Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

E-Mail: bsnguyenvanthinh@khoahoc.net

20 tháng 09 năm 2007

1/ HỢP CHỨNG HẠNG KINH TẾ (SYNDROME DE A CLASSE ECONOMIQUE) 

           Công trình nghiên cứu Wright đã chứng tỏ rằng những chuyến đi bằng đường hàng không được liên kết với một nguy cơ phát triển huyết khối-nghẽn tĩnh mạch (thrombo-embolie veineuse) nhân lên gấp 2 hoặc gặp 3 lần trong tám tuần sau một chuyến bay kéo dài hơn 4 giờ. Giáo sư Harry Buller của Amsterdam đã lợi dụng hội nghị ở Genève để cất cao tiếng kêu báo động. Ông là một trong những người đồng tác giả của công trình nghiên cứu WRIGHT (WHO Research Into Global Hazards of Travel), do OMS giao phó. 

        « Trường hợp cô bé gái người Anh chết ít lâu sau một chuyến bay đường dài (un vol long-courrier) từ Úc Đại Lợi vào năm 2000 dần dần đã bị rơi vào quên lãng ». Giáo sư Buller đã phát biểu như vậy ở hội nghị. « Thật là bất hạnh, bởi vì cái chết của cô ta đã làm sáng tỏ một vấn đề ít được ai chú ý đến quá lâu: đó là nguy cơ mắc phải huyết khối tĩnh mạch lúc đi máy bay ».

 

NHỮNG YẾU TỐ CÁ NHÂN VÀ MÔI TRƯỜNG

          Một yếu tố góp phần vào sự bất động gò bó trong các ghế ngồi chật hẹp ở hạng kinh tế của máy bay có thể là môi trường của cabine với áp xuất thấp (hypobare) và tình trạng giảm oxy (hypoxique). Mặt khác, các nguy cơ phát triển chứng huyết khối tĩnh mạch quan trọng hơn đối với những người có những bất thường máu với khuynh hướng dễ gây huyết khối (prothrombotique), những người dùng thuốc ngủ hoặc uống rượu trong lúc bay hoặc những người cao lớn hoặc rất bé nhỏ hoặc tăng thể trọng và những phụ nữ đang uống thuốc hormone ngừa thai. Một chuyến bay kéo dài 12 giờ sẽ nhân nguy cơ lên 60 lần so với một chuyến bay dưới 4 giờ. Ghế ngồi gần cửa sổ có nguy cơ gấp đôi so với chỗ ngồi phía hành lang. Và, ở những người có nhiều trong số những nguy cơ này phối hợp lại, có thể có nguy cơ tổng cọng nhân lên 100 lần. Trung bình, cứ 4.500 hành khách thì có một người sẽ phát triển huyết khối tĩnh mạch sau một chuyến bay kéo dài trên 4 giờ và 5-10% các huyết khối này sẽ gây tử vong.Với 2 tỷ người dùng máy bay mỗi năm, mối nguy cơ này cần phải được xem trọng.


PHÒNG NGỪA

       Các đôi tất dài đàn hồi (bas élastique) ít có hiệu quả trong tư thế bất động và ngay cả có thể nguy hiểm nếu quá bó chặt. Trong trường hợp này aspirine không thật sự hữu ích và có thể có nguy cơ gây chảy máu. Tiêm chích héparine rất có hiệu quả nhưng với nguy cơ xuất huyết. Xuất huyết ở độ cao 10.000m dễ trở thành tai họa. Các máy đè ép gián đoạn (appareil de compression intermittente) bắt chước tác dụng của cơ ngay cả lúc hành khách đang ngủ, sẽ có nhiều hứa hẹn trong việc phòng ngừa. Giai đoạn kế tiếp của nghiên cứu là xác định những phương pháp tốt để phòng ngừa chứng huyết khối tĩnh mạch nơi 2 tỉ người hành khách dùng đường hàng không mỗi năm. Công trình nghiên cứu WRIGHT sẽ nghiên cứu trên những hành khách có nguy cơ ở mức độ cao và trung gian. Một công trình sẽ kéo dài 4 năm với tốn phí 4 triệu Euro. (LE GENERALISTE 6/9/2007)

