Y KHOA CẤP CỨU SỐ 17

CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC (phần 2)

( SEXUALLY TRANSMTTED DISEASES )


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

E-Mail: bsnguyenvanthinh@khoahoc.net

20 tháng 12 năm 2007

24/ ĐỂ ĐIỀU TRỊ VIÊM NIỆU ĐẠO DO LẬU CẦU, NHỮNG KHÁNG  SINH NÀO HIỆN NAY ĐƯỢC KHUYÊN SỬ DỤNG ?

       Ceftriaxone, liều duy nhất 125 mg, tiêm mông ( trong lidocaine 1% )

              hoặc

       Cefixime,liều duy nhất 500mg, bằng đường miệng

              hoặc

       Ciprofloxacin (Ciproxine), liều duy nhất 500mg, bằng đường miệng

             hoặc

       Ofloxacin (Tarivid), liều duy nhất 400mg, bằng đường miệng
             hoặc
       Levofloxacin ( Tavanic), liều duy nhất 500mg, bằng đường miệng
              +
       Doxycycline (Vibratab), 100mg , 2 lần mỗi ngày, trong 7 ngày, bằng đường
        miệng ( khả năng nhiễm trùng kết hợp với Chlamydia )

             hoặc

       Azithromycin (Zitromax), liều duy nhất 1g, bằng đường miệng

Nếu nghỉ lậu cầu đề kháng với quinolone :
       Ceftriaxone, liều duy nhất 125 mg, tiêm mông
             hoặc
       Cefixime, liều duy nhất 400mg, bằng đường miệng
   
25/ ĐỨNG TRƯỚC MỘT VIÊM NIỆU ĐẠO DO LẬU CẦU, NHIỄM TRÙNG LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC NÀO CŨNG PHẢI ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ ĐỒNG THỜI ?

          - Chlamydia


26/ Ý NGHĨA CỦA VIỆC TÌM THẤY VIÊM CỐ TỬ CUNG NHÀY MỦ NƠI MỘT PHỤ NỮ ĐAU BỤNG DƯỚI ?

         Bình thường chất tiết nội mạc tử cung (được nhận thấy ở lỗ ra từ ống nội cổ tử cung) phải trong suốt. Sự hiện diện của một chất tiết nhầy mủ từ lỗ cổ tử cung, có thể xuất hiện với màu vàng khi nhìn trên một que có đầu mang bông trắng (Q-tip dương tính), gợi ý viêm cổ tử cung nhầy mủ (mucopurulent cervicitis). Viêm cổ tử cung nhầy mủ, thường nhất được gây nên bởi lậu cầu hay Chlamydia, là dấu hiệu báo trước của nhiễm trùng đường sinh dục trên ( ví dụ : pelvic inflammatory disease : bệnh viêm vùng chậu). Bệnh viêm vùng chậu là một chẩn đoán dựa trên những tiêu chuẩn lâm sàng gồm có nhạy cảm đau lúc lay động cổ tử cung (cervical motion tenderness), nhạy cảm đau ở phần phụ (adnexal tenderness) và nhạy cảm đau bụng dưới. Những bệnh nhân đau nặng với bệnh viêm vùng chậu cần phải được nhập viện và điều trị kháng sinh bằng đường tĩnh mạch. Nhiều bệnh nhân với bệnh viêm vùng chậu có thể được điều trị ngoại trú với một liều duy nhất  ceftriaxone  tiêm mông và hai tuần doxycycline.


27/ BẠN ĐÁNH GIÁ THẾ NÀO MỘT PHỤ NỮ ĐANG TRONG THỜI KỲ HOẠT ĐỘNG SINH DỤC TÍCH CỰC, ĐẾN VỚI MỘT MẮC CÁ CHÂN SƯNG PHỒNG CẤP TÍNH, NÓNG VÀ ĐAU ?

