|
24/ ĐỂ
ĐIỀU TRỊ VIÊM NIỆU ĐẠO DO LẬU CẦU, NHỮNG KHÁNG SINH NÀO HIỆN
NAY ĐƯỢC KHUYÊN SỬ DỤNG ?
Ceftriaxone,
liều duy nhất 125 mg, tiêm mông ( trong lidocaine 1% )
hoặc
Cefixime,liều duy nhất 500mg, bằng đường miệng
hoặc
Ciprofloxacin (Ciproxine), liều duy nhất 500mg, bằng đường miệng
hoặc
Ofloxacin
(Tarivid), liều duy nhất 400mg, bằng đường miệng
hoặc
Levofloxacin ( Tavanic), liều duy nhất 500mg, bằng đường
miệng
+
Doxycycline (Vibratab), 100mg , 2 lần mỗi ngày, trong 7
ngày, bằng đường
miệng ( khả năng nhiễm trùng kết hợp với Chlamydia )
hoặc
Azithromycin
(Zitromax), liều duy nhất 1g, bằng đường miệng
Nếu nghỉ lậu cầu đề
kháng với quinolone :
Ceftriaxone, liều duy nhất 125 mg, tiêm mông
hoặc
Cefixime, liều duy nhất 400mg, bằng đường miệng
25/ ĐỨNG TRƯỚC MỘT VIÊM NIỆU ĐẠO DO
LẬU CẦU, NHIỄM TRÙNG LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC NÀO CŨNG
PHẢI ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ ĐỒNG THỜI ?
-
Chlamydia
26/ Ý NGHĨA CỦA VIỆC TÌM THẤY VIÊM
CỐ TỬ CUNG NHÀY MỦ NƠI MỘT PHỤ NỮ ĐAU BỤNG DƯỚI ?
Bình
thường chất tiết nội mạc tử cung (được nhận thấy ở lỗ ra từ ống
nội cổ tử cung) phải trong suốt. Sự hiện diện của một chất tiết
nhầy mủ từ lỗ cổ tử cung, có thể xuất hiện với màu vàng khi nhìn
trên một que có đầu mang bông trắng (Q-tip dương tính), gợi ý
viêm cổ tử cung nhầy mủ (mucopurulent cervicitis). Viêm cổ tử
cung nhầy mủ, thường nhất được gây nên bởi lậu cầu hay
Chlamydia, là dấu hiệu báo trước của nhiễm trùng đường sinh dục
trên ( ví dụ : pelvic inflammatory disease : bệnh viêm vùng
chậu). Bệnh viêm vùng chậu là một chẩn đoán dựa trên những tiêu
chuẩn lâm sàng gồm có nhạy cảm đau lúc lay động cổ tử cung
(cervical motion tenderness), nhạy cảm đau ở phần phụ (adnexal
tenderness) và nhạy cảm đau bụng dưới. Những bệnh nhân đau nặng
với bệnh viêm vùng chậu cần phải được nhập viện và điều trị
kháng sinh bằng đường tĩnh mạch. Nhiều bệnh nhân với bệnh viêm
vùng chậu có thể được điều trị ngoại trú với một liều duy nhất
ceftriaxone tiêm mông và hai tuần doxycycline.
27/ BẠN ĐÁNH GIÁ THẾ NÀO MỘT PHỤ NỮ
ĐANG TRONG THỜI KỲ HOẠT ĐỘNG SINH DỤC TÍCH CỰC, ĐẾN VỚI MỘT MẮC
CÁ CHÂN SƯNG PHỒNG CẤP TÍNH, NÓNG VÀ ĐAU ?