 

2/ CHỨNG NGỪNG THỞ LÚC NGỦ (APNEE DU SOMMEIL) VÀ MELATONINE

            Hernadez và các cộng sự viên đã nghiên cứu sự tiết mélatonine nơi 20 bệnh nhân bị chứng ngừng thở lúc ngủ (apnée du sommeil) và nơi 11 người chứng trong tình trạng khỏe mạnh. Các đo lường đã được thực hiện lúc 23 giờ, vào hai giờ sáng và vào 6 giờ sáng. Ở những người bình thường, các nhà nghiên cứu nhận thấy một cao điểm tiết mélatonine vào lúc 2 giờ sáng, những bệnh nhân bị hợp chứng ngừng thở lúc ngủ do tắc nghẽn (OSAS: Obstructive Sleep Apnea Syndrome) không có cao điểm tiết này nhưng trái lại có những nồng độ quan trọng mélatonine vào 6 sáng. Sau khi được điều trị bằng CPAP, các bệnh nhân trở lại kiểu tiết giống như những người chứng. Các tác giả kết luận rằng các bệnh nhân bị chứng OSAS có một chu kỳ tiết mélatonine bất bình thường. Việc thiếu cao điểm tiết vào ban đêm có thể giải thích phần nào khó khăn mà bệnh nhân gặp phải lúc theo đuổi chu kỳ thức-ngủ (cycle veille-sommeil) bình thường. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 11/9/2007)



3/ ĐAU CỔ VÀ HUYẾT ÁP
           Mặc dầu không biết rõ nguyên nhân tại sao, các thầy thuốc đánh bão lưng (chiropracteur) đã biết từ lâu rằng lúc xoa nắn cổ cứng và đau của bệnh nhân, huyết áp có thể bị hạ thấp. Nhóm của giáo sư J.Deuchars (Anh) đã nghiên cứu những đường dây thần kinh hiện diện giữa cổ và não bộ để chứng tỏ các cơ của cổ có thể đóng một vài trò chủ yếu trong việc kiểm soát huyết áp, nhịp tim và hô hấp như thế nào. Nghiên cứu của họ chứng tỏ rằng những nối kết (connections) này ảnh hưởng lên các vùng não bộ kiểm soát các chức năng tự trị. Thật vậy các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một mối liên hệ giữa các tế bào não nhận các tín hiệu từ cổ và nhân của tractus solitaire kiểm soát các chức năng của hệ thần kinh tự trị. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 11/9/2007)


 

4/ RƯỢU VANG ĐỎ CHỐNG UNG THU TIỀN LIỆT TUYỂN?

          Resvératrol, một polyphénol thiên nhiên, có những tính chất chống oxy hóa (anti-oxydant) và một hoạt tính chống ung thư. Chất này đặc biệt được tìm thấy trong nho đỏ, quả dâu tằm (mures) và đậu phụng. Một nhóm nghiên cứu của đại học Alabama (Hoa kỳ) đã muốn biết xem phân tử này có thể có một tác dụng hoá học bảo vệ (effet chimioprotecteur) chống ung thư tuyến tiền liệt qua sự điều hòa các thụ thể sinh dục đối với stéroides và các đuờng tín hiệu thần kinh của các yếu tố tăng trưởng (facteurs de croissance).

            Trong công trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã cho resvératrol (625 mg/kg) các chú chuột được biến đổi di truyền để mắc bệnh u xơ tiền liệt tuyết (adénome prostatique) và họ đã so sánh các chú chuột này với một nhóm kiểm chứng. Các chú chuột bị biến đổi về mặt di truyền và của nhóm kiểm chứng được thăm khám sau đó vào lứa tuổi 12 và 28 tuần. Các kết quả chứng tỏ rằng tỷ lệ mắc phải adénocarcinome có độ phân hóa thấp giảm 7,7 lần. Nguy cơ của dạng thương tổn ung thư nghiêm trọng nhất giảm 87%. Hiệu quả bảo vệ chống ung thư cực đại nhất có được sau khi cho bổ sung resvératrol trong 7 tháng. Sau cùng ở những chú chuột phát bệnh adénocarcinome, điều trị cho phép giảm hoặc làm ngưng sự tăng trưởng của khối u trong 48 % trường hợp.

