|
1/ HỢP CHỨNG HẠNG KINH TẾ (SYNDROME DE A
CLASSE ECONOMIQUE)
Công trình nghiên cứu Wright đã chứng tỏ rằng những chuyến đi
bằng đường hàng không được liên kết với một nguy cơ phát triển
huyết khối-nghẽn tĩnh mạch (thrombo-embolie veineuse) nhân lên
gấp 2 hoặc gặp 3 lần trong tám tuần sau một chuyến bay kéo dài
hơn 4 giờ. Giáo sư Harry Buller của Amsterdam đã lợi dụng hội
nghị ở Genève để cất cao tiếng kêu báo động. Ông là một trong
những người đồng tác giả của công trình nghiên cứu WRIGHT (WHO
Research Into Global Hazards of Travel), do OMS giao phó.
« Trường hợp cô bé gái người Anh chết
ít lâu sau một chuyến bay đường dài (un vol long-courrier) từ Úc
Đại Lợi vào năm 2000 dần dần đã bị rơi vào quên lãng ». Giáo sư
Buller đã phát biểu như vậy ở hội nghị. « Thật là bất hạnh, bởi
vì cái chết của cô ta đã làm sáng tỏ một vấn đề ít được ai chú ý
đến quá lâu: đó là nguy cơ mắc phải huyết khối tĩnh mạch lúc đi
máy bay ».
NHỮNG YẾU TỐ CÁ NHÂN VÀ MÔI TRƯỜNG
Một yếu tố góp phần vào sự bất động
gò bó trong các ghế ngồi chật hẹp ở hạng kinh tế của máy bay có
thể là môi trường của cabine với áp xuất thấp (hypobare) và tình
trạng giảm oxy (hypoxique). Mặt khác, các nguy cơ phát triển
chứng huyết khối tĩnh mạch quan trọng hơn đối với những người có
những bất thường máu với khuynh hướng dễ gây huyết khối
(prothrombotique), những người dùng thuốc ngủ hoặc uống rượu
trong lúc bay hoặc những người cao lớn hoặc rất bé nhỏ hoặc tăng
thể trọng và những phụ nữ đang uống thuốc hormone ngừa thai. Một
chuyến bay kéo dài 12 giờ sẽ nhân nguy cơ lên 60 lần so với một
chuyến bay dưới 4 giờ. Ghế ngồi gần cửa sổ có nguy cơ gấp đôi so
với chỗ ngồi phía hành lang. Và, ở những người có nhiều trong số
những nguy cơ này phối hợp lại, có thể có nguy cơ tổng cọng nhân
lên 100 lần. Trung bình, cứ 4.500 hành khách thì có một người sẽ
phát triển huyết khối tĩnh mạch sau một chuyến bay kéo dài trên
4 giờ và 5-10% các huyết khối này sẽ gây tử vong.Với 2 tỷ người
dùng máy bay mỗi năm, mối nguy cơ này cần phải được xem trọng.
PHÒNG NGỪA
Các đôi tất dài đàn hồi (bas
élastique) ít có hiệu quả trong tư thế bất động và ngay cả có
thể nguy hiểm nếu quá bó chặt. Trong trường hợp này aspirine
không thật sự hữu ích và có thể có nguy cơ gây chảy máu. Tiêm
chích héparine rất có hiệu quả nhưng với nguy cơ xuất huyết.
Xuất huyết ở độ cao 10.000m dễ trở thành tai họa. Các máy đè ép
gián đoạn (appareil de compression intermittente) bắt chước tác
dụng của cơ ngay cả lúc hành khách đang ngủ, sẽ có nhiều hứa hẹn
trong việc phòng ngừa. Giai đoạn kế tiếp của nghiên cứu là xác
định những phương pháp tốt để phòng ngừa chứng huyết khối tĩnh
mạch nơi 2 tỉ người hành khách dùng đường hàng không mỗi năm.