         Bệnh nhân này, với viêm đơn khớp cấp tính (acute monoarticular arthritis), nên được coi như bị nhiễm trùng lậu cầu tỏa lan (disseminated gonococcal infection). Đây là một hội chứng vi khuẩn huyết lậu cầu (gonococcal bacteremia) dẫn đến các biểu hiện ngoại biên của bệnh, gồm có viêm da, viêm gân-bao hoạt dịch (tenosynovitis) và viêm khớp nhiễm trùng (septic arthritis). Chọc dò khớp (arthrocentesis) nên được thực hiện nơi khớp bị thương tổn và chất dịch hút nên được gởi phòng xét nghiệm để nhuộm Gram, cấy tìm lậu cầu, cấy tìm các vi khuẩn hiếu khí thông thường và đếm tế bào. Cấy lậu cầu dương tính trong 50% trường hợp. Cần khám âm đạo để cấy cổ tử cung tìm lậu cầu. Hãy xét đến việc cấy trực tràng và niệu đạo. Một bệnh nhân nghi bị nhiễm trùng lậu cầu tỏa lan nên được nhập viện và điều trị với kháng sinh bằng đường tĩnh mạch (ceftriaxone, 1g tĩnh mạch, mỗi 12 giờ).

 

28/ NHỮNG TRIỆU CHỨNG THƯỜNG GẶP NHẤT TRONG NHIỄM TRÙNG HUYẾT BỞI LẬU CẦU ?

          - Sốt

          - Viêm các khớp lớn

          - Thương tổn da dát sần (lésions cutanées maculo-papuleuses)

29/ NHỮNG NGUYÊN NHÂN THÔNG THƯỜNG NHẤT CỦA LOÉT SINH DỤC ?

        Các vết loét sinh dục (genital ulcers) có thể là những biểu hiện của nhiễm trùng bởi herpes simplex virus (HSV), của hạ cam (chancroid, chancre mou) hay của giang mai. Khó mà chẩn đoán nếu chỉ dựa trên bệnh sử và khám vật lý. Luôn luôn hỏi những bệnh nhân này về quá trình du lịch của họ, về sự tiếp xúc với đĩ điếm ở các vùng khác nhau. Các vết loét sinh dục là một đồng yếu tố nguy cơ (risk cofactor) quan trọng trong việc lan truyền HIV.

          - Herpes simplex virus ( HSV) : Trong hầu hết các vùng của Hoa Kỳ, herpes sinh dục gây nên bởi HSV là nguyên nhân thông thường nhất của vết loét sinh dục. Nhiễm trùng nguyên phát bởi HSV dẫn đến những bệnh nặng, nhiễm độc với sốt, khó ở và hạch vùng bẹn. Chẩn đoán được thực hiện bằng cách cấy siêu vi khuẩn hoặc thử nghiệm tìm kháng nguyên. HSV là một bệnh thường tái diễn và bệnh nhân có thể thải siêu vi trùng mặc dầu không có triệu chứng. Bệnh này không thể chữa lành nhưng điều trị với thuốc kháng siêu vi như acyclovir có thể làm rút ngắn thời gian của các triệu chứng. Điều trị ngăn chặn (suppressive therapy) lâu dài có thể ngăn ngừa những đợt loét bộc phát.

          - Hạ cam mềm (Chancroid) : cũng còn được gọi là vết loét mềm (soft sore), bệnh này được gây nên bởi Hemophylus ducreyi, một vi khuẩn rất khó cấy.Tỷ lệ mắc bệnh ở Hoa Kỳ đã giảm cho đến cuối những năm 1980, là lúc những đợt bộc phát đã được ghi nhận ở vài đô thị. Bây giờ bệnh trở thành dịch địa phương (endemic) ở một vài vùng của Hoa Kỳ.Về phương diện lâm sàng, hội chứng này gây nên một nốt sần đau, không cứng (nonindurated), sau đó trở thành một vết loét  (ulcer) . Hạch đau ở vùng bẹn được nhận thấy trong hơn 50% các trường hợp. Các phương thức điều trị gồm có azithromycin hoặc ceftriaxone với liều duy nhất hoặc điều trị 1 tuần với erythromycin hoặc ciprofloxacin.
         - Giang mai : Giang mai nguyên phát được thể hiện bởi một vết loét cứng (indurated) và không đau,  gọi là săng hay hạ cam (chancre). Chẩn đoán được thực hiện bằng khám trực tiếp một chất thanh dịch trên kính hiển vi có nền đen ( dark-field examination ) để tìm xoắn khuẩn (spirochetes).VDRL ( venereal disease research laboratory) test nên được thực hiện nơi bất cứ ai có thể bị giang mai. Điều trị giang mai nguyên phát với penicillin G benzathine, 2,4 triệu đơn vị tiêm mông.