          Đối với các tác giả, Curt Harper và các cộng sự viên, sự giảm tăng sinh tế bào và nồng độ của yếu tố tăng trưởng, IGF-1, sự kém điều hòa của các cơ quan tác động (effecteurs) phospho-ERKs 1 và 2 và sự gia tăng của nồng độ chất hủy (suppresseur) khối u, ER-beta, là nguồn gốc của tác dụng cản của resvératrol lên trên sự phát triển của ung thư tiền liệt tuyến.

            Cũng nhóm nghiên cứu này đã công bố các công trình được thực hiện trên chuột, chứng tỏ tác dụng của polyphénol này lên ung thư của vú. Tuy nhiên còn cần đến những nghiên cứu khác để xác định vai trò của polyphénol này trên người và với liều lượng được sử dụng là bao nhiêu. Vài tác giả đặc biệt giải thích rằng tác dụng được xác nhận ở chuột tương ứng với nồng độ tương đương với việc tiêu thụ một chai rượu vang đỏ mỗi ngày ! Thế mà, liều lượng được khuyên lại là 2 ly rượu vang đỏ mỗi ngày cho một người đàn ông và một ly cho một người đàn bà.( LE JOURNAL DU MEDECIN 11/9/2007)

 

5/ CUỘC ĐIỀU TRA QUY MÔ LỚN CỦA HOA KỲ VỀ BẢN NĂNG GIỚI TÍNH CỦA NGƯỜI GIÀ

          Một tỷ lệ quan trọng các người lớn tuổi từ 57 đến 75 tuổi vẫn tiếp tục có một cuộc sống tình dục. Các ông thường “ tích cực” hơn là các bà. Sau 75 tuổi, ¼ các người cao niên vẫn còn hoạt động tình dục.

          Đời sống tình dục không dừng lại ở tuổi 50. Mặc dầu các hình ảnh của cinéma hay quảng cáo đều cho rằng tình yêu giữa các người già là điều hoàn toàn không thể quan niệm được.     
         Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã công bố trong New England Journal of Medicine ngày 23 tháng 8 các kết quả của một điều tra tiết lộ về mặt thống kê bản năng giới tính của những người già cả nhất và xác nhận rằng tình yêu không phải chỉ là đặc quyền của giới trẻ. Mặc dầu lớn tuổi và do đó đôi khi góa vợ goá chồng hay bệnh tật, các giao hợp có hiệu quả thường ít xảy ra hơn trong khi đó số người kiêng cử lại cao hơn                                                                        

