếm)
- viêm khớp, thương tổn thận, viêm
tuyến giáp, viêm vú, và rối loạn thính giác.
- vaccin chống bệnh quai bị được sử
dụng hiện nay, là virus sống được làm giảm độc lực, và thường
được kết hợp với các vaccin chống bệnh sởi và bệnh ban đào.
15/ MỘT SINH VIÊN Y KHOA BÁO CÁO VỚI ANH RẰNG MỘT ĐỨA BÉ 3
TUỔI, SỐT, DƯỜNG NHƯ BỊ MỘT NGƯỜI NÀO ĐÓ TÁT VÀO HAI MÁ. ANH SẼ
NGHĨ ĐẾN BỆNH NHIỄM KHUẨN GÌ ?
Ban đỏ nhiễm khuẩn (erythema
infectiosum), hay còn được gọi là bệnh thứ 5 (fifth disease), là
biểu hiện thông thường nhất của nhiễm trùng bởi parvovirus B 19.
Nhiễm trùng này liên kết với một ban, đặc trưng bởi hai má đỏ
đậm ( hình dáng má bị tát : slapped-cheeked appearance) với vẻ
tái nhợt quanh miệng (circumoral pallor).Trên thân và các chi
nổi ban dát-sần (maculopapular rash), với hình dạng như ren và
mắc lưới (a lace-like or reticular appearance)
16/ NÓI RÕ TÁC NHÂN GÂY BỆNH CỦA BAN ĐỎ NHIỄM
KHUẨN ( ERYTHEMA INFECTIOSUM ) ?
- Ban đỏ nhiễm khuẩn (erythema infectiosum) còn được
gọi là mégalérythème épidémiologique hay bệnh thứ 5 (fifth
disease).
- Virus gây bệnh là Human parvovirus
B 19
17/ KỂ CÁC YẾU TỐ
LÂM SÀNG CHẨN ĐOÁN BAN ĐỎ NHIỄM KHUẨN ?
- Tuổi : 4
đến 10 tuổi
- Thời gian tiềm phục : 6 đến 15 ngày
- Sốt nhẹ + ban đỏ dát-sần, trước hết ở
mặt, với vẻ mặt bị tát (aspect souffleté)
- ban dát ở
gốc các chi có dạng vẻ mắc lưới (aspect réticulé)
- bệnh lành ngẫu nhiên trong 6 đến 10
ngày
18/ MÔ TẢ BAN ĐẶC TRƯNG TRONG BAN ĐỎ NHIỄM KHUẨN.
Hai tai đỏ và
một ban dát-sần (maculopapular rash) trên hai má kết hợp lại tạo
nên hình dạng má bị tát (slapped-cheek appearance) là những dấu
chứng khởi đầu của bệnh. Sau đó, ban lan xuống các chi với hình
ren hay mắc lưới (lace-like or reticular appearance), được tạo
nên khi vùng trung tâm của ban kết hợp trở nên sáng ra.
19/ BỆNH NHÂN VỚI BAN
ĐỎ NHIỄM KHUẨN CẦN PHẢI CÁCH LY TRONG BAO LÂU ?
bệnh nhiễm
trùng này được gây nên bởi parvovirus. Đối với hầu hết các bệnh
nhân với bệnh cảnh điển hình của má bị tát (slapped cheek) và
một ban hình ren (lace-like rash) trên các cánh tay và cẳng
chân, thì không cần đến biện pháp cách ly vào lúc chẩn đoán.Vào
lúc ban trở nên rõ rệt trên phương diện lâm sàng, những bệnh
nhân này không còn có thể gây nhiễm. Ban thường biến mất trong 3
đến 5 ngày sau khi khởi phát.
20/ CÁC BIẾN CHỨNG CỦA
BAN ĐỎ NHIỄM KHUẨN ?
- érythroblastopénie
- phù toàn
thân thai-nhau (anasarque foeto-placentaire) trong thời kỳ thai
nghén : nhiễm trùng bởi parvovirus trong thời kỳ thai nghén có
thể đưa đến thai chết hay bất sản hồng cầu (red blood cell
aplasia) với phù thai nhau (hydrops foetalis).
21/ NẾU MẸ BỊ NHIỄM BỞI PARVOVIRUS B19 TRONG THAI KỲ, NGUY CƠ
GÌ XẢY RA VỚI THAI NHI ?