Công trình nghiên cứu WRIGHT sẽ nghiên cứu trên những hành khách
có nguy cơ ở mức độ cao và trung gian. Một công trình sẽ kéo dài
4 năm với tốn phí 4 triệu Euro. (LE GENERALISTE 6/9/2007)
2/ CHỨNG NGỪNG THỞ LÚC NGỦ (APNEE DU SOMMEIL)
VÀ MELATONINE
Hernadez và các cộng sự viên
đã nghiên cứu sự tiết mélatonine nơi 20 bệnh nhân bị chứng ngừng
thở lúc ngủ (apnée du sommeil) và nơi 11 người chứng trong tình
trạng khỏe mạnh. Các đo lường đã được thực hiện lúc 23 giờ, vào
hai giờ sáng và vào 6 giờ sáng. Ở những người bình thường, các
nhà nghiên cứu nhận thấy một cao điểm tiết mélatonine vào lúc 2
giờ sáng, những bệnh nhân bị hợp chứng ngừng thở lúc ngủ do tắc
nghẽn (OSAS: Obstructive Sleep Apnea Syndrome) không có cao điểm
tiết này nhưng trái lại có những nồng độ quan trọng mélatonine
vào 6 sáng. Sau khi được điều trị bằng CPAP, các bệnh nhân trở
lại kiểu tiết giống như những người chứng. Các tác giả kết luận
rằng các bệnh nhân bị chứng OSAS có một chu kỳ tiết mélatonine
bất bình thường. Việc thiếu cao điểm tiết vào ban đêm có thể
giải thích phần nào khó khăn mà bệnh nhân gặp phải lúc theo đuổi
chu kỳ thức-ngủ (cycle veille-sommeil) bình thường. ( LE JOURNAL DU MEDECIN
11/9/2007)
3/ ĐAU CỔ VÀ HUYẾT ÁP
Mặc
dầu không biết
rõ nguyên nhân tại sao, các thầy thuốc đánh bão lưng
(chiropracteur) đã biết từ lâu rằng lúc xoa nắn cổ cứng và đau
của bệnh nhân, huyết áp có thể bị hạ thấp. Nhóm của giáo sư
J.Deuchars (Anh) đã nghiên cứu những đường dây thần kinh hiện
diện giữa cổ và não bộ để chứng tỏ các cơ của cổ có thể đóng một
vài trò chủ yếu trong việc kiểm soát huyết áp, nhịp tim và hô
hấp như thế nào. Nghiên cứu của họ chứng tỏ rằng những nối kết
(connections) này ảnh hưởng lên các vùng não bộ kiểm soát các
chức năng tự trị. Thật vậy các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một
mối liên hệ giữa các tế bào não nhận các tín hiệu từ cổ và nhân
của tractus solitaire kiểm soát các chức năng của hệ thần kinh
tự trị. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 11/9/2007)
4/ RƯỢU VANG ĐỎ CHỐNG UNG THU TIỀN LIỆT
TUYỂN?
Resvératrol, một polyphénol thiên nhiên, có những tính
chất chống oxy hóa (anti-oxydant) và một hoạt tính chống ung
thư. Chất này đặc biệt được tìm thấy trong nho đỏ, quả dâu tằm
(mures) và đậu phụng. Một nhóm nghiên cứu của đại học Alabama
(Hoa kỳ) đã muốn biết xem phân tử này có thể có một tác dụng hoá
học bảo vệ (effet chimioprotecteur) chống ung thư tuyến tiền
liệt qua sự điều hòa các thụ thể sinh dục đối với stéroides và
các đuờng tín hiệu thần kinh của các yếu tố tăng trưởng
(facteurs de croissance).
Trong công trình nghiên cứu, các
nhà nghiên cứu đã cho resvératrol (625 mg/kg) các chú chuột được
biến đổi di truyền để mắc bệnh u xơ tiền liệt tuyết (adénome
prostatique) và họ đã so sánh các chú chuột này với một nhóm
kiểm chứng. Các chú chuột bị biến đổi về mặt di truyền và của
nhóm kiểm chứng được thăm khám sau đó vào lứa tuổi 12 và 28
tuần. Các kết quả chứng tỏ rằng tỷ lệ mắc phải adénocarcinome có
độ phân hóa thấp giảm 7,7 lần. Nguy cơ của dạng thương tổn ung
thư nghiêm trọng nhất giảm 87%. Hiệu quả bảo vệ chống ung thư
cực đại nhất có được sau khi cho bổ sung resvératrol trong 7
tháng. Sau cùng ở những chú chuột phát bệnh adénocarcinome, điều
trị cho phép giảm hoặc làm ngưng sự tăng trưởng của khối u trong
48 % trường hợp.