          Tại sao phải làm một cuộc điều tra như thế? Trước hết bởi vì từ năm 1940 nhiều nghiên cứu đã tập trung vào sự đánh giá bản năng giới tính nhưng lại dừng lai ở ngưỡng cửa tuổi già, sau đó là bởi vì từ nay chất lượng của đời sống tình dục cũng là một bộ phận của các tiêu chuẩn nhằm định nghĩa sự thoải mái (le bien-etre). Nhưng cũng bởi vì số người già đang gia tăng đáng kể, cùng với một số càng ngày càng gia tăng những thuốc nhằm « nâng cao » (booster) dục tính xuất hiện trên thị trường, tạo nên một khu vực y học-kinh tế mới. Tuy nhiên cần tránh mọi cách nhìn chuẩn tắc cho rằng không có giao hợp sau 80 tuổi là một dạng lệch lạc cần điều trị khẩn cấp!
         “ Ở Hoa kỳ không có những dữ kiện tiêu biểu cho phép các thầy thuốc biết được hành vi về tình dục của những người già, để giúp họ đáp ứng với những đòi hỏi của bệnh nhân ”. Các tác giả của công cuộc điều tra này (các nhà phụ khoa và các nhà xã hội học của Đại Học Chicago và Toronto) đã giải thích như thế. Để tạm chữa thiếu sót này, họ đã tuyển chọn bằng cách rút thăm 3.005 người già từ 57 đến 84 tuổi (50% đàn ông và 50% đàn bà) để trả lời một cuộc mạn đàm kéo dài về lối sống, các vấn đề về sức khỏe và giới tính. Sau đó họ đã phân tích hoạt động sinh dục theo lứa tuổi, tình trạng sức khỏe và cương vị vợ chồng.
         Các kết quả tiết lộ rằng tình dục vẫn quan trọng với tuổi già mặc dầu suy yếu dần khi tuổi càng cao : 73% các ông từ 57-64 tuổi vẫn hoạt động sinh dục tích cực, cũng như 53% các ông từ 65 đến 75 tuổi và 26% các ông từ 75 đến 85 tuổi. Tình dục là một bộ phận bao hàm cuộc sống các ông hơn các bà ở mọi lứa tuổi: từ 57-64 tuổi, 83% các ông có hoạt động tình dục tích cực so với 62% các bà ; từ 65 đến 75 tuổi, 67% các ông
hoạt động so với 40% các bà ; trên 75 tuổi, các con số này sụt xuống 5% đối với các ông và 16,7% đối với các bà. Cần ghi nhận rằng sau 75 tuổi, một nửa trong số các ông hoạt động còn có 2-3 lần giao hợp mỗi tuần.

14% CÁC ÔNG CẦN DÙNG ĐẾN THUỐC

           Mặt khác, sự việc có sức khoẻ tốt trong mọi trường hợp có tương quan với việc duy trì một hoạt động tình dục (81% các ông từ 57 đến 85 tuổi cho là mình còn có sức khỏe rất tốt đều có hoạt động sinh dục, trong khi đó tỷ lệ này là 46% đối với các ông tự cho là mình không được khỏe). Ngoài ra, bất lực là một chỉ dấu của nguy cơ bệnh tim.

            Ngoài những dữ kiện chung này, các tác giả đã muốn biết các cách làm tình khác nhau hoặc những khó khăn tình dục tùy theo tuổi, giống tính, trạng thái sức khỏe. Người ta ghi nhận rằng một số lão bà nhiều hơn lão ông đảm bảo rằng họ không còn thích thú nữa về tình dục. Còn các ông mặc dầu còn nhiều ham muốn, lại thường bị các loạn năng cương (dysfonctions érectiles). Sau cùng 14% các ông trong lứa tuổi này đã phải cần đến một thứ thuốc để cải thiện hiệu năng dục tính của họ (so với 1% các bà). Đây là một thông tin quan trọng đối với những phòng bào chế dược liệu đang tìm kiếm một ngọn gió mới cho các thuốc nhằm chửa các rối loạn cương và trong khi các dược phẩm mới nhắm kích thích dục tính nữ giới xuất hiện trên thị trường. Những sự khác nhau giữa hai giới tính cần được giải thích đồng thời lưu ý sự việc là 78% các ông trên 75 tuổi còn có một vị hôn thê hay người bạn gái, so với 40% đối với các bà cùng tuổi. Một trong các giải thích cho tính hoạt động kém hơn của phái yếu có thể là do sự việc rằng các lão bà (do tuổi thọ cao hơn các ông nhiều năm) thường cô đơn cô độc hơn. Công trình nghiên cứu không thăm dò lãnh vực tình cảm yêu đương tế nhị hơn, có lẽ một ngày nào đó.( LE FIGARO 10/9/2007)

 

6/ Ở GIỚI TRẺ : CAO HUYẾT ÁP THƯỜNG KHÔNG ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ ĐÚNG

           Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã chứng nhận rằng cao huyết áp và tiền cao huyết áp (pré-hypertension) nơi các trẻ em thường không được chẩn đoán. Các tác giả đã công bố các kết luận này trên tờ báo JAMA.