Tỷ lệ mất thai là 2-10% và cao nhất khi nhiễm trùng
mẹ xảy ra trong nửa đầu của thai kỳ. Mất thai xảy ra là hậu quả
của phù thai (hydrops) do thiếu máu gây nên bởi parvovirus. Nồng
độ alpha-foetoprotein tăng cao trong máu của người mẹ có thể là
một chỉ dấu của tiên lượng xấu. Các dấu chứng nhiễm trùng bởi
parvovirus ở người lớn không đặc biệt lắm nhưng có thể gồm có
sốt, một ban dát-sần hay hình ren, và đau
khớp
22/ ĐIỀU TRỊ BAN ĐỎ NHIỄM KHUẨN
- điều trị thuần triệu
chứng
- cách xa các
phụ nữ có thai
23/ BỆNH CẢNH LÀM SÀNG CỔ ĐIỂN CỦA BAN ĐỎ ĐỘT NGỘT (ERYTHEMA
SUBITUM) ?
- Ban đỏ đột
ngột (erythema subitum) còn gọi là roseola infantum
- Trường hợp
điển hình, một đứa bé từ 6 tháng đến 2 tuổi (lớn nhất là 4 tuổi)
có bệnh sử sốt cao 3 ngày với các triệu chứng nhẹ, hoặc không có
triệu chứng nào. Sau 3 ngày, sốt hạ đột ngột, sau đó xuất hiện
một ban đỏ dạng sởi với những dát hồng và riêng rẽ. Ban bắt đầu
ở thân và sau đó lan nhanh chóng đến các chi, cổ và mặt. Vào lúc
đó thì ban làm bố mẹ lo lắng hơn là bệnh nhân.
24/ NÓI RÕ TÁC NHÂN
GÂY BỆNH CỦA BAN ĐỎ ĐỘT NGỘT
- Human
herpesvirus-6
- Ban đỏ đột ngột là một bệnh sốt cấp tính, gây bệnh
chủ yếu nơi các trẻ nhỏ tuổi từ 6 đến 36 tháng. Hiện nay, người
ta nghĩ rằng hầu hết các trường hợp được gây nên bởi human
herpes virus 6, một virus DNA thuộc họ Herpesviridae.
25/ THỜI GIAN Ủ BỆNH CỦA BỆNH THỦY ĐẬU
10 đến 20 ngày
26/ KHI NÀO THÌ
BỆNH THỦY ĐẬU GÂY LÂY NHIỄM ?
Từ 1 đến 2
ngày trước khi phát ban, cho đến khi không có các thương tổn mới
(thường là 7 đến 10 ngày sau khi phát ban). Các thương tổn không
cần phải biến mất hoàn toàn mới không còn lây nhiễm nữa, nhưng
phải đóng vảy và khô
27/ KỂ CÁC BIẾN
CHỨNG CỦA BỆNH THỦY ĐẬU ?
- Bội nhiễm
tụ cầu khuẩn vàng (staphylocoque doré)
- Bệnh phổi
do thủy đậu (pneumopathie varicelleuse) vào ngày thứ 3-4 của
phát ban
- biến chứng
thần kinh : co giật do tăng nhiệt, thất điều cấp tính tiểu não
(acute cerebellar ataxia), hộp chứng Rye, viêm não-màng não
- ban xuất
huyết đột ngột (purpura fulminans), đông máu rải rác trong lòng
mạch (CIVD), ban xuất huyết giảm tiểu cầu (purpura
thrombopénique)
- viêm thanh quản, viêm giác kết mạc
- biến chứng
nội tạng : viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim, viêm gan, viêm
khớp.
28/ THẤT ĐIỀU CẤP TÍNH TIỂU NÃO THƯỜNG ĐUỢC GÁN CHO BỆNH SIÊU
VI TRÙNG NÀO ?
Bệnh thủy
đậu. Trong trường hợp điển hinh, thất điều cấp tính tiểu não
xảy ra trong vòng mười ngày sau khi bị bệnh do siêu vi trùng.
Thất điều (ataxia) có khởi đầu cấp tính. Có thể có nhãn chấn
(nystagmus) và nói lắp (slurred speech), nhưng hầu hết trẻ em
đều bình thường. Trong trường hợp điển hình, sự phục hồi cần vài
tuần, và có thể có những di chứng thần kinh.
29/ MỘT ĐỨA TRẺ BỊ
BỆNH THUỶ ĐẬU VỚI CÁC BAN THỦY ĐẬU, SỐT CAO, VÀ VẺ MẶT NHIỄM
ĐỘC. ANH NÊN NGHĨ ĐẾN BIẾN CHỨNG GÌ ?