Đối với các tác giả, Curt Harper và
các cộng sự viên, sự giảm tăng sinh tế bào và nồng độ của yếu tố
tăng trưởng, IGF-1, sự kém điều hòa của các cơ quan tác động
(effecteurs) phospho-ERKs 1 và 2 và sự gia tăng của nồng độ chất
hủy (suppresseur) khối u, ER-beta, là nguồn gốc của tác dụng cản
của resvératrol lên trên sự phát triển của ung thư tiền liệt
tuyến.
Cũng nhóm nghiên cứu này đã
công bố các công trình được thực hiện trên chuột, chứng tỏ tác
dụng của polyphénol này lên ung thư của vú. Tuy nhiên còn cần
đến những nghiên cứu khác để xác định vai trò của polyphénol này
trên người và với liều lượng được sử dụng là bao nhiêu. Vài tác
giả đặc biệt giải thích rằng tác dụng được xác nhận ở chuột
tương ứng với nồng độ tương đương với việc tiêu thụ một chai
rượu vang đỏ mỗi ngày ! Thế mà, liều lượng được khuyên lại là 2
ly rượu vang đỏ mỗi ngày cho một người đàn ông và một ly cho một
người đàn bà.( LE JOURNAL DU MEDECIN 11/9/2007)
5/ CUỘC ĐIỀU TRA QUY MÔ LỚN CỦA HOA KỲ VỀ BẢN NĂNG GIỚI TÍNH CỦA
NGƯỜI GIÀ
Một tỷ lệ quan trọng các người lớn
tuổi từ 57 đến 75 tuổi vẫn tiếp tục có một cuộc sống tình dục.
Các ông thường “ tích cực” hơn là các bà. Sau 75 tuổi, ¼ các
người cao niên vẫn còn hoạt động tình dục.
Đời sống tình dục không dừng lại ở
tuổi 50. Mặc dầu các hình ảnh của cinéma hay quảng cáo đều cho
rằng tình yêu giữa các người già là điều hoàn toàn không thể
quan niệm được.
Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã công bố trong New England
Journal of Medicine ngày 23 tháng 8 các kết quả của một điều tra
tiết lộ về mặt thống kê bản năng giới tính của những người già
cả nhất và xác nhận rằng tình yêu không phải chỉ là đặc quyền
của giới trẻ. Mặc dầu lớn tuổi và do đó đôi khi góa vợ goá chồng
hay bệnh tật, các giao hợp có hiệu quả thường ít xảy ra hơn
trong khi đó số người kiêng cử lại cao hơn
Tại sao phải làm một cuộc điều tra như thế? Trước hết
bởi vì từ năm 1940 nhiều nghiên cứu đã tập trung vào sự đánh giá
bản năng giới tính nhưng lại dừng lai ở ngưỡng cửa tuổi già, sau
đó là bởi vì từ nay chất lượng của đời sống tình dục cũng là một
bộ phận của các tiêu chuẩn nhằm định nghĩa sự thoải mái (le
bien-etre). Nhưng cũng bởi vì số người già đang gia tăng đáng
kể, cùng với một số càng ngày càng gia tăng những thuốc nhằm «
nâng cao » (booster) dục tính xuất hiện trên thị trường, tạo nên
một khu vực y học-kinh tế mới. Tuy nhiên cần tránh mọi cách nhìn
chuẩn tắc cho rằng không có giao hợp sau 80 tuổi là một dạng
lệch lạc cần điều trị khẩn cấp!
“ Ở Hoa kỳ không có những dữ kiện tiêu biểu cho phép
các thầy thuốc biết được hành vi về tình dục của những người
già, để giúp họ đáp ứng với những đòi hỏi của bệnh nhân ”. Các
tác giả của công cuộc điều tra này (các nhà phụ khoa và các nhà
xã hội học của Đại Học Chicago và Toronto) đã giải thích như
thế. Để tạm chữa thiếu sót này, họ đã tuyển chọn bằng cách rút
thăm 3.005 người già từ 57 đến 84 tuổi (50% đàn ông và 50% đàn
bà) để trả lời một cuộc mạn đàm kéo dài về lối sống, các vấn đề
về sức khỏe và giới tính. Sau đó họ đã phân tích hoạt động sinh
dục theo lứa tuổi, tình trạng sức khỏe và cương vị vợ chồng.
