Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

E-Mail: bsnguyenvanthinh@khoahoc.net

20 tháng 12 năm 2007

1/ MỘT CĂN BỆNH ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ BỞI CÁC TẾ BÀO GỐC.

          Bệnh thiếu máu hình liềm (anémie falciforme), một căn bệnh xảy ra nơi người, được biểu hiện ở chuột, đã được chữa lành bởi những tế bào gốc được sản xuất không phải từ phôi thai

          Trong vòng chưa được hai tuần, công cuộc nghiên cứu về các tế bào gốc đã đồng thời kinh qua một cuộc cách mạng và một sự gia tốc chưa từng có. Cùng lúc, hai nhóm các nhà nghiên cứu độc lập đã công bố hôm 12 tháng 11 vừa qua các kết quả của các công trình vang dội. Thật vậy 2 nhóm nghiên cứu này đã thành công « làm trẻ hóa » các tế bào trưởng thành của da để làm chúng giống hệt với các tế bào gốc phôi thai (cellules souches embryonnaires) mà không cần phải kinh qua giai đoạn nhân dòng (clonage) của phôi thai và như vậy thoát khỏi những vấn đề đạo đức liên quan với giai đoạn này.
        Lần này, đó là một bằng cớ về nguyên tắc (preuve de principe) đầu tiên rằng một căn bệnh xảy ra nơi người, bệnh hồng cầu hình liềm (drépanocytose), cũng được biết dưới tên thiếu máu hình liềm (anémie falciforme), có thể được chữa lành bằng những tế bào gốc được sản sinh như thế. Một nhóm các nhà nghiên cứu của Whitehead Institute for Biomedical Research de Cambridge (Massachusetts) hôm qua đã công bố các kết quả của công trình này trên site Internet của tạp chí Science. Bệnh hồng cầu hình liềm là một bệnh di truyền của hémoglobine, phân tử tải oxy được chứa trong các hồng cầu. Các hồng cầu của những người bị bệnh thiếu máu hình liềm có  hình lưỡi liềm và hémoglobine bất thường mà chúng chứa có khuynh hướng kết tinh. Các bệnh nhân ở châu Phi và Địa Trung Hải bị thiếu máu, dễ bị nhiễm trùng và các cục máu đông bít các mạch máu của các bệnh nhân này lại.


CHUỘT ĐƯỢC NHÂN TÍNH HÓA (SOURIS HUMANISES)

        Chính trong một mô hình động vật ( trên chuột) mà việc điều trị bệnh này đã được thực hiện thành công .Thật vậy có những chú chuột được nhân tính hóa (souris humanisés) có những tế bào biểu hiện hémoglobine người đột biến của bệnh hồng cầu hình liềm. Trước hết người ta lấy các tế bào da trên đuôi của những chú chuột này. Cũng như trong các phương pháp của Nhật và Hoa Kỳ được công bố vào giữa tháng 11 trong Cell et Science, các tế bào được nuôi cấy đã tiếp nhận những biến đổi di truyền ( 4 gènes) làm tái lập chương trình (reprogrammer)  tế bào. Các tế bào này trẻ đi và giống hệt với các tế bào gốc phôi thai. 24 dòng (lignées) các tế bào gốc đã được xác lập, rồi được biến đổi nhờ những yếu tố hormone khác thành các tế bào gốc sinh huyết  (cellules souches hématopoiétiques), là nguồn gốc của các hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu trong tủy xương. Sau đó một trong các dòng này đã nhận gène của hémoglobine bình thường, thay thế cho gène bệnh của nó . Đó là một kỹ thuật được mệnh danh là « ciblage génétique spécifique ».
           Chỉ một vài trong các tế bào được tái lập chương trình như thế là đã sinh ra các tế bào gốc sinh huyết bình thường. Một khi đã thu được những tế bào gốc « thuốc » (cellules souches médicaments) này rồi, các nhà nghiên cứu đã tiêm vào các chú chuột bị bệnh hồng cầu  hình liềm của người. Không những các nhà nghiên cứu đã thành công sửa chữa được khuyết tật của hémoglobine, bằng cách thay thế 65% hémoglobine bị bệnh bằng các hémoglobine lành mạnh, mà công trình nghiên cứu về các hồng cầu mới, được sản xuất từ các tế bào gốc bị biến đổi này là đáng phấn khởi .Triệu chứng thiếu máu ít hơn, tủy xương chế tạo các hồng cầu mới có kích thước, hình dáng gần với bình thường hơn.
         Ở những người bị bệnh hồng cầu liềm, một trong những dấu chứng chính là sự sản xuất rất nhiều các tế bào hồng cầu trẻ không trưởng thành (các réticulocytes) để bù lại sự chết sớm của các tế bào hồng cầu trưởng thành : ở điểm này cũng vậy, số các tế bào này giảm đi nơi các chú chuột được điều trị.( LE FIGARO 7/12/2007)