Khám kỹ đứa
trẻ để tìm bằng chứng của nhiễm trùng thứ phát do S.aureus và
S.pyogenes (nhóm A). Nhiễm trùng thứ phát do vi khuẩn là nguyên
thân thông thường nhất gây bệnh nặng nơi các trẻ bị thủy đậu.
Các đặc điểm lâm sàng gồm có sốt cao, vẻ mặt nhiễm độc, và một
thương tổn thủy đậu trở nên đỏ, ấm, và đau đớn. Bội nhiễm với
streptococcus nhóm A có thể tiến triển đến hoại tử tổ chức mềm,
viêm cân mạc hoại tử (necrotizing fasciitis), và nhiễm trùng máu
(sepsis).
30/ ĐIỀU TRỊ BỆNH THỦY ĐẬU KHÔNG BIẾN CHỨNG NƠI TRẺ EM ?
- Điều
trị triệu chứng
- Sát
trùng da : sau khi tắm xong, các thương tổn có thể được thấm
bằng chlorhexidine aqueuse ( Hibitane, Mefren). Không nên dùng
éosine nữa bởi vì éosine làm nhạy cảm với ánh sáng và gây dị ứng
.
- Kháng
sinh nếu có impétignation
- Nếu ngứa
: antihistaminiques (diphenhydramine)
- Cắt các móng tay
nơi trẻ em
-
Paracétamol (hay acetaminophen) nếu sốt : paracétamol 15mg/kg, 4
lần mỗi ngày. Salicylates bị chống chị định trong bệnh thủy đậu
bởi vì liên kết với hội chứng Rye.
31/ NHỮNG CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ CHỐNG VIRUS BẰNG ACICLOVIR TĨNH
MẠCH TRONG TRƯỜNG HỢP BỆNH THỦY ĐẬU ?
- suy
giảm miễn dịch (immunodépression) : mặc dầu không cần thiết đối
với các trẻ khỏe mạnh, varicella-zoster immune globulin và
acyclovir có thể cần đối với các trẻ bị suy giảm miễn dịch.
Những trẻ với hệ thống miễn dịch bị suy yếu, đặc biệt có nguy cơ
bị bệnh thủy đậu thể nặng.
- trẻ sơ
sinh : thương tổn có triệu chứng, mẹ bị ban thủy đậu từ 5 ngày
trước đến 2 ngày sau khi sinh
- phụ nữ
có thai nếu nổi ban thủy đậu 8 đến 10 ngày trước khí sinh. Bệnh
thủy đậu trong tam cá nguyệt đầu hoặc trong giai đoạn sớm của
tam cá nguyệt thứ hai có thể gây nên bệnh phôi (embryopathie)
nếu mẹ không được miễn dịch
- các thể
có biến chứng
- nhũ nhi
dưới 1 năm
- trẻ sơ
sinh : 20mg/kg/8 giờ
nhũ nhi
: 500mg/ m2/ 8 giờ trong 8 đến 10 ngày.
32/ NHỮNG BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA CẦN PHẢI THỰC HIỆN TRONG TRƯỜNG
HỢP BỊ THỦY ĐẬU ?
- nghỉ học
- cách ly
các bệnh nhân suy giảm miễn dịch bị thủy đậu
- vaccin
vivant atténué : trẻ không có tiền sử nhiễm trùng bởi VZV, bị
bệnh máu ác tính hay ung thư cơ quan đặc. Tiêm chủng được thực
hiện cách xa với thời gian hoá học trị liệu. Các thành viên
trong gia đình và nhân viên điều dưỡng tiếp xúc với trẻ suy giảm
miễn dịch cần được tiêm chủng.
- Phòng
ngừa sau khi tiếp xúc với bệnh nhân bị thuỷ đậu :
Varicella-zoster immune globulin (VZIG) được khuyến nghị đối cới
các trẻ bị suy giảm miễn dịch, các phụ nữ có thai, và các trẻ sơ
sinh tiếp xúc với mẹ bị thuỷ đậu.
33/ NÓI RÕ CÁCH TRUYỀN BỆNH VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA TĂNG BẠCH CẦU ĐƠN
NHÂN NHIỄM KHUẨN
Bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn (infectious
mononucleosis), được truyền do tiếp xúc trực tiếp và kéo dài
với các chất tiết khẩu hầu. Bệnh được gây nên bởi Epstein-Barr
virus.
34/ LIỆT KÊ CÁC TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG CỦA BỆNH
TĂNG BẠCH CẦU ĐƠN NHÂN NHIỄM KHUẨN.