Các kết quả tiết lộ rằng tình dục vẫn quan trọng với
tuổi già mặc dầu suy yếu dần khi tuổi càng cao : 73% các ông từ
57-64 tuổi vẫn hoạt động sinh dục tích cực, cũng như 53% các ông
từ 65 đến 75 tuổi và 26% các ông từ 75 đến 85 tuổi. Tình dục là
một bộ phận bao hàm cuộc sống các ông hơn các bà ở mọi lứa tuổi:
từ 57-64 tuổi, 83% các ông có hoạt động tình dục tích cực so với
62% các bà ; từ 65 đến 75 tuổi, 67% các ông
hoạt động so với 40%
các bà ; trên 75 tuổi, các con số này sụt xuống 5% đối với các
ông và 16,7% đối với các bà. Cần ghi nhận rằng sau 75 tuổi, một
nửa trong số các ông hoạt động còn có 2-3 lần giao hợp mỗi tuần.
14% CÁC ÔNG CẦN DÙNG ĐẾN THUỐC
Mặt khác, sự việc có sức khoẻ tốt trong mọi trường
hợp có tương quan với việc duy trì một hoạt động tình dục (81%
các ông từ 57 đến 85 tuổi cho là mình còn có sức khỏe rất tốt
đều có hoạt động sinh dục, trong khi đó tỷ lệ này là 46% đối với
các ông tự cho là mình không được khỏe). Ngoài ra, bất lực là
một chỉ dấu của nguy cơ bệnh tim.
Ngoài những dữ kiện chung này,
các tác giả đã muốn biết các cách làm tình khác nhau hoặc những
khó khăn tình dục tùy theo tuổi, giống tính, trạng thái sức
khỏe. Người ta ghi nhận rằng một số lão bà nhiều hơn lão ông đảm
bảo rằng họ không còn thích thú nữa về tình dục. Còn các ông mặc
dầu còn nhiều ham muốn, lại thường bị các loạn năng cương
(dysfonctions érectiles). Sau cùng 14% các ông trong lứa tuổi
này đã phải cần đến một thứ thuốc để cải thiện hiệu năng dục
tính của họ (so với 1% các bà). Đây là một thông tin quan trọng
đối với những phòng bào chế dược liệu đang tìm kiếm một ngọn gió
mới cho các thuốc nhằm chửa các rối loạn cương và trong khi các
dược phẩm mới nhắm kích thích dục tính nữ giới xuất hiện trên
thị trường. Những sự khác nhau giữa hai giới tính cần được giải
thích đồng thời lưu ý sự việc là 78% các ông trên 75 tuổi còn có
một vị hôn thê hay người bạn gái, so với 40% đối với các bà cùng
tuổi. Một trong các giải thích cho tính hoạt động kém hơn của
phái yếu có thể là do sự việc rằng các lão bà (do tuổi thọ cao
hơn các ông nhiều năm) thường cô đơn cô độc hơn. Công trình
nghiên cứu không thăm dò lãnh vực tình cảm yêu đương tế nhị hơn,
có lẽ một ngày nào đó.( LE FIGARO 10/9/2007)
6/ Ở
GIỚI TRẺ : CAO HUYẾT ÁP THƯỜNG KHÔNG ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ ĐÚNG
Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã chứng nhận rằng cao
huyết áp và tiền cao huyết áp (pré-hypertension) nơi các trẻ em
thường không được chẩn đoán. Các tác giả đã công bố các kết luận
này trên tờ báo JAMA.
Dịch bệnh béo phì (obésité) đang đe
dọa trẻ em và thiếu niên Hoa Kỳ làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh cao
huyết áp trong lứa tuổi này. Thật vậy chẩn đoán cao huyết áp ở
trẻ em rất phức tạp vì lẽ các trị số huyết áp bình thường và bất
bình thường thay đổi tùy theo tuổi tác, giống tính và kích thước
của cơ thể.