 

2/ NHỮNG BIÊN GIỚI CỦA TUỔI GIÀ KHÔNG NGỪNG BỊ LÙI LẠI

         Càng ngày càng có nhiều người già trên thế giới. Nhưng họ càng ngày càng hoạt động và độc lập cho đến một lứa tuổi đã cao.

        Trên thế giới hiện có 600 triệu người trên 60 tuổi, hoặc 3 lần nhiều hơn cách nay 50 năm và đến năm 2050 sẽ có 2 tỷ người trên 60 tuổi, hoặc 3 lần nhiều hơn hôm nay.Việc gia tăng những người già trên hành tinh của chúng ta là do tỷ lệ sinh đẻ và tử vong thấp hơn. « Cuộc cách mạng tuổi thọ » ( la révolution de la longévité) này, theo từ ngữ của giáo sư Françoise Forette, bà chủ tịch của Cơ quan  lão khoa quốc gia, do những sự biến đổi có tính cách lịch sử , cần phải kế hoạch hóa tương lai, về lao động, y tế và kiến trúc.

         Các Viện Hàn Lâm khoa học và y học, theo sáng kiến của giáo sư Etienne-Emile Baulieu, đã tổ chức hôm qua một buổi họp rất lý thú về đề tài này, vừa cố gắng gắn liền với tính thời sự. 

       “  Đâu là những yếu tố khoa học và y học vẫn còn bệnh vực cho tuổi về hưu là 60 ? ”

         Ở Pháp các phụ nữ sống trong 83 năm và đàn ông trong 78 năm, thêm 3 tháng tuổi thọ bổ sung mỗi năm. Hiện nay trong các nước giàu có, 1/5  dân số  là những người trên 60 tuổi và trong 20 năm đến tỷ lệ này sẽ là 1/3.
          Jean-Marie Robine ( Inserm, đơn vị dân số và y tế ) nói : « Việc gia tăng số những người già sẽ tạo nên một vấn đề của quả đất trong phần hai của thế kỷ này. Ở Nhật Bản, vào đầu những năm 1970, không có những người già trăm tuổi (centenaire), ngày nay số người bách niên là 30.000. Ở Pháp, không có người già 100 tuổi trong những năm 1970, ngày nay số người này là 15.000 ».Vào năm 2050, theo dự đoán của Pháp, số người già trăm tuổi sẽ  là 330.000 người.

        Nếu chúng ta chấp nhận ý tưởng cho rằng sự lão hóa (vieillissement) làm    « già » đi, thì những con số này có thể có vẻ khá làm quan ngại. Nhưng nghịch lý thay không phải là như vậy.Tuổi mà chúng ta trở nên già, tuổi mà chúng ta chịu những tật nguyền lúc già nua đã không ngừng lùi lại trong các nước công nghiệp hoá. 

        Robert Rochefort nhấn mạnh đến mức độ nào thuật ngữ « tuổi già » (vieillesse) không còn thích ứng để mô tả sự tiến hóa của xã hội :

         « Ngày nay, được gọi là già trung bình bắt đầu ở tuổi 76-77. Không còn là 65 tuổi nữa. Ngưỡng cửa của sự lão hóa có thể đạt đến 82 tuổi vào năm 2040, nếu chúng ta lạc quan. Thậm chí chúng ta có thể nói rằng sẽ không có sự gia tăng những người già, vì lẽ lứa tuổi định nghĩa tuổi già (vieillesse) sẽ gia tăng .

Ý tưởng một sự lão hóa xã hội nhưng không làm gia tăng tỷ lệ « người già » hiện nay đang đạt đến đích của nó.