Bệnh nhân
này, với viêm đơn khớp cấp tính (acute monoarticular arthritis),
nên được coi như bị nhiễm trùng lậu cầu tỏa lan (disseminated
gonococcal infection). Đây là một hội chứng vi khuẩn huyết lậu
cầu (gonococcal bacteremia) dẫn đến các biểu hiện ngoại biên của
bệnh, gồm có viêm da, viêm gân-bao hoạt dịch (tenosynovitis) và
viêm khớp nhiễm trùng (septic arthritis). Chọc dò khớp
(arthrocentesis) nên được thực hiện nơi khớp bị thương tổn và
chất dịch hút nên được gởi phòng xét nghiệm để nhuộm Gram, cấy
tìm lậu cầu, cấy tìm các vi khuẩn hiếu khí thông thường và đếm
tế bào. Cấy lậu cầu dương tính trong 50% trường hợp. Cần khám âm
đạo để cấy cổ tử cung tìm lậu cầu. Hãy xét đến việc cấy trực
tràng và niệu đạo. Một bệnh nhân nghi bị nhiễm trùng lậu cầu tỏa
lan nên được nhập viện và điều trị với kháng sinh bằng đường
tĩnh mạch (ceftriaxone, 1g tĩnh mạch, mỗi 12 giờ).
28/
NHỮNG TRIỆU CHỨNG THƯỜNG GẶP NHẤT TRONG NHIỄM TRÙNG HUYẾT BỞI
LẬU CẦU ?
- Sốt
- Viêm
các khớp lớn
- Thương
tổn da dát sần (lésions cutanées maculo-papuleuses)
29/ NHỮNG NGUYÊN NHÂN THÔNG THƯỜNG
NHẤT CỦA LOÉT SINH DỤC ?
Các vết
loét sinh dục (genital ulcers) có thể là những biểu hiện của
nhiễm trùng bởi herpes simplex virus (HSV), của hạ cam
(chancroid, chancre mou) hay của giang mai. Khó mà chẩn đoán nếu
chỉ dựa trên bệnh sử và khám vật lý. Luôn luôn hỏi những bệnh
nhân này về quá trình du lịch của họ, về sự tiếp xúc với đĩ điếm
ở các vùng khác nhau. Các vết loét sinh dục là một đồng yếu tố
nguy cơ (risk cofactor) quan trọng trong việc lan truyền HIV.
-
Herpes simplex virus ( HSV)
: Trong hầu hết các vùng của Hoa Kỳ, herpes sinh dục gây nên bởi
HSV là nguyên nhân thông thường nhất của vết loét sinh dục.
Nhiễm trùng nguyên phát bởi HSV dẫn đến những bệnh nặng, nhiễm
độc với sốt, khó ở và hạch vùng bẹn. Chẩn đoán được thực hiện
bằng cách cấy siêu vi khuẩn hoặc thử nghiệm tìm kháng nguyên.
HSV là một bệnh thường tái diễn và bệnh nhân có thể thải siêu vi
trùng mặc dầu không có triệu chứng. Bệnh này không thể chữa lành
nhưng điều trị với thuốc kháng siêu vi như acyclovir có thể làm
rút ngắn thời gian của các triệu chứng. Điều trị ngăn chặn
(suppressive therapy) lâu dài có thể ngăn ngừa những đợt loét
bộc phát.
-
Hạ cam mềm (Chancroid) :
cũng còn được gọi là vết loét mềm (soft sore), bệnh này được gây
nên bởi Hemophylus ducreyi, một vi khuẩn rất khó cấy.Tỷ lệ mắc
bệnh ở Hoa Kỳ đã giảm cho đến cuối những năm 1980, là lúc những
đợt bộc phát đã được ghi nhận ở vài đô thị. Bây giờ bệnh trở
thành dịch địa phương (endemic) ở một vài vùng của Hoa Kỳ.Về
phương diện lâm sàng, hội chứng này gây nên một nốt sần đau,
không cứng (nonindurated), sau đó trở thành một vết loét
(ulcer) . Hạch đau ở vùng bẹn được nhận thấy trong hơn 50% các
trường hợp. Các phương thức điều trị gồm có azithromycin hoặc
ceftriaxone với liều duy nhất hoặc điều trị 1 tuần với
erythromycin hoặc ciprofloxacin.
- Giang mai :
Giang mai nguyên phát được thể hiện bởi một vết loét cứng
(indurated) và không đau, gọi là săng hay hạ cam (chancre).
Chẩn đoán được thực hiện bằng khám trực tiếp một chất thanh dịch
trên kính hiển vi có nền đen ( dark-field examination ) để tìm
xoắn khuẩn (spirochetes).VDRL ( venereal disease research
laboratory) test nên được thực hiện nơi bất cứ ai có thể bị
giang mai. Điều trị giang mai nguyên phát với penicillin G
benzathine, 2,4 triệu đơn vị tiêm mông.