Matthew Hansen (Ohio, Hoa Kỳ) và các công sự viên đã
tập hợp các dữ kiện của 14.187 trẻ em và thiếu niên, tuổi từ 3
đến 18 tuổi để có một ý nghĩ về mức độ thường gặp của cao huyết
áp và tiền cao huyết áp không được chẩn đoán.
Huyết áp của các trẻ em tham dự công
trình nghiên cứu đã được đo ít nhất 3 lần trong thời gian giữa
tháng 6 năm 1999 và tháng 9 năm 2006. Trong nhóm các trẻ em này,
507 trẻ (3,6%) đáp ứng với các tiêu chuẩn chẩn đoán cao huyết
áp. Chẩn đoán được ghi chú một cách đầy đủ trong hồ sơ y khoa
đối với 131 trong trong số các trẻ em này (26%). Tiền cao huyết
áp đã được chẩn đoán trên 485 trẻ em (3,4%).
Từ công trình nghiên cứu này, các tác
giả kết luận rằng cao huyết áp và tiền cao huyet áp ở trẻ em
thường không được chẩn đoán. Khả năng chẩn đoán được thực hiện
một cách đúng đắn tùy thuộc vào tuổi của trẻ em, kích thước của
nó, sự hiện diện của chứng béo phì, cũng như mức độ nghiêm trọng
và tần số của những đo lường huyết áp bất thường. ( LE
JOURNAL DU MEDECIN 7/9/2007)
7/ NGUY CƠ VIÊM ÂM ĐẠO DO VI KHUẨN VÀ VIỆC
TIÊU THỤ MỠ
Một công trình nghiên cứu của
Hoa Kỳ đã quan tâm đến bệnh viêm âm đạo do vi khuẩn (vaginose
bactérienne). Neggers và các cộng sự viên đã đánh giá sự liên
kết giữa cách ăn uống và sự hiện diện của viêm âm đạo do vi
khuẩn nơi 1.527 phụ nữ (86% phụ nữ da đen người Mỹ) được tuyển
mộ cho một công trình nghiên cứu quy mô hơn về hệ khuẩn âm đạo
(flore vaginale). Các phụ nữ tham gia đã điền một bảng câu hỏi
về cách ăn uống và một bảng câu hỏi khác về hành vi tình dục và
mức độ vệ sinh của các phụ nữ này. Một đánh giá lâm sàng trên
các bà cũng đã được thực hiện.
Theo các kết quả thu được, 42% các phụ nữ tham gia bị
viêm âm đạo do vi khuẩn (số điểm Nugent = hoặc > 7) và nơi 14,9%
thì đó là một viêm âm đạo do vi khuẩn thể nặng (số điểm Nugent =
hoặc > 9 và PH âm đạo = hoặc > 5). Các nhà nghiên cứu đã nhận
xét rằng loại viêm âm đạo này đi đôi với một sự gia tăng tiêu
thụ mỡ trong thức ăn. Độ nghiêm trọng của bệnh liên kết với
lượng mỡ toàn bộ, (bảo hòa và không bảo hòa) được hấp thụ. Khẩu
phần năng lượng (ration calorique) chỉ can dự một cách thứ yếu.
Ngoài ra có sự liên kết nghịch giữa độ nghiêm trọng của nhiễm
trùng và sự tiêu thụ folates, vitamin A và calcium.
Đối với các tác
giả, việc tiêu thụ gia tăng mỡ được liên kết với sự gia tăng
nguy cơ bị viêm âm đạo do vi khuẩn, trong khi đó tiêu thụ nhiều
folates, vitamin A và calcium có thể làm giảm nguy cơ mắc phải
bệnh viêm âm đạo do vi khuẩn thể nặng. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 7/9/2007)
8/ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG: CẤM THỊT VÀ MỠ?
So sánh với các bệnh nhân theo chế độ ăn uống Địa
Trung Hải thì những bệnh nhân bị ung thư đại tràng theo chế độ
ăn uống kiểu tây phương có nguy cơ tái phát và tử vong 3 lần
nhiều hơn.