          Theo Robert Rochefort, định nghĩa của tuổi già phải được căn cứ trên 3 yếu tố liên kết với nhau : y tế ( tình trạng sức khỏe và mức độ độc lập) ; xã hội (các mối liên hệ gia đình và xã hội) ; tâm lý ( khả năng dự phòng trong tương lai và hành động).
         Ngày nay, chúng ta phải chăng sống lâu thật sự tốt hơn  ? Nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt ở Hoa Kỳ, đã làm sáng tỏ sự kiện là hy vọng sống lâu nhưng không mất khả năng ( l’espérance de vie sans incapacité ) đã gia tăng rõ rệt với tuổi thọ trung bình. Một công trình điều tra lớn của Châu Âu, được tiến hành bởi OCDE nhằm đánh giá sự độc lập trên nhiều tiêu chuẩn ( khả năng mặc quần áo, khả năng ăn, di chuyển một mình) đã chứng tỏ rằng tỷ lệ bị lệ thuộc      (taux de dépendance) rất thay đổi tùy theo nước. Ở Pháp, hy vọng được sống thêm (espérance de vie) của người khỏe mạnh ở tuổi 50 là vào khoảng 25 năm.

       Chúng ta có thể càng ngày càng sống lâu hơn mà không cần phải thay đổi thời gian lao động ? Theo Robert Rochefort, đó là điều không thể tưởng tượng được trên bình diện nhân khẩu học : “ Dĩ nhiên sẽ phải lao động lâu hơn. Nhiên hậu, chính cái ngưỡng của tuổi về hưu vào năm 70 tuổi là phải nhắm đến . Đó đồng thời là vấn đề công minh để trả tiền hưu trí. Số năm trung bình được sống thêm đạt được sau 60 tuổi ( 3 tháng mỗi năm) phải được chia sẻ giữa tuổi hưu trí và thời gian lao động ”. Sự việc làm việc lâu hơn phải chăng là một yếu tố bảo vệ trên bình diện sức khỏe ? “ Không nhất thiết. Nhưng sự việc có nhiều hoạt động sau khi về hưu sẽ chia hai nguy cơ bị lệ thuộc ”, giáo sư Darligues ( Bordeaux) đã công nhận như thế. ( LE FIGARO 5/12/2007)

 

3/ ĐAU ĐẦU MÃN TÍNH VÀ NGUY CƠ MẮC BỆNH TRẦM CẢM

         Một nhóm các nhà nghiên cứu Nhật Bản, T.Maeno và các cộng sự viên đã quan tâm đến 177 bệnh nhân đến khám vì đau đầu, từ tháng giêng đến tháng 12, ở 19 trung tâm y tế tuyến đầu. Họ đã theo dõi những bệnh nhân này trong vòng một năm. Các nguời tham dự đã điền một bảng câu hỏi trong đó họ được yêu cầu mô tả thời gian và mức độ nghiêm trọng của chứng đau đầu, mức độ nghiêm trọng này có thay đổi không và có các triệu chứng khác kèm theo với triệu chứng đau đầu không. Ngoài ra các nhà nghiên cứu cố gắng tìm xem trong số những người này có ai đồng thời bị chứng trầm cảm không. Các kết quả chứng tỏ rằng chứng trầm cảm thường xảy ra hơn nơi những bệnh nhân bị đau đầu nặng, nơi những người có đau đầu kéo dài hay nơi những người có sự hiện diện của những triệu chứng khác.Theo các tác giả, bệnh trầm cảm nặng (dépression majeure) thường xảy ra nơi những bệnh nhân đến thăm khám nơi các thầy thuốc ở tuyến đầu. Sự hiện diện của nhiều triệu chứng thân thể và sự hiện diện của đau đầu có thời gian kéo dài ( > 6 tháng ) là một chỉ dấu thực tiễn để phát hiện chứng trầm cảm nặng.( LE JOURNAL DU MEDECIN 7/12/2007)

 

4/ HUYẾT KHỐI TẮC MẠCH VÀ NGUY CƠ BỊ NHỒI MÁU CƠ TIM VÀ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.

            Một vài công trình nghiên cứu xác lập mối liên hệ giữa huyết khối tĩnh mạch (thromboembolie) và xơ vữa động mạch ( athérosclérose) với nguy cơ bị nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não.