            Dịch bệnh béo phì (obésité) đang đe dọa trẻ em và thiếu niên Hoa Kỳ làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh cao huyết áp trong lứa tuổi này. Thật vậy chẩn đoán cao huyết áp ở trẻ em rất phức tạp vì lẽ các trị số huyết áp bình thường và bất bình thường thay đổi tùy theo tuổi tác, giống tính và kích thước của cơ thể.
           Matthew Hansen (Ohio, Hoa Kỳ) và các công sự viên đã tập hợp các dữ kiện của 14.187 trẻ em và thiếu niên, tuổi từ 3 đến 18 tuổi để có một ý nghĩ về mức độ thường gặp của cao huyết áp và tiền cao huyết áp không được chẩn đoán.

          Huyết áp của các trẻ em tham dự công trình nghiên cứu đã được đo ít nhất 3 lần trong thời gian giữa tháng 6 năm 1999 và tháng 9 năm 2006. Trong nhóm các trẻ em này, 507 trẻ (3,6%) đáp ứng với các tiêu chuẩn chẩn đoán cao huyết áp. Chẩn đoán được ghi chú một cách đầy đủ trong hồ sơ y khoa đối với 131 trong trong số các trẻ em này (26%). Tiền cao huyết áp đã được chẩn đoán trên 485 trẻ em (3,4%).

          Từ công trình nghiên cứu này, các tác giả kết luận rằng cao huyết áp và tiền cao huyet áp ở trẻ em thường không được chẩn đoán. Khả năng chẩn đoán được thực hiện một cách đúng đắn tùy thuộc vào tuổi của trẻ em, kích thước của nó, sự hiện diện của chứng béo phì, cũng như mức độ nghiêm trọng và tần số của những đo lường huyết áp bất thường. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 7/9/2007)

 

7/ NGUY CƠ VIÊM ÂM ĐẠO DO VI KHUẨN VÀ VIỆC TIÊU THỤ MỠ

           Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ đã quan tâm đến bệnh viêm âm đạo do vi khuẩn (vaginose bactérienne). Neggers và các cộng sự viên đã đánh giá sự liên kết giữa cách ăn uống và sự hiện diện của viêm âm đạo do vi khuẩn nơi 1.527 phụ nữ (86% phụ nữ da đen người Mỹ) được tuyển mộ cho một công trình nghiên cứu quy mô hơn về hệ khuẩn âm đạo (flore vaginale). Các phụ nữ tham gia đã điền một bảng câu hỏi về cách ăn uống và một bảng câu hỏi khác về hành vi tình dục và mức độ vệ sinh của các phụ nữ này. Một đánh giá lâm sàng trên các bà cũng đã được thực hiện.
        Theo các kết quả thu được, 42% các phụ nữ tham gia bị viêm âm đạo do vi khuẩn (số điểm Nugent = hoặc > 7) và nơi 14,9% thì đó là một viêm âm đạo do vi khuẩn thể nặng (số điểm Nugent = hoặc > 9 và PH âm đạo = hoặc > 5). Các nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng loại viêm âm đạo này đi đôi với một sự gia tăng tiêu thụ mỡ trong thức ăn. Độ nghiêm trọng của bệnh liên kết với lượng mỡ toàn bộ, (bảo hòa và không bảo hòa) được hấp thụ. Khẩu phần năng lượng (ration calorique) chỉ can dự một cách thứ yếu. Ngoài ra có sự liên kết nghịch giữa độ nghiêm trọng của nhiễm trùng và sự tiêu thụ folates, vitamin A và calcium.
         Đối với các tác giả, việc tiêu thụ gia tăng mỡ được liên kết với sự gia tăng nguy cơ bị viêm âm đạo do vi khuẩn, trong khi đó tiêu thụ nhiều folates, vitamin A và calcium có thể làm giảm nguy cơ mắc phải bệnh viêm âm đạo do vi khuẩn thể nặng. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 7/9/2007)

 

8/ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG: CẤM THỊT VÀ MỠ?

          So sánh với các bệnh nhân theo chế độ ăn uống Địa Trung Hải thì những bệnh nhân bị ung thư đại tràng theo chế độ ăn uống kiểu tây phương có nguy cơ tái phát và tử vong 3 lần nhiều hơn.