Người ta biết rằng những yếu tố
dinh dưỡng liên kết với nguy cơ mắc phải ung thư đại tràng. Trái
lại người ta không biết ảnh hưởng của chế độ ăn uống nơi các
bệnh nhân đã được chẩn đoán loại bệnh lý này. Một nhóm nghiên
cứu Hoa Kỳ và Canada, được hướng dẫn bởi Jeffrey Meyerhardt, đã
muốn thăm dò mối liên hệ giữa các kiểu ăn uống và các tái phát
ung thư cũng như tỷ lệ tử vong của những bệnh nhân đã sống sót.
Để thực hiện điều này, các tác giả
đã thực hiện một nghiên cứu quan sát viễn cảnh (une étude
observationnelle et prospective) nơi 1.900 bệnh nhân bị một ung
thư đại tràng giai đoạn III. Các bệnh nhân này vốn đã được tuyển
mộ trong một thứ nghiệm về hoá học trị liệu hổ trợ
(chimiothérapie adjuvante) được thực hiện trong khoảng thời gian
từ tháng tư 1999 và tháng năm 2001. Các bệnh nhân đã phải trả
lời một bảng câu hỏi về cách thức ăn uống trong thời gian điều
trị và 6 tháng sau đó. Các nhà nghiên cứu đã nhận diện hai cách
dinh dưỡng chính yếu, kiểu “ thận trọng ” và kiểu “ tây phương
”: kiểu “ thận trọng ” có đặc điểm là tiêu thụ nhiều trái cây và
rau xanh, thịt gia cầm và cá ; kiểu “ tây phương” có khuynh
hướng tiêu thụ thịt, mỡ, ngũ cốc tinh chế và các đồ ăn tráng
miệng.
Các kết quả cho thấy
rằng trong thời gian theo dõi trung bình 5,3 năm, 324 bệnh nhân
đã bị tái phát, 223 chết vì tái phát và 28 bệnh nhân chết không
phải do tái phát. Theo kiểu ăn “ tây phương ” sau khi được chẩn
đoán ung thư đại tràng đã được liên kết với một tỷ lệ sống sót
ít tốt hơn (tái phát và chết). Những bệnh nhân này có nguy cơ bị
tái phát ung thư và tử vong 3,3 lần nhiều hơn những bệnh nhân
theo kiểu ăn “ thận trọng ” (những người theo chế đó ăn uống
kiểu Địa Trung Hải). Và nguy cơ này không bị biến đổi một cách
đáng kể bởi giới tính, tuổi tác, BMI, mức độ hoạt động vật lý
hoặc điều trị. Tuy nhiên kiểu ăn tây phương không liên kết một
cách có ý nghĩa với tái phát ung thư hoặc tỷ lệ tử vong.
Đối với các tác giả, có những thói quen ăn uống tây
phương có thể liên kết với một nguy cơ tái phát và tử vong gia
tăng nơi những bệnh nhân bị ung thư đại tràng giai đoạn III và
được điều trí bằng phẫu thuật và hóa học trị liệu hỗ trợ.
Tuy nhiên cần những nghiên cứu khác
để biết những thành phần nào của chế độ ăn uống này có ảnh hưởng
lớn nhất.( LE JOURNAL
DU MEDECIN 4/9/2007)
9/ CHỨNG CẢM MẠO CÓ
LÀM BÉO PHÌ KHÔNG?
Một adénovirus người thường(Ad-36), được biết là nguyên
nhân của những nhiễm trùng đường hô hấp và mắt nơi người, có thể
biến hóa những tế bào gốc trưởng thành từ mô mỡ thành những tế
bào mỡ.
Trong công trình nghiên cứu in vitro, Pasarica và các
cộng sự viên đã xác nhận rằng các tế bào gốc này vẫn không thay
đổi nếu chúng không được tiếp xúc với virus. Do đó những nhiễm
trùng bởi adénovirus có thể là một yếu tố góp phần vào dịch bệnh
béo phì. Nghiên cứu cũng chứng tỏ rằng một gène đặc hiệu của
virus có thể có can hệ trong tác dụng khởi xướng của bệnh béo
phì. Các kết quả này có thể đưa đến sự phát triển một vaccin
hoặc những thuốc chống virus khả dĩ giúp chống lại bệnh béo phì.