          Với mong muốn làm sáng tỏ mối liên hệ khả dĩ này, Hendrik Toft Sorensen và nhóm nghiên cứu của ông đã tiến hành một công trình nghiên cứu dựa trên các thông tin thu nhận được từ các ngân hàng dữ kiện y khoa ở Đan Mạch. Sau khi đã loại trừ những người bị bệnh tim mạch được xác nhận, các tác giả đã nghiên cứu nguy cơ bị nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não nơi 25.799 bệnh nhân bị huyết khối tĩnh mạch sâu (thrombose veineuse profonde), 16.925 bệnh nhân với nghẽn mạch phổi (emboilie pulmonaire) và 163.566 người được dùng làm kiểm chứng.
          Các bệnh nhân có tiền sử huyết khối tĩnh mạch sâu, trong suốt năm đầu sau biến cố huyết khối, có 1,60 lần có khả năng hơn phát triển một nhồi máu cơ tim và có nguy cơ bị tai biến mạch máu não 2,19 lần cao hơn. Các con số này lần lượt là 2,60 và 2,93 nơi những bệnh nhân với tiền sử nghẽn mạch phổi. Theo các tác giả ,với các quan sát này dựa trên 20 năm theo dõi, thì nguy cơ tăng cao này vẫn còn tồn tại lâu dài. 
( LE JOURNAL DU MEDECIN 4/12/2007)

 


5/  STRESS SAU CHẤN THƯƠNG VÀ HEN PHẾ QUẢN

         Các công trình nghiên cứu trước đây đã gợi ý rằng những người trưởng thành bị hen phế quản có những vấn đề âu lo (angoisse) nhiều hơn những người bình thường. R Goodwin (Hoa Kỳ) và các cộng sự viên đã tiến hành một công trình nghiên cứu trên những người sinh đôi được chọn trong số những cựu chiến binh của chiến tranh Việt Nam nhằm làm sáng tỏ mối liên hệ giữa stress sau chấn thương (stress posttraumatique) và hen phế quản. Công trình bao gồm 3.065 những người sinh đôi nam ( sinh từ 1939 và 1956 ) đã tham gia một cách tích cực vào cuộc chiến tranh này. Các tác giả đã xác lập một cách rõ ràng rằng những tiền sử về chứng trầm cảm (dépression) hiện diện thường hơn nơi những người tham gia bị hen phế quản so với nhóm những người lành mạnh. Theo các nhà nghiên cứu, các triệu chứng stress sau chấn thương đã liên kết một cách đáng kể với tỷ lệ mắc bệnh hen phế quản. Một sự hiểu biết tốt hơn về mối liên hệ của hai bệnh này tất nhiên là hữu ích trong triển vọng phòng ngừa cũng như chữa lành bệnh. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 4/12/2007)

 

6/ DÀY VỎ NÃO NƠI NHỮNG NGƯỜI BỊ CHỨNG ĐAU NỬA ĐẦU ( MIGRAINE).

          Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ chứng tỏ rằng vỏ não cảm giác- vận động ( cortex sensorimoteur ) trở nên dày thêm nơi những người bị chứng đau nửa đầu ( migraine). Nguyên nhân hay hậu quả ?  Bác sĩ Nouchine Hadjikani (Hoa Kỳ) và các cộng sự viên đã đo bề dày của vỏ não cảm giác-vận động nơi 24 bệnh nhân bị chứng đau nửa đầu và nơi những người mạnh khỏe có cùng đặc điểm về tuổi và giống tính.Trong số 24 bệnh nhân, 12 người có chứng đau nửa đầu với tiền triệu (aura) và 12 người khác có chứng đau nửa đầu nhưng không có tiền triệu. Các kết quả được bình luận trong một thông báo của BBC news (20/11/2007).  Các tác giả đã xác nhận rằng những người với chứng đau nửa đầu có vỏ não cảm giác-vận động trung bình dày hơn ( gia tăng đến 21%) so với những người của nhóm kiểm chứng. Hiện tượng này rõ rệt nhất trong phần