30/
NHIỄM TRÙNG HSV CÓ THỂ CHỮA LÀNH ĐƯỢC KHÔNG ,
Tiếc thay là không.
Các siêu vi trùng herpes thường gây các triệu chứng và sau đó
nằm im không hoạt động trong những hạch cảm giác của những dây
thần kinh tủy, và sau đó có thể trở nên hoạt động và gây những
triệu chứng tái hồi. Khi bệnh nhân đang có triệu chứng, nhiễm
trùng có thể được điều trị bằng đường miệng với acyclovir,
valacyclovir ( prodrug của acyclovir), hoặc famciclovir (
prodrug của penciclovir ). Phép điều trị này đã được chứng tỏ là
làm giảm thời gian bệnh và sự phóng thải virus, cải thiện các
triệu chứng tại chỗ và toàn thân, và gia tốc quá trình lành bệnh
đối với những bệnh nhân có cơn bệnh đầu tiên. Điều trị đã không
chứng tỏ làm thay đổi lịch sử tự nhiên của nhiễm trùng. Tuy
nhiên đối với các cơn tái hồi, dùng thuốc từng đợt làm ngắn thời
gian thải virus và làm nhanh sự khỏi bệnh chỉ khoảng 1-2 ngày.
31/ NHỮNG
BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC NÀO THƯỜNG GÂY LOÉT SINH DỤC
VỚI LỚN HẠCH VÙNG LIÊN HỆ.
-
giang mai
- hạ
cam mềm (chancroid)
- u hạt
bẹn (granuloma inguinale = donovanosis)
- herpes
sinh dục (genital herpes)
- viêm
hạch bạch huyết hoa liễu ( lymphogranuloma venereum).
32/ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG THÔNG
THƯỜNG CỦA MỘT GIANG MAI NGUYÊN PHÁT ( SYPHYLIS PRIMAIRE ) ?
- vết loét
đơn độc, không đau, sạch, nằm trên một nền cứng
- xuất hiện
nơi bị lây nhiễm ( vùng sinh dục trong 95% trường hợp)
- kèm theo nổi hạch
ở vùng lân cận, không nóng, không đau, gồm một hạch lớn hơn
những hạch khác.
33/
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA NHỮNG DẤU CHỨNG DA NIÊM MẠC CỦA GIANG MAI THỨ
PHÁT ( SYPHYLIS SECONDAIRE ) ?
- có thể
rất thay đổi ( giang mai thứ phát : tay giả vờ vĩ đại )
- thường phân tán
(disséminé)
- các
thương tổn nói chung không gây ngứa.
- những dấu chứng cổ điển nhất là :
- ban đào
(roséole)
- các mảng niêm mạc (plaques muqueuses) : ở quanh chỗ nhiễm
trùng, rất lây nhiễm.
- các ban giang mai (syphilides) : chủ yếu ở lòng bàn tay, bàn
chân
- rụng tóc từng
đám (alopécie en clairière)
34/ NHỮNG
TRIỆU CHỨNG CHÍNH CỦA GIANG MAI TAM PHÁT ( SYPHLIS TERTIARE )
?
- các gôm
giang mai ( gommes syphilitiques ) ở mô dưới da, niêm mạc,
xương, hệ thần kinh trung ương.
- thương tổn tim : viêm động mạch chủ ( aortite )
với thiểu năng van động mạch chủ, phình quai động mạch chủ (
anévrysme de la crosse de l’aorte)
- thương
tổn não bộ ( liệt toàn thân với hội chứng sa sút trí tuệ ).
- thương tổn tủy
sống : tabès.
35/
THỜI GIAN BAO LÂU TỪ KHI LÂY NHIỄM ĐẾN KHI XUẤT HIỆN GIANG MAI
NGUYÊN PHÁT ? GIANG MAI THỨ PHÁT ? GIANG MAI TAM PHÁT ?
-
Giang mai nguyên phát (
syphilis primaire ) có thời gian tiềm phục trung bình là 21 ngày
(có thể thay đổi ).