- bệnh có thể khởi đầu âm ỉ và thường kéo dài vài tuần
đến vài tháng
- sốt kéo dài
một đến hai tuần
- viêm hạch bạch huyết (
lymphadenopathy) : thường không đau, da trên hạch không đỏ,
thường ở hai bên cổ, với các hạch ở vùng trên ròng rọc
(epitrochlear) của khuỷu tay, làm gợi ý bệnh tăng bạch cầu đơn
nhân nhiễm khuẩn..
- viêm amiđan và hầu
(tonsillopharyngitis) : thường có chất xuất tiết, cần cấy họng
- to lách và to gan
35/ Ở TRẺ EM VÀ NGƯỜI LỚN BỊ BỆNH TĂNG BẠCH CẦU ĐƠN NHÂN, KHÁNG
SINH NÀO KHI CHO SẼ LÀM PHÁT BAN ?
-
Ampicillin, với một cơ chế tác dụng không được rõ, có thể gây
phát ban nơi các bệnh nhân với bệnh tăng bạch cầu đơn nhân. Khi
điều trị viêm amiđan do chuỗi cầu trùng (streptococcal
tonsillitis) nơi bệnh nhân với tăng bạch cầu đơn nhân, hãy sử
dụng erythromycin thay vì ampicillin.
- Hầu như tất cả các bệnh nhân được điều trị với
ampicillin đều phát triển một ban dát-sần đỏ.
36/ MỘT THIẾU NIÊN 15 TUỔI ĐẾN PHÒNG CẤP CỨU VỚI SỐT, VIÊM
HỌNG XUẤT TIẾT, VIÊM HẠCH, VÀ TO LÁCH. ANH NGHĨ ĐẾN BỆNH TĂNG
BẠCH CẦU ĐƠN NHÂN NHIỄM KHUẨN. CẨN LÀM NHỮNG XÉT NGHIỆM GÌ ĐỂ
CHẨN ĐOÁN ?
Xét nghiệm
đếm hồng cầu bạch cầu và trắc nghiệm kháng thể dị ái
(heterophile antibody test). Đôi khi có thể thấy thiếu máu, giảm
bạch cầu, và giảm tiểu cầu. Một gia tăng số bạch cầu lympho
không điển hình ( >10%) là một dấu chứng đặc trưng của bệnh.Trắc
nghiệm kháng thể dị ái (heterophile antibody test : Monospot
test) là đặc hiệu đối với EBV.Tính nhạy cảm của trắc nghiệm này
kém nơi các trẻ nhỏ ( <5 tuổi) ; ở các thiếu niên, đáp ứng dương
tính đối với Monospot test xảy ra sau tuần lễ đầu tiên của bệnh.
37/ CÁC DẤU CHỨNG
HUYẾT HỌC TRONG BỆNH TĂNG BẠCH CẦU ĐƠN NHÂN NHIỄM KHUẨN ?
tăng lympho bào (lymphocytosis) hơn
50% và tăng lympho bào không điển hình 10% , là những dấu chứng
điển hình của bệnh, mặc dầu tỷ lệ các lympho bào không điển hình
nơi các trẻ nhỏ có thể thấp hơn so với người lớn.
38/ CÁC KHÁNG THỂ DỊ ÁI LÀ GÌ ?
Các kháng thể dị ái (heterophil
antibodies) là các kháng thể IgM huyết thanh, với khả năng làm
ngưng kết các hồng cầu ngựa ( tốt hơn là cừu bò ).
Một nồng độ kháng thể dị ái trên 40 với một
bệnh sử lâm sàng điển hình của bệnh tăng bạch cầu đơn nhân, là
những yếu tố chẩn đoán. Các kháng thể dị ái dương tính trong 90%
các trường hợp tăng bạch cầu đơn nhân, với ít các kết quả dương
tính giả. Ở trẻ em nhỏ tuổi, cần xét nghiệm huyết thanh virus
Epstein-Barr.
39/ MONOSPOT TEST LÀ GÌ ?
- trắc nghiệm này được sử dụng để
phát hiện các kháng thể dị ái huyết thanh trong bệnh tăng bạch
cầu đơn nhân nhiễm khuẩn.Trắc nghiệm dương tính nơi 70% các bệnh
nhân trong tuần lễ đầu của bệnh và nơi 85% đến 90% các bệnh nhân
trong tuần lễ thứ ba. Ở các trẻ dưới 4 tuổi, xét nghiệm này có
thể âm tính bởi vì nồng độ thấp của các kháng thể dị ái có thể
phát hiện. Xét nghiệm huyết thanh virus Epstein-Barr, nhạy cảm
hơn, nên được sử dụng trong nhóm tuổi này.