          Người ta biết rằng những yếu tố dinh dưỡng liên kết với nguy cơ mắc phải ung thư đại tràng. Trái lại người ta không biết ảnh hưởng của chế độ ăn uống nơi các bệnh nhân đã được chẩn đoán loại bệnh lý này. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ và Canada, được hướng dẫn bởi Jeffrey Meyerhardt, đã muốn thăm dò mối liên hệ giữa các kiểu ăn uống và các tái phát ung thư cũng như tỷ lệ tử vong của những bệnh nhân đã sống sót.

         Để thực hiện điều này, các tác giả đã thực hiện một nghiên cứu quan sát viễn cảnh (une étude observationnelle et prospective) nơi 1.900 bệnh nhân bị một ung thư đại tràng giai đoạn III. Các bệnh nhân này vốn đã được tuyển mộ trong một thứ nghiệm về hoá học trị liệu hổ trợ (chimiothérapie adjuvante) được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng tư 1999 và tháng năm 2001. Các bệnh nhân đã phải trả lời một bảng câu hỏi về cách thức ăn uống trong thời gian điều trị và 6 tháng sau đó. Các nhà nghiên cứu đã nhận diện hai cách dinh dưỡng chính yếu, kiểu “ thận trọng ” và kiểu “ tây phương ”: kiểu “ thận trọng ” có đặc điểm là tiêu thụ nhiều trái cây và rau xanh, thịt gia cầm và cá ; kiểu “ tây phương”  có khuynh hướng tiêu thụ thịt, mỡ, ngũ cốc tinh chế và các đồ ăn tráng miệng.

        Các kết quả cho thấy rằng trong thời gian theo dõi trung bình 5,3 năm, 324 bệnh nhân đã bị tái phát, 223 chết vì tái phát và 28 bệnh nhân chết không phải do tái phát. Theo kiểu ăn “ tây phương ” sau khi được chẩn đoán ung thư đại tràng đã được liên kết với một tỷ lệ sống sót ít tốt hơn (tái phát và chết). Những bệnh nhân này có nguy cơ bị tái phát ung thư và tử vong 3,3 lần nhiều hơn những bệnh nhân theo kiểu ăn “ thận trọng ” (những người theo chế đó ăn uống kiểu Địa Trung Hải). Và nguy cơ này không bị biến đổi một cách đáng kể bởi giới tính, tuổi tác, BMI, mức độ hoạt động vật lý hoặc điều trị. Tuy nhiên kiểu ăn tây phương không liên kết một cách có ý nghĩa với tái phát ung thư hoặc tỷ lệ tử vong.

        Đối với các tác giả, có những thói quen ăn uống tây phương có thể liên kết với một nguy cơ tái phát và tử vong gia tăng nơi những bệnh nhân bị ung thư đại tràng giai đoạn III và được điều trí bằng phẫu thuật và hóa học trị liệu hỗ trợ.

        Tuy nhiên cần những nghiên cứu khác để biết những thành phần nào của chế độ ăn uống này có ảnh hưởng lớn nhất.( LE JOURNAL DU MEDECIN 4/9/2007)

 

9/ CHỨNG CẢM MẠO CÓ LÀM BÉO PHÌ KHÔNG? 
         Một adénovirus người thường(Ad-36), được biết là nguyên nhân của những nhiễm trùng đường hô hấp và mắt nơi người, có thể biến hóa những tế bào gốc trưởng thành từ mô mỡ thành những tế bào mỡ.

         Trong công trình nghiên cứu in vitro, Pasarica và các cộng sự viên đã xác nhận rằng các tế bào gốc này vẫn không thay đổi nếu chúng không được tiếp xúc với virus. Do đó những nhiễm trùng bởi adénovirus có thể là một yếu tố góp phần vào dịch bệnh béo phì. Nghiên cứu cũng chứng tỏ rằng một gène đặc hiệu của virus có thể có can hệ trong tác dụng khởi xướng của bệnh béo phì. Các kết quả này có thể đưa đến sự phát triển một vaccin hoặc những thuốc chống virus khả dĩ giúp chống lại bệnh béo phì. Nhưng từ đó không nên kết luận rằng virus này là nguyên nhân duy nhất của bệnh béo phì mà đúng ra virus có thể chỉ là một yếu tố làm dễ mà thôi. Ngược lại, tất cả những người bị nhiễm trùng bởi virus không nhất thiết sẽ trở nên béo phì. Do đó cần có khả năng nhận diện các yếu tố làm cơ sở cho sự nhạy cảm của vài người béo phì đối với tác dụng của virus.