-
Giang mai thứ phát (
syphilis secondaire ) phát ra từ tháng thứ hai đến năm thứ 4 sau
khi bị lây nhiễm.
-
Giang mai tam phát (
syphilis tertiaire ) xảy ra từ 2 đến 10 năm sau khi bị nhiễm
trùng
36/ XÉT NGHIỆM NHANH NHẤT ĐỂ CHẤN
ĐOÁN BỆNH GIANG MAI ?
- khám
trực tiếp trên kính hiển vi có nền đen (examen direct sur
microscope à fond noir) một chất thanh dịch (sérosité) lấy từ
săng giang mai (chancre), ban giang mai (syphilides) hoặc các
mảng niêm mạc (plaques muqueuses).
37/
NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA CHẨN ĐOÁN HUYẾT THANH BỆNH GIANG MAI ?
Huyết
thanh học (sérologie) gồm hai trắc nghiệm :
- một trắc nghiệm không đặc hiệu, dựa trên sự nhận biết
một kháng nguyên lipide : VDRL
( Venereal disease research laboratory ) .
- một trắc nghiệm đặc hiệu, dựa trên sự nhận biết một kháng
nguyên của tréponème : TPHA
( Treponema pallidum Hemagglutination )
38/
PHẢN ỨNG HUYẾT THANH GIANG MAI TPHA+ và VDRL+ CÓ NGHĨA LÀ GÌ ?
- Bệnh
giang mai đang trong thời kỳ hoạt động, cần được điều trị.
39/
PHẢN ỨNG HUYẾT THANH GIANG MAI TPHA- và VDRL+ CÓ NGHĨA LÀ GÌ ?
- có lẽ
phản ứng dương tính giả ( faux négatif ).
40/
PHẢN ỨNG HUYẾT THANH GIANG MAI TPHA+ và VDRL- CÓ NGHĨA LÀ GÌ ?
- giang
mai mắc phải trước đây đã được chữa lành (đôi khi không được
nhận biết ).
- hoặc
giai đoạn rất sớm của một giang mai nguyên phát ( syphilis
primaire ) ( TPHA dương tính đầu tiên ).
41/ PHẢN ỨNG HUYẾT THANH GIANG MAI
NÀO VẪN DƯƠNG TÍNH SAU MỘT ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ ?
- TPHA (Treponema
pallidum Hemagglutination).
42/ PHẢN
ỨNG HUYẾT THANH GIANG MAI NÀO CÓ NỒNG ĐỘ GIẢM RẤT RÕ RỆT HOẶC ÂM
TÍNH SAU MỘT ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ ?
- VDRL
(Venereal Disease Research Laboratory).
43/ NHỮNG CƠ SỞ CỦA ĐIỀU TRỊ BỆNH
GIANG MAI ?
Những
lời khuyên điều trị được căn cứ trên mức độ thâm niên của nhiễm
trùng, chứ không phải trên các biểu hiện lâm sàng :
- Giang
mai giai đoạn sớm ( syphylis précoce ) :
-
có thời gian tiến triển dưới 1 năm.
-
benzathine pénicilline G ( Penadur LA, Extencilline) : 2,4 triệu
đơn vị, liều duy nhất, tiêm mông.
- Giang mai giai đoạn muộn ( syphylis tardive ) :
-
có thời gian tiến triển hơn một năm hoặc mọi bệnh giang mai
không thể xác định được lúc nào bệnh nhân đã bị lây nhiễm.
-
benzathine pénicilline, 2,4 triệu đơn vị, tiêm mông 3 lần mỗi
lần cách nhau một tuần
44/ PHẢN ỨNG JARISCH-HERXHEIMER LÀ
GÌ ?
Sau khi
khởi đầu điều trị bệnh giang mai, bệnh nhân phát khởi sốt, run
lạnh, đau cơ, đau đầu, tim đập nhanh, thở nhanh, tăng
neutrophils, hạ nhẹ huyết áp. Các triệu chứng và dấu chứng này
xảy ra sau khi khởi đầu điều trị với sốt cao đạt cao điểm sau 7
giờ và hạ sốt sau 12 đến 24 giờ. Phản ứng này xảy ra nơi 50%
bệnh nhân với giang mai nguyên phát, 90% bệnh giang mai thứ phát
và 25% bệnh giang mai tiềm ẩn ở giai đoạn sớm. Ở những bệnh nhân
với giang mai thứ phát, những thương tổn da và niêm mạc có thể
trở nên phù hơn và đỏ hơn.