Nhưng từ đó không nên kết luận rằng virus này là nguyên nhân duy
nhất của bệnh béo phì mà đúng ra virus có thể chỉ là một yếu tố
làm dễ mà thôi. Ngược lại, tất cả những người bị nhiễm trùng bởi
virus không nhất thiết sẽ trở nên béo phì. Do đó cần có khả năng
nhận diện các yếu tố làm cơ sở cho sự nhạy cảm của vài người béo
phì đối với tác dụng của virus.
Mặt khác các kết quả dịch tễ học đã
chứng tỏ rằng 30% các người béo phì đã bị nhiễm trùng bởi Ad-36
so với 11% những người bình thường. Các tác giả đã thực hiện các
công trình của họ trên những tế bào gốc thu được từ mô mỡ phát
xuất từ những bệnh nhân đã chịu thủ thuật hút mỡ (liposuccion).
Một nửa các tế bào này đã được cho tiếp xúc với Ad-36, một nửa
kia thì không. Sau gần một tuần nuôi cấy, hầu hết các tế bào bị
nhiễm bởi virus được biến hóa thành những tế bào mỡ. Đối với
những tế bào không được cho tiếp xúc thì không có sự biến hóa
này. Không phải là không có thể có sự kiện những virus khác cũng
có thể dễ gây chứng béo phì. Các nhà nghiên cứu không biết thời
gian trong đó virus sống còn trong cơ thể của những người béo
phì cũng như thời gian tác dụng của nó một khi virus biến mất.
( LE JOURNAL
DU MEDECIN 4/9/2007)
10/ H5N1 : LÂY TRUYỀN VIRUS GIỮA NGƯỜI VỚI
NGƯỜI
Mãi đến tận ngày nay, chúng ta còn
tin rằng truyền bệnh giữa người này qua người khác là điều không
thể xảy ra. Thế mà tuy vậy …theo các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, một
trường hợp truyền bệnh cúm gia cầm giữa người với người đúng là
có thể đã xảy ra vào tháng tư năm nay ở Indonésie.
BS Ira Longini và nhóm nghiên cứu của
ông ta thuộc Fred Hutchinson Cancer Research Center ở Seattle đã
so sánh hai ổ nhiễm trùng người bởi virus H5N1; một ổ nhiễm
trùng đã làm thiệt mạng 8 thành viên của cùng một gia đình ở
Sumatra, trong khi ổ nhiễm trùng kia ở Thổ Nhĩ Kỳ đã tấn công 8
người trong đó 4 người cuối cùng đã tử vong.
Các nhà nghiên cứu đã có thể tìm thấy những bằng cớ
thống kê rằng một lây truyền giữa người và người đã xảy ra trong
ổ nhiễm được quan sát ở Sumatra; trái lại đối với các trường hợp
ở Thổ Nhĩ Kỳ các nhà nghiên cứu đã không thành công xác nhận
được điều đó. Tuy nhiên, theo báo cáo mà các nhà nghiên cứu đã
công bố trong Journal of Emerging Infectious Diseases, không nên
vì thế mà kết luận rằng một lây truyền như thế giữa người với
người đã không xảy ra nơi ổ nhiễm ở Thổ Nhĩ kỳ nhưng chỉ là
không có bằng cớ thống kê mà thôi.
Dẫu
sao đi nữa, ở Sumatra, hình như một phụ nữ 37 tuổi đã lây nhiễm
cho cháu trai của mình. Đến lượt cháu bé này lại truyền bệnh cho
bố mình. Dẫu sao các trắc nghiệm ADN đã xác nhận rằng virus được
tìm thấy trong cơ thể của người cha giống với virus đã gây ra
cái chết của người con của ông. Do đó nhiễm trùng đã đánh vào 2
thế hệ trước khi bị dập tắt nhưng, BS Longini đánh giá, nhiễm
trùng cũng đã có thể gây ra một tai họa thật sự. Tóm lại, sự cẩn
trọng là cần thiết hơn bao giờ hết.
(LE
GENERALISTE 13/9/2007)
BS NGUYỄN
VĂN THỊNH
( 15/9/2007)
Trở về Trang Chính
|