         Mặt khác các kết quả dịch tễ học đã chứng tỏ rằng 30% các người béo phì đã bị nhiễm trùng bởi Ad-36 so với 11% những người bình thường. Các tác giả đã thực hiện các công trình của họ trên những tế bào gốc thu được từ mô mỡ phát xuất từ những bệnh nhân đã chịu thủ thuật hút mỡ (liposuccion). Một nửa các tế bào này đã được cho tiếp xúc với Ad-36, một nửa kia thì không. Sau gần một tuần nuôi cấy, hầu hết các tế bào bị nhiễm bởi virus được biến hóa thành những tế bào mỡ. Đối với những tế bào không được cho tiếp xúc thì không có sự biến hóa này. Không phải là không có thể có sự kiện những virus khác cũng có thể dễ gây chứng béo phì. Các nhà nghiên cứu không biết thời gian trong đó virus sống còn trong cơ thể của những người béo phì cũng như thời gian tác dụng của nó một khi virus biến mất. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 4/9/2007)

 

10/ H5N1 : LÂY TRUYỀN VIRUS GIỮA NGƯỜI VỚI NGƯỜI

        Mãi đến tận ngày nay, chúng ta còn tin rằng truyền bệnh giữa người này qua người khác là điều không thể xảy ra. Thế mà tuy vậy …theo các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, một trường hợp truyền bệnh cúm gia cầm giữa người với người đúng là có thể đã xảy ra vào tháng tư năm nay ở Indonésie.

        BS Ira Longini và nhóm nghiên cứu của ông ta thuộc Fred Hutchinson Cancer Research Center ở Seattle đã so sánh hai ổ nhiễm trùng người bởi virus H5N1; một ổ nhiễm trùng đã làm thiệt mạng 8 thành viên của cùng một gia đình ở Sumatra, trong khi ổ nhiễm trùng kia ở Thổ Nhĩ Kỳ đã tấn công 8 người trong đó 4 người cuối cùng đã tử vong.
        Các nhà nghiên cứu đã có thể tìm thấy những bằng cớ thống kê rằng một lây truyền giữa người và người đã xảy ra trong ổ nhiễm được quan sát ở Sumatra; trái lại đối với các trường hợp ở Thổ Nhĩ Kỳ các nhà nghiên cứu đã không thành công xác nhận được điều đó. Tuy nhiên, theo báo cáo mà các nhà nghiên cứu đã công bố trong Journal of Emerging Infectious Diseases, không nên vì thế mà kết luận rằng một lây truyền như thế giữa người với người đã không xảy ra nơi ổ nhiễm ở Thổ Nhĩ kỳ nhưng chỉ là không có bằng cớ thống kê mà thôi.

        Dẫu sao đi nữa, ở Sumatra, hình như một phụ nữ 37 tuổi đã lây nhiễm cho cháu trai của mình. Đến lượt cháu bé này lại truyền bệnh cho bố mình. Dẫu sao các trắc nghiệm ADN đã xác nhận rằng virus được tìm thấy trong cơ thể của người cha giống với virus đã gây ra cái chết của người con của ông. Do đó nhiễm trùng đã đánh vào 2 thế hệ trước khi bị dập tắt nhưng, BS Longini đánh giá, nhiễm trùng cũng đã có thể gây ra một tai họa thật sự. Tóm lại, sự cẩn trọng là cần thiết hơn bao giờ hết.
                       

                          (LE GENERALISTE 13/9/2007)

                           
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
                                          ( 15/9/2007)

         
        

Trở về Trang Chính