45/ VIÊM HẬU MÔN LÀ MỘT VẤN ĐỀ CHỦ
YẾU ĐƯỢC THẤY Ở CÁC NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI. NÓI VỀ
PHƯƠNG CÁCH CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ.
Bất
cứ cá nhân nào, nam hay nữ, với khởi đầu bằng những triệu chứng
viêm hậu môn cấp tính (acute proctitis) (đau trực tràng, tiết
dịch, mót rặn) và vừa mới giao hợp bằng đường hậu môn không được
bảo vệ, đều có nguy cơ mắc phải bệnh lây truyền bằng đường sinh
dục. Những bệnh nhân này nên được thăm khám bằng soi hậu môn
(anoscopy) và nên được thử nghiệm tìm bệnh lậu (gonorrhea),
Chlamydia, và HSV.Tất cả các bệnh nhân này nên được xét nghiệm
huyết thanh tìm bệnh giang mai và nên được điều trị bệnh lậu và
Chlamydia. Nếu các vết loét được thấy rõ ràng lúc thăm khám bằng
soi hậu môn, cần xét đến việc điều trị kháng siêu vi với
acyclovir.
46/ NÓI VỀ NHỮNG NHIỄM TRÙNG LÂY
TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC Ở HẬU MÔN TRỰC TRÀNG.
Chlamydia
và bệnh lậu là những nguyên nhân thông thường của viêm hậu môn
(proctitis). Chlamydia có thể gây nên viêm hạch bạch huyết hoa
liễu (lymphogranuloma venereum). Chlamydia và bệnh lậu được
truyền lúc giao hợp qua đường hậu môn trực tràng (anorectal)
hoặc miệng-hậu môn ( oral-anal). Hầu hết các bệnh nhân bị nhiễm
trùng bởi chlamydia đều có triệu chứng, trong khi đó chỉ 10% các
bệnh nhân với bệnh lậu là có triệu chứng mà thôi. Viêm hậu môn
được biểu hiện bằng đau và mót rặn trực tràng ( rectal pain et
tenesmus ).Thăm khám bằng soi hậu môn phát hiện một niêm mạc đỏ
và mảnh dẻ với chất tiết lẫn máu hoặc niêm dịch và các vết loét.
Viêm hạch bạch huyết hoa liễu nếu không được điều trị có thể đưa
đến rò (fistulas), áp xe hay hẹp trực tràng (rectal strictures).
Hẹp trực tràng có thể là một cấp cứu ngoại khoa cần
nong dãn cấp cứu. Đối với các bệnh nhân có triệu chứng nên điều
trị cho cả hai vi khuẩn chlamydia và lậu cầu
bởi vì tỷ xuất đồng nhiễm (coinfection) cao. Doxycycline, 100mg
bằng đường miệng hai lần mỗi ngày trong 7 ngày, và azithromycin,
1g bằng đường miệng với liều duy nhất, kết hợpvới ceftriaxone,
125mg tiêm mông. Những người tiếp xúc bằng đường sinh dục cũng
nên được điều trị.
Herpes
simplex virus là một nguyên nhân khác của viêm hậu môn. Nhiễm
trùng này đặc biệt thường thấy nơi những người đồng tính luyến
ái. Có thể thấy loét hậu môn và trực tràng.
Đau trực tràng, mót rặn, chất tiết niêm dịch mủ và
ngứa thường xảy ra. Hẹp thường xảy ra với bệnh kinh niên. Điều
trị gồm có acyclovir 400 mg bằng đường miệng, 5 lần mỗi ngày
trong 10 ngày. Cũng cần cho thuốc giảm đau và thuốc nhuận tràng.
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
( 5/12/2007)
References :
- Emergency Medicine Secrets
- Infectious Disease Secrets
- Maladies infectieuses : Questions et Réponses
Đã
đăng:
CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG
ĐƯỜNG SINH DỤC (phần 1)
Trở về Trang Chính
|