 

30/ NHIỄM TRÙNG HSV CÓ THỂ CHỮA LÀNH ĐƯỢC KHÔNG ,

        Tiếc thay là không. Các siêu vi trùng herpes thường gây các triệu chứng và sau đó nằm im không hoạt động trong những hạch cảm giác của những dây thần kinh tủy, và sau đó có thể trở nên hoạt động và gây những triệu chứng tái hồi. Khi bệnh nhân đang có triệu chứng, nhiễm trùng có thể được điều trị bằng đường miệng với acyclovir, valacyclovir ( prodrug của acyclovir), hoặc famciclovir ( prodrug của penciclovir ). Phép điều trị này đã được chứng tỏ là làm giảm thời gian bệnh và sự phóng thải virus, cải thiện các triệu chứng tại chỗ và toàn thân, và gia tốc quá trình lành bệnh đối với những bệnh nhân có cơn  bệnh đầu tiên. Điều trị đã không chứng tỏ làm thay đổi lịch sử tự nhiên của nhiễm trùng. Tuy nhiên đối với các cơn tái hồi, dùng thuốc từng đợt làm ngắn thời gian thải virus và làm nhanh sự khỏi bệnh chỉ khoảng 1-2 ngày.

 

31/ NHỮNG BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC NÀO THƯỜNG GÂY LOÉT SINH DỤC VỚI LỚN HẠCH VÙNG LIÊN HỆ.

            - giang mai

            - hạ cam mềm (chancroid)

            - u hạt bẹn (granuloma inguinale = donovanosis)

            - herpes sinh dục (genital herpes)

            - viêm hạch bạch huyết hoa liễu ( lymphogranuloma venereum).


32/ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG THÔNG THƯỜNG CỦA MỘT GIANG MAI NGUYÊN PHÁT ( SYPHYLIS PRIMAIRE )  ?

           - vết loét đơn độc, không đau, sạch, nằm trên một nền cứng

           - xuất hiện nơi bị lây nhiễm ( vùng sinh dục trong 95% trường hợp)

           - kèm theo nổi hạch ở vùng lân cận, không nóng, không đau, gồm một hạch lớn hơn những hạch khác.

 

33/ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA NHỮNG DẤU CHỨNG DA NIÊM MẠC CỦA GIANG MAI THỨ PHÁT ( SYPHYLIS SECONDAIRE ) ?

           - có thể rất thay đổi ( giang mai thứ phát : tay giả vờ vĩ đại )

           - thường phân tán (disséminé)

           - các thương tổn nói chung không gây ngứa.
           - những dấu chứng cổ điển nhất là :

                   - ban đào (roséole)

                   - các mảng niêm mạc (plaques muqueuses) : ở quanh chỗ nhiễm trùng, rất lây nhiễm.

                   - các ban giang mai (syphilides) : chủ yếu ở lòng bàn tay, bàn chân

                   - rụng tóc từng đám (alopécie en clairière)

 

34/ NHỮNG TRIỆU CHỨNG CHÍNH CỦA GIANG MAI TAM PHÁT ( SYPHLIS TERTIARE )  ? 

             - các gôm giang mai ( gommes syphilitiques ) ở mô dưới da, niêm mạc, xương, hệ thần kinh trung ương.
             - thương tổn tim : viêm động mạch chủ ( aortite ) với thiểu năng van động mạch chủ, phình quai động mạch chủ ( anévrysme de la crosse de l’aorte)

             - thương tổn não bộ ( liệt toàn thân với hội chứng sa sút trí tuệ ).

             - thương tổn tủy sống : tabès.

 

35/ THỜI GIAN BAO LÂU TỪ KHI LÂY NHIỄM ĐẾN KHI XUẤT HIỆN GIANG MAI NGUYÊN PHÁT ? GIANG MAI THỨ PHÁT ? GIANG MAI TAM PHÁT ?

            - Giang mai nguyên phát ( syphilis primaire ) có thời gian tiềm phục trung bình là 21 ngày (có thể thay đổi ).