đuôi ( partie caudale ) của vỏ não cảm giác-vận động , nơi đây có vùng của dây thần kinh sinh ba (zone du trijumeau) tiếp nhận những thông tin cảm giác từ đầu và mặt. Vùng này đóng một vài trò chủ yếu trong việc xử lý các thông tin thân thể-cảm giác ( somatosensoriel ), đau đớn hay là không. Việc vỏ não dày thêm của những bệnh nhân này có thể là phản ảnh của tính quá nhạy cảm đối với các kích thích, điều này giải thích tại sao những người bị chứng đau nửa đầu cũng thường có những vấn đề đau đớn khác như đau lưng (lombalgie), đau hàm. Những biến đổi hình thái này tương ứng với các bất thường được quan sát trong sự vận hành của những đường thần kinh thân thể - cảm giác sinh ba dưới vỏ não ( voies somato-sensorielles trigéminées sous-corticales ), đã được làm sáng tỏ trong một nghiên cứu cũ hơn. Các tác giả kết luận rằng những thay đổi hình thái của vỏ não cảm giác-vận động nơi những bệnh nhân bị chứng đau nửa đầu có thể đã làm phát khởi những cơn đau nửa đầu lập đi lập lại hay cũng có thể là kết quả của chúng. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 27/11/2007)

 


7/ VIỆC TIÊM CHỦNG TRẺ EM VÀ HEN PHẾ QUẢN.

            Theo các dữ kiện đang có hiện nay ( các công trình nghiên cứu quan sát )  thì không có mối quan hệ giữa việc tiêm chủng các trẻ em với BCG hay chống bệnh ho gà với nguy cơ phát triển về sau này của bệnh hen phế quản. Ran Balicer và các công sự viên (Israel) đã viết như vậy. Suốt trong những năm vừa qua, các nhà nghiên cứu rất chú ý đến sự hiện hữu khả dĩ của một mối liên hệ giữa việc tiêm chủng và sự phát triển các bệnh tạng dị ứng (affections atopiques)  Các tác giả đã xem lại các tài liệu y học và chọn 7 công trình nghiên cứu bàn về việc tiêm chủng chống lại bệnh ho gà ( liên quan đến 186.663 trẻ em ) và 5 công trình nghiên cứu dành cho tiêm chủng BCG ( trên 41.479 trẻ em ). Các tác giả đã không tìm thấy một mối liên hệ nào có ý nghĩa về mặt thống kê giữa một trong những vaccin này với tỷ lệ mắc phải hen phế quản suốt trong thời kỳ thơ ấu và thiếu niên.( LE JOURNAL DU MEDECIN 27/11/2007)

 


8/ CHÂM CỨU ĐƯỢC CÔNG NHẬN CÓ HIỆU QUẢ  ĐỐI   VỚI CÁC BỆNH NÀO  ?

          Năm 1979, Tổ Chức Y Tế Thế Giới đã công nhận tác dụng của châm cứu trong một số bệnh lý như viêm dạ dày, đại tràng co thắt (colon spastique), bón, tiêu chảy, viêm xoang (sinusite), viêm phế quản, hen phế quản, nhiễm trùng đường hô hấp lập đi lập lại, đau đầu , chứng máy cơ (tics), đau cổ, đau liên sườn, vai đóng băng (épaule gelée), tennis-elbow, viêm gân (tendinite), đau lưng, viêm khớp, bệnh lý về tiết niệu và phụ khoa.

          Năm 1998, một hội nghị nhất trí, được tổ chức bởi Viện Quốc Gia Y Tế     ( National Institute of Health ) Hoa Kỳ, đã kết luận về tính hiệu quả của châm cứu lên nôn và mửa sau giải phẫu và do hóa học trị liệu nơi người trưởng thành, cũng như trên chứng đau răng sau giải phẫu. Các chuyên gia cũng công nhận những tình huống khác trong đó châm cứu có thể hữu ích như điều trị hỗ trợ (traitement adjuvant), thậm chí như một điều trị thay thế được đưa vào trong chương trình điều trị :   nghiện (addiction), phục hồi sau tai biến mạch máu não, đau đầu, đau quặn lúc có kinh, tennis-elbow, đau xơ cơ (fibromyalgie), đau cân cơ (douleurs myofasciales), viêm xương khớp (ostéoarthrite), đau lưng, hội chứng ống cổ tay (syndrome du canal carpien), hen phế quản.Và rằng « những nghiên cứu bổ sung khả dĩ khám phá những lãnh vực bổ sung trong đó châm cứu có thể có ích »( LE GENERALISTE 6/12/2007)

 


9/ CÁC THUỐC GIẢM ĐAU NHA PHIẾN ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐẾU ĐẶN CÓ THỂ KHÔNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LÁI XE.