- đặc biệt là ở các trẻ em nhỏ tuổi, Monospot test hay
kháng thể dị ái (heterophile) vẫn âm tính suốt trong thời kỳ bị
bệnh, nhưng có nồng độ kháng thể chống Epstein-Barr virus đang
hoặc đã tăng cao.
40/ MÔ TẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH TĂNG BẠCH CẦU ĐƠN NHÂN KHÔNG BIẾN
CHỨNG ?
- trị liệu hổ trợ và nghỉ ngơi là
trụ cột của điều trị
- điều trị giảm đau đối với đau
họng, đau đầu và đau cổ.
- cho dịch bằng đường miệng để ngăn
ngừa mất nước do đau lúc nuốt
- giảm hoạt động bình thường : bệnh
nhân nên được cho những chỉ thị đặc biệt về việc hạn chế hoạt
động, thay đổi tùy theo mức độ nghiêm trọng của bệnh và khả năng
dung nạp của bệnh nhân.
- nếu lách lớn, cần tránh thể thao
va chạm cho đến khi dấu chứng này biến mất. Nếu một trẻ tham dự
môn thể thao va chạm hay bị một chấn thương ở vùng hạ sườn trái,
lách có thể bị vỡ.
41/ TÓM TẮT CÁC BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH TĂNG BẠCH CẦU ĐƠN NHÂN
NHIỄM KHUẨN ?
Hô hấp : nghẽn đường hô
hấp
Huyết học : giảm tiểu cầu
(thrombocytopenia)
thiếu máu
tan huyết (hemolytic anemia)
giảm bạch cầu hạt
(granulocytopenia)
Thần kinh viêm não, viêm màng não lympho
thất điều tiểu não
(cerebellar ataxia)
hội chứng
Guillain-Barré
viêm tủy ngang (transverse
myelitis)
liệt Bell
viêm dây thần kinh thị giác.
Tim
viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim
Cơ quan khác vỡ
lách
viêm mạch màng nho
(uveitis), viêm giác mạc
bệnh mãn tính
Nhiễm trùng viêm
amiđan, áp xe quanh amiđan
viêm xoang
viêm phổi
42/ VAI TRÒ CỦA CORTICOSTEROIDS
TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH TĂNG BẠCH CẦU ĐƠN NHÂN NHIỄM KHUẨN ?
Việc sử dụng steroids trong tắc
nghẽn đường hô hấp trên có thể làm giảm nhu cầu cần đến những
thủ thuật hung hãn hơn. Steroids làm giảm phù nề và sự tăng sản
tổ chức lympho trong vùng tỵ hầu. Thường có sự cải thiện trong 6
đến 24 giờ sau khi cho steroids bằng đường tĩnh mạch. Steroids
cũng có thể hữu ích đối với các biến chứng thần kinh, huyết, và
tim. Corticosteroids đã không được chứng tỏ là làm giảm chứng to
lách hay nguy cơ vỡ lách. Dexamethasone có thể được cho bằng
đường tĩnh mạch nếu bệnh nhân không thể uống thuốc. Liều lượng
tấn công khởi đầu là 1 mg/kg/ngày (tối đa 10 ngày), theo sau là
một liều 5mg/kg, mỗi 6 giờ. Sau đó bệnh nhân có thể chuyển qua
thuốc uống khi dung nạp được : prednisone, 2mg/kg/ngày (liều tối
đa, 60 đến 80 mg/ngày), chia ra mỗi 6 đến 12 giờ, trong 5 đến 7
ngày.
43/ CÁC THUỐC CHỐNG ĐAU NÀO NÊN ĐƯỢC CHO
TRONG BỆNH TĂNG BẠCH CẦU ĐƠN
NHÂN NHIỄM KHUẨN ?
Acetamiophen và Ibuprofen
44/ TRONG THỜI GIAN BAO LÂU BỆNH NHÂN CẦN LO NGẠI NGUY CƠ VỠ
LÁCH ?
Vỡ lách thường xảy ra trong tuần lễ
thứ hai hoặc thứ ba của bệnh. Bệnh nhân phải tránh môn thể thao
va chạm trong lúc to lách. Khám theo dõi để xác định xem khi nào
mới an toàn để chơi thể thao va chạm.
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(16/3/2008)
References :
- Emergency Medicine Secrets
- Pediatric Emergency Medicine Secrets
- Pediatric Secrets
- Manual of Emergency Medicine
- Pediatric Emergency Medicine
- Manual of Clinical Problems in Pediatrics
- Pédiatrie : Questions et Réponses
Trở về Trang Chính
|