            - Giang mai thứ phát ( syphilis secondaire ) phát ra từ tháng thứ hai đến năm thứ 4 sau khi bị lây nhiễm.

            - Giang mai tam phát  ( syphilis tertiaire ) xảy ra từ 2 đến 10 năm sau khi bị nhiễm trùng
36/ XÉT NGHIỆM NHANH NHẤT ĐỂ CHẤN ĐOÁN BỆNH GIANG MAI ?

            - khám trực tiếp trên kính hiển vi có nền đen (examen direct sur microscope à fond noir) một chất thanh dịch (sérosité) lấy từ săng giang mai (chancre), ban giang mai (syphilides) hoặc các mảng niêm mạc (plaques muqueuses).

 

37/ NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA CHẨN ĐOÁN HUYẾT THANH BỆNH GIANG MAI ?

           Huyết thanh học (sérologie) gồm hai trắc nghiệm :

                   - một trắc nghiệm không đặc hiệu, dựa trên sự nhận biết một kháng nguyên lipide : VDRL ( Venereal disease research laboratory ) .

                   - một trắc nghiệm đặc hiệu, dựa trên sự nhận biết một kháng nguyên của tréponème : TPHA ( Treponema pallidum Hemagglutination )

 

38/ PHẢN ỨNG HUYẾT THANH GIANG MAI  TPHA+ và VDRL+  CÓ NGHĨA LÀ GÌ ?

          - Bệnh giang mai đang trong thời kỳ hoạt động, cần được điều trị.

 

39/ PHẢN ỨNG HUYẾT THANH GIANG MAI  TPHA- và VDRL+  CÓ NGHĨA LÀ GÌ ?

          - có lẽ phản ứng dương tính giả ( faux négatif ).

 

40/ PHẢN ỨNG HUYẾT THANH GIANG MAI  TPHA+ và VDRL-  CÓ NGHĨA LÀ GÌ ?

          - giang mai mắc phải trước đây đã được chữa lành (đôi khi không được nhận biết ).

          - hoặc giai đoạn rất sớm của một giang mai nguyên phát ( syphilis primaire )  ( TPHA dương tính đầu tiên ).



41/ PHẢN ỨNG HUYẾT THANH GIANG MAI NÀO VẪN DƯƠNG TÍNH SAU MỘT ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ ?

           - TPHA (Treponema pallidum Hemagglutination).

 

42/ PHẢN ỨNG HUYẾT THANH GIANG MAI NÀO CÓ NỒNG ĐỘ GIẢM RẤT RÕ RỆT HOẶC ÂM TÍNH SAU MỘT ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ ?

           - VDRL (Venereal Disease Research Laboratory).


43/ NHỮNG CƠ SỞ CỦA ĐIỀU TRỊ BỆNH GIANG MAI ?

           Những lời khuyên điều trị được căn cứ trên mức độ thâm niên của nhiễm trùng, chứ không phải trên các biểu hiện lâm sàng :

           - Giang mai giai đoạn sớm ( syphylis précoce ) :

                  - có thời gian tiến triển dưới 1 năm.

                  - benzathine pénicilline G ( Penadur LA, Extencilline) : 2,4 triệu đơn vị, liều duy nhất, tiêm mông.
           - Giang mai giai đoạn muộn ( syphylis tardive ) :

                  - có thời gian tiến triển hơn một năm hoặc mọi bệnh giang mai không thể xác định được lúc nào bệnh nhân đã bị lây nhiễm.

                  - benzathine pénicilline, 2,4 triệu đơn vị, tiêm mông 3 lần mỗi lần cách nhau một tuần


 
 44/ PHẢN ỨNG JARISCH-HERXHEIMER LÀ GÌ ?

          Sau khi khởi đầu điều trị bệnh giang mai, bệnh nhân phát khởi sốt, run lạnh, đau cơ, đau đầu, tim đập nhanh, thở nhanh, tăng neutrophils, hạ nhẹ huyết áp. Các triệu chứng và dấu chứng này xảy ra sau khi khởi đầu điều trị với sốt cao đạt cao điểm sau 7 giờ và hạ sốt sau 12 đến 24 giờ. Phản ứng này xảy ra nơi 50% bệnh nhân với giang mai nguyên phát, 90% bệnh giang mai thứ phát và 25% bệnh giang mai tiềm ẩn ở giai đoạn sớm. Ở những bệnh nhân với giang mai thứ phát, những thương tổn da và niêm mạc có thể trở nên phù hơn và đỏ hơn. 


45/ VIÊM HẬU MÔN LÀ MỘT VẤN ĐỀ CHỦ YẾU ĐƯỢC THẤY Ở CÁC NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI. NÓI VỀ PHƯƠNG CÁCH CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ.

         Bất cứ cá nhân nào, nam hay nữ, với khởi đầu bằng những triệu chứng viêm hậu môn cấp tính (acute proctitis) (đau trực tràng, tiết dịch, mót rặn) và vừa mới giao hợp bằng đường hậu môn không được bảo vệ, đều có nguy cơ mắc phải bệnh lây truyền bằng đường sinh dục. Những bệnh nhân này nên được thăm khám bằng soi hậu môn (anoscopy) và nên được thử nghiệm tìm bệnh lậu (gonorrhea), Chlamydia, và HSV.Tất cả các bệnh nhân này nên được xét nghiệm huyết thanh tìm bệnh giang mai và nên được điều trị bệnh lậu và Chlamydia. Nếu các vết loét được thấy rõ ràng lúc thăm khám bằng soi hậu môn, cần xét đến việc điều trị kháng siêu vi với acyclovir.


46/ NÓI VỀ NHỮNG NHIỄM TRÙNG LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC Ở HẬU MÔN TRỰC TRÀNG.

         Chlamydia và bệnh lậu là những nguyên nhân thông thường của viêm hậu môn (proctitis). Chlamydia có thể gây nên viêm hạch bạch huyết hoa liễu (lymphogranuloma venereum). Chlamydia và bệnh lậu được truyền lúc giao hợp qua đường hậu môn trực tràng (anorectal) hoặc miệng-hậu môn ( oral-anal). Hầu hết các bệnh nhân bị nhiễm trùng bởi chlamydia đều có triệu chứng, trong khi đó chỉ 10% các bệnh nhân với bệnh lậu là có triệu chứng mà thôi. Viêm hậu môn được biểu hiện bằng đau và mót rặn trực tràng ( rectal pain et tenesmus ).Thăm khám bằng soi hậu môn phát hiện một niêm mạc đỏ và mảnh dẻ với chất tiết lẫn máu hoặc niêm dịch và các vết loét. Viêm hạch bạch huyết hoa liễu nếu không được điều trị có thể đưa đến rò (fistulas), áp xe hay hẹp trực tràng (rectal strictures).
         Hẹp trực tràng có thể là một cấp cứu ngoại khoa cần nong dãn cấp cứu. Đối với các bệnh nhân có triệu chứng nên điều trị cho cả hai vi khuẩn                    chlamydia và lậu cầu  bởi vì tỷ xuất đồng nhiễm (coinfection) cao. Doxycycline, 100mg bằng đường miệng hai lần mỗi ngày trong 7 ngày, và azithromycin, 1g bằng đường miệng với liều duy nhất, kết hợpvới ceftriaxone, 125mg tiêm mông. Những người tiếp xúc bằng đường sinh dục cũng nên được điều trị.

         Herpes simplex virus là một nguyên nhân khác của viêm hậu môn. Nhiễm trùng này đặc biệt thường thấy nơi những người đồng tính luyến ái. Có thể thấy loét hậu môn và trực tràng. Đau trực tràng, mót rặn, chất tiết niêm dịch mủ và ngứa thường xảy ra. Hẹp thường xảy ra với bệnh kinh niên. Điều trị gồm có acyclovir 400 mg bằng đường miệng, 5 lần mỗi ngày trong 10 ngày. Cũng cần cho thuốc giảm đau và thuốc nhuận tràng.

                    
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
                                   ( 5/12/2007)

References :
      - Emergency Medicine Secrets
      - Infectious Disease Secrets
      - Maladies infectieuses : Questions et Réponses

 

Đã đăng:

CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC (phần 1)

 

Trở về Trang Chính