         Các bệnh nhân uống thuốc giảm đau có tác dụng mạnh như các chất nha phiến (opioids) thường được khuyên không nên điều khiển vận hành các máy móc nặng bởi vì tác dụng an thần của những loại thuốc này. Nhưng một công trình nghiên cứu mới đây nhận thấy rằng những người sử dụng đều đặn thuốc chống đau nha phiến để điều trị đau đớn mãn tính vẫn lái xe tốt trên lộ như phần lớn những người khác.

         Các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận này sau khi yêu cầu hai nhóm khoảng 50 người tình nguyện mỗi nhóm, sử dụng một máy lái xe giả (a driving simulator) trong 12 phút. Các thành viên trong một nhóm là những người sử dụng đều đặn morphine dùng bằng đường miệng ; còn các người tham dự của nhóm kia thì không uống thuốc giảm đau.

        Công trình nghiên cứu, được trình bày tại một hội nghị mới đây của Hiệp hội các nhà gây mê Hoa Kỳ, đã sử dụng máy lái xe giả để đo thời gian phản ứng, tỷ lệ tai nạn và đã nhận thấy ít có sự khác nhau giữa hai nhóm.

         Nhà lãnh đạo công trình nghiên cứu, Asokumar Buvanendran thuộc Rush University Medical Center ở Chicago, đã nói rằng những người sử dụng đều đặn các thuốc nha phiến như morphine đã phát triển một sự dung nạp thuốc (tolerance) đối với các tác dụng phụ.

        « Nếu tôi đột ngột uống 30 mg, », ông nói như vậy , « có lẽ tôi sẽ ngủ trong 10 giờ, trong khi người nào đó cũng uống 30 mg morphine này từ 2 năm qua, thì có lẽ cũng vẫn tỉnh táo như tôi bây giờ ».

         Buvanendran nói rằng ông ta đã bắt đầu công trình nghiên cứu sau khi một bệnh nhân đã nói với ông rằng đơn xin việc làm tài xế xe bus của anh ta bị bác chỉ vì lý do này.

        Ông nói, những điều được tìm thấy gợi ý rằng việc tuyển dụng và những hạn chế khác lên những người sử dụng đều đặn thuốc nha phiến chống đau cần nên được xét lại.

       Nếu không, những người sử dụng thuốc nha phiến đều đặn này sẽ có thể bị từ chối có một cuộc sống bình thường một cách bất công .( INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 6/12/2007)

 


10/ NẮNG MẶT TRỜI QUÁ NHIỀU CÓ THỂ LÀM GIẢM NGUY CƠ UNG THƯ NỘI MẠC TỬ CUNG.

         Các phụ nữ sống trong các nước có nhiều ánh nắng mặt trời nhất dường như bị ung thư nội mạc tử cung (endometrial cancer) ít hơn so với các phụ nữ sống xa xích đạo.

         Sử dụng các dữ kiện to lớn của Tổ Chức Y Tế Quốc Tế, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy những tỷ lệ mắc phải ung thư nội mạc tử cung thấp hơn nơi những người được tiếp xúc nhiều hơn với các bức xạ UVB, ánh sáng tử ngoại giúp da sản xuất vitamin D.

       “ Có một liên hệ toán học ”, Cedric Garland, giáo sư y khoa gia đình và phòng ngừa thuộc Đại Học California, San Diego, và đồng tác giả của công trình nghiên cứu, được công bố trong số tháng 11 của tờ Preventive Medicine, đã phát biểu như vậy.          
         Các nhà nghiên cứu đã thu thập thông tin về ung thư nội mạc tử cung trong 107 nước. Ở cả Nam lẫn Bắc bán cầu , vĩ độ (latitude) càng cao thì nguy cơ mắc phải ung thư nội mạc tử cung càng lớn. Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy rằng tỷ lệ ăn thịt cao hơn và nhóm người có thể trọng quá gia tăng được liên kết với nguy cơ bị ung thư nội mạc tử cung cao hơn.

      Mặc dầu các nhà nghiên cứu không đo nồng độ vitamin D, Garland nói, “ Chúng tôi tin rằng vitamin D là nguyên nhân của các điều đã được tìm thấy, bởi vì sự phân bố địa lý tương ứng với sự phân bố của các loại ung thư khác đã được chứng tỏ là có liên quan với nồng độ của vitamin D trong các công trình nghiên cứu ” ( INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 29/11/2007)


                                     BS NGUYỄN VĂN THỊNH
                                          ( 14/12/2007)

     

Trở về Trang Chính