Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

01 tháng 03 năm 2007

1.  THUỐC CHỦNG CHỐNG CÚM LÀM GIẤM ĐỘ NGHIÊM TRỌNG CỦA CÚM GIA CẦM.

Sự việc đuợc tiêm chủng chống cúm xảy ra theo mùa (grippe saisonnière) có thể là một yếu tố bảo vệ một phần nào đó chống lại cúm gia cầm.Các nhà nghiên cứu của Đaị Học Rochester ở Nữu Ước đã công bố hôm qua các kết quả nghiên cứu của họ trong tạp chí on-line PloS Medicine. Họ đã tiêm chủng chuột chống lại virus gây bệnh cúm cổ điển H1N1. Sau đó, họ đã cho các con chuột này tiếp xúc với các loại virus khác nhau của cúm xảy ra theo mùa và với H5N1 (là virus gây nên dịch cúm gia cầm, đặc biệt là ở châu Á, đã làm thiệt mạng 169 người trên thế giới). Tất cả các con chuột được tiệm chủng đều sống sót sau khi bi gây nhiễm bởi cúm xảy ra theo mùa. Một nửa trong số những con chuột này cũng đã sống sót sau khi được tiêm một liều lượng nhỏ virus H5N1. Sau đó các bác sĩ đã xem xét hiệu quả của huyết thanh của 38 người tình nguyện được tiêm chủng chống lại bệnh cúm xảy ra theo mùa trên môi trường cấy virus. Hầu hết các mẫu nghiệm máu có khả năng làm vô hiệu hoá virus H1N1 và có 7 mẫu nghiệm làm mất tác dụng virus H5N1.

 ” Những người khác có thể đã bị nhiễm trùng bởi H5N1, nhưng nhờ có độ miễn dịch mạnh chống lại virus cúm xảy ra theo mùa, nên mặc dầu bị nhiễm H5N1 họ chỉ có ít triệu chứng”. Các nhà thực hiện công trình nghiên cứu nầy đã viết như vậy. ”Cần phải bàn bạc về sự cần thiết phải tiêm chủng chống bệnh cúm xảy ra theo mùa trong những vùng có nhiều ổ bệnh cúm gia cầm.Tuy nhiên, chuột không phải là một mô hình khá tốt để nghiên cứu bệnh cúm. Cần phải thực hiện nhiều thực nghiệm khác về vấn đề này.”
( LE FIGARO 14/2/2007)

 


2.  CÀ PHÊ LÀ BẠN CỦA NHỮNG TRÁI TIM NGƯỜI GIÀ?

Một nghiên cứu dịch tễ học cho thấy rằng các đồ uống có cà phê có tác dụng bảo vệ khỏi bị nguy cơ tử vong do bệnh tim ở những người lớn tuổi.

Caféine có thể cải thiện hạ huyết áp sau khi ăn trong trường hợp nguy cơ gia tăng bị tai biến động mạch vành và tử vong nơi người lớn tuổi. James Greeberg và các cộng sự viên của một nhóm nhà nghiên cứu thuộc Đại học Nữu Ước, đã muốn kiểm tra giả thuyết theo đó đồ uống có cà phê làm giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch trong tuổi già. Để thực hiện điều này, các nhà nghiên cứu đã căn cứ trên một cuộc nghiên cứu (National Health and Nutrition Examination Survey EpidemiologicFollow up Study) với 6.594 người tham gia ở lứa tuổi từ 32 đến 86 tuổi không có tiền sử bệnh tim mạch.

Các kết quả cho thấy rằng những người tham gia trên 65 tuổi và tiêu thụ nhiều đồ uống có cà phê, có nguy cơ tim mạch thấp hơn và tỷ lệ tử vong do tim nhỏ hơn so với những người uống ít cà phê. Và hiệu quả bảo vệ này tùy thuộc vào lượng cà phê uống vào. Thật vậy nguy cơ tử vong do tim là 1 ;  0,77 ; 0,68, và  0,47 tùy theo lượng cà phê tiêu thụ: dưới ½ tách (cốc) mỗi ngày, từ ½ đến 2 tách mỗi ngày, từ 2 đến 4 tách mỗi ngày và trên 4 tách mỗi ngày. Một hiệu quả bảo vệ tương tự cũng đã được nhận thấy khi sự tiêu thụ caféine được tính bằng mg/ngày. Tuy nhiên, tác dụng tạo ích lợi này chỉ được nhận thấy ở những người tham gia không bị chứng huyết cao nghiêm trọng và không một hiệu quả bảo vệ đáng kế nào được xác định ở những người dưới 65 tuổi hoặc đối với tỷ lệ tử vong do tai biến mạch máu não của những người trên 65 tuổi.


Từ những kết quả trên,các tác giả kết luận rằng các đồ uống có cà phê có tác dụng bảo vệ đối với nguy cơ tử vong gây nên bởi bệnh tim nơi những người già.

( LE JOURNAL DU MEDECIN 13/2/2007)   

 

 

3.  UNG THƯ VÚ: MỘT TÁC NHÂN MỚI CHỐNG OESTROGENE ĐỂ LÀM GIẢM CÁC NGUY CƠ?

TAMOXIFENE, do tác dụng cản trên các oestrogènes, từ lâu đã là thuốc chuẩn cho việc phòng ngừa sự tái phát của ung thư vú. Ngày nay dược chất chủ yếu được sử dụng là ANASTROZOLE, có độ dung nạp thuốc tốt hơn nhiều và có hiệu quả cao hơn : 26% nguy cơ tái phát ít hơn so với tamoxifène .Tuy nhiên thuốc chống œstrogène này có bất lợi là thường hay gây đau khớp. Một thuốc chống œstrogène loại mới, FULVESTRANT, mới đây đã được chứng tỏ rằng  cũng hiệu quả như anastrozole và ít gây đau khớp hơn. Thời gian tác dụng của thuốc cũng kéo dài như thế và chỉ cần tiêm mông mỗi tháng mỗi lần. Thuốc sẽ xuất hiện trên thị trường trong vòng một năm nữa.
( LA LIBRE MATCH 7/2-13/2/2007)

 

4.  CẢNH CÁO CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ THỰC PHẨM VÀ DƯỢC PHẨM HOA KỲ ĐỔI VỚI THUỐC CHỦNG CHỐNG ROTAVIRUS. 

Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã quyết định tiến hành một chiến dịch thông tin về tác dụng phụ khả dĩ xảy ra, tuy hiếm nhưng nghiêm trọng, gây nên bởi vaccin ROTA TEQ (của Công Ty Dược Phẩm Merck). Vaccin này đã xuất hiện trên thị trường ở Pháp và dành cho nhũ nhi để phòng ngừa tiêu chảy nhiễm khuẩn do Rotavirus. Theo FDA, 28 trẻ em sau khi được tiêm chủng vaccin này đã bị lồng ruột cấp tính (invagination intestinale aigue) trong đó 16 trẻ phải bị phẫu thuật. Không có một trường hợp tử vong nào được ghi nhận.

Từ tháng hai năm 2006 , hơn 1 triệu trẻ em đã được chủng ngừa ở Hoa Kỳ. Theo FDA, lồng ruột có thể xảy ra ở trẻ không được tiêm chủng và số trường hợp được quan sát ở các trẻ được tiêm chủng tuồng như không cao hơn như dự kiến so với trẻ không được tiêm chủng. Tuy nhiên qua báo động này, Cơ quan quản lý Hoa Kỳ mong muốn thu lượm các báo cáo về các biến chứng. Ngay năm 1999, một vaccin đầu tiên chống Rotavirus được hiệu chính bởi Công Ty Dược Phẩm Wyeth, đã được rút ra khỏi thị trường sau khi một số trường hợp lồng ruột cao hơn mức cho phép đã được quan sát..

Rotavirus là một tác nhân phổ biến của viêm vị tràng thể nặng ở nhũ nhi. Đó là nguyên nhân gây tử vong chủ yếu ở trẻ em trong các nước đang phát triển. Ở Pháp, bệnh này là nguyên nhân của khoảng 13 trường hợp tử vong mỗi năm. Tử vong thường là do điều trị quá muộn.

« Vaccin này đã không được khuyến khích sử dụng bởi Ủy ban Kỹ thuật về Chủng ngừa ». Bác sĩ Michel Rosenheim, chuyện viên vệ sinh dịch tễ thuộc bệnh viện Pitié-Salpetrière, Paris, ủy viên của ủy ban này đã giải thích như vậy. Bởi vì song hành với những lý do khác, lọai thuốc chủng này đảm bảo một tình trạng an toàn giả tạo. Thuốc chủng không bảo vệ chống lại tất cả các loại tiêu chảy của nhũ nhi. Khi đứa bé được tiêm chủng bình thường người mẹ tin tưởng rằng từ nay sẽ không có nguy hiểm gì xảy ra nữa cả, do đó sẽ có phản ứng chậm  trong khi vấn đề tiêu chảy ở lứa tuổi này là một tình trạng khẩn trương phải được cấp cứu.

Việc điều trị được căn cứ trên sels de réhydratation. « Mối tương quan giữa lợi ích và nguy cơ của sự sử dụng vaccin đã không được cho là thuận lợi ». Hội đồng cao cấp vệ sinh công cộng của Pháp trong một ý kiến công bố cách nay vài tuần đã yêu cầu nghiên cứu lại việc khuyên sử dụng đại tràng vaccin này và cải thiện thái độ điều trị tiêu cháy của nhũ nhi.
(LE FIGARO 15/2/2007)  
 



5.   XE HƠI GÂY UNG THƯ

Một nhóm nghiên cứu của Saint Louis University School of Medicine đã trình bày kết quả công trình nghiên cứu đến Viện Hàn Lâm Bệnh Ngoài Da Hoa Kỳ. Các nhà nghiên cứu nầy đã quả quyết rằng, sự tiếp xúc thường xuyên các tia nắng mặt trời xuyên qua cửa kính xe hơi là độc hại. Tình hình càng tệ hại nếu các cửa kính được mở ra trong luc lái xe. Đây là một công trình nghiên cứu được chỉ đạo bởi Bác sĩ Scott Fosko, đã chiêu mộ một số lượng bệnh nhân là 898 người (gồm 559 nam giới và 339 phụ nữ) bị ung thư da một bên hay hai bên.

Ở đàn ông rõ ràng là các ung thư thường xảy ra hơn trên các bộ phận cơ thể tiếp xúc nhiều nhất với tia tử ngoại trong khi lái xe, nghĩa là phía bên trái (đối với Hoa Kỳ). Các phần bị tiếp xúc nhất, đó là đầu, cổ, cánh tay và các bàn tay, thường là nơi bị ung thư da thường gặp nhất. Từ những dữ kiện sơ khởi người ta suy ra rằng các người lái xe, lái với cửa sổ thỉnh thoảng được mở ra, có tỷ lệ mắc phải bệnh ung thư da cao nhất ở phía bên trái. Nhiều trong số các ung thư này phát triển với thời gian và tương ứng qua sự tiếp xúc tia tử ngoại tái diễn và tích luỹ hơn là với cường độ tiếp xúc mạnh nhưng xảy ra gián đoạn.

Bác sĩ Fosko đánh giá rằng hiện nay phụ nữ ngày lái xe càng nhiều và số giờ ngồi trước tay lái ngày càng tăng, nên khuynh hướng này sẽ còn tiếp diễn và người ta cũng sẽ nhận thấy các ung thư về phía trái nơi các phụ nữ. Các nhà nghiên cứu nầy đã đưa ra đề nghị trang bị tất cả cửa kính bên cửa xe hơi bằng lọai kính ám khói (verre fumé). Hiện nay hầu hết các cửa kính xe hơi đều giữ các tia tử ngoại B (ultraviolet B), là nguyên nhân của những trường hợp trúng nắng (coup de chaleur), nhưng không giữ tia tử ngoại A (ultraviolet A), đi sâu hơn vào trong dạ.
( LE JOURNAL DU MEDECIN 13/2/2007).


 

6.   HIỆU LỰC CHỐNG ĐAU CỦA VI KHUẨN

Điều trị đau đớn nhờ các vi khuẩn là một phương thức độc đáo được trắc nghiệm bởi một nhóm nghiên cứu ở Lille. Các nhà nghiên cứu nầy đã sử dụng Lactobacillus acidophilus, một trong những vì khuẩn sống tự nhiên trong hệ khuẩn ruột (flore intestinale) của người và có lợi ích cho sức khỏe. Đó là những PROBIOTIQUES.Ta đã biết lợi ích của Lactobacillus acidophilus được sử dụng để bổ sung dinh dưỡng, nhưng tác dụng chống đau đối với các cơn đau có nguyên nhân do ruột là một khám phá bất ngờ.

Theo các công trình được công bố trong Nature Medicine, Lactobacillus acidophilus có một hiệu quả tương đương với Morphine khi được cho hàng ngày bằng đường miệng. Men (levure) tác động lên hai récepteurs chống đau (đối với opioides và cannabinoides) hiện diện ở bề mặt của thành ruột già, và nhờ thế cho phép giảm ngưỡng của đau đớn..

Các thử nghiệm được tiến hành trên các bệnh nhân bị chứng « colon irritable », tức là những rối loạn chức năng ruột (không có thương tổn thực thể) đang được tiến hành ở Hoa Kỳ .Và các nhà nghiên cứu đã có dự kiến đối với những bệnh lý nặng hơn, sẽ liên kết Lactobacillus acidophilus và Morphine để giảm liều lượng và tác dụng phụ của Morphine. Các probiotique, chủ yếu hiện diện trong yaourts và sữa lên men, cũng được thấy trong choucroute, bia và bánh mì có bột men (pain au levain).
( SCIENCES et AVENIR 2/2007)
 


 

7.  SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA NHŨ NHI VÀ NGUY CƠ TAI BIỂN MẠCH MÁU NÃO

Từ lâu người ta đã biết rằng, những người lúc sinh ra có trọng lượng nhỏ sẽ có nguy cơ gia tăng bị tai biến mạch máu não về sau. Ngược lại, ảnh hưởng của sự tăng trưởng sau khi sinh trong giai đoạn sớm lên nguy cơ tai biến mạch máu não thì ít được biết đến. Osmond và các cộng sự viên đã theo dõi số 12.439 người sinh ra ở Helsinki từ năm 1934 đến 1944. Kích thước của những người này được đo lúc sinh và sau đó trung bình 9 lần suốt trong hai năm đầu. Các nhà nghiên cứu đã ghi nhận rằng 507 người trong số này đã được nhập viện trong thời kỳ theo dõi vì tai biến mạch máu não hoặc vì tử vong do tai biến này..

Các tác giả xác nhận rằng nguy cơ tai biến mach máu não tỷ lệ nghịch với thể trọng được đo giữa lúc sinh ra và năm 2 tuổi..Theo các tác giả,tiến triển của thể trọng sau 2 tuổi ít có ảnh hưởng lên nguy cơ tai biến mạch máu não.Trái lại các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng có một tuơng quan nào đó với hình dạng của xương chậu bà mẹ.Để giải thích sự tương quan này cần phải truy nguồn vào thời thơ ấu của bà mẹ,là lúc mà xương chậu được hình thành vĩnh viễn.
(LE JOURNAL DU MEDECIN  16/2/2007)
 

 

8.  CAFEINE VÀ TRỌNG LƯỢNG LÚC SINH

Giảm sự tiêu thụ cà phê trong thời kỳ thai nghén từ 3 tách cà phê mỗi ngày xuống còn một tách không có tác dụng lên trọng lương lúc sinh của trẻ sơ sinh, theo báo cáo của các nhà nghiên cứu Đan Mạch.

Một vài công trình nghiên cứu đã gợi ý rằng việc giảm sự tiêu thụ cà phê có thể làm gia tăng trọng lượng trung bình lúc sinh, nhưng theo phân tích của một nghiên cứu mới đây trên hơn 1.200 phụ nữ khỏe mạnh đã cho thấy không tạo ảnh hưởng lên thể trọng lúc sinh hay thời gian thai nghén.

Các nhà nghiên cứu đã tuyển mộ 1.207 phụ nữ có thai 5, hay hơn 5 tháng. Các phụ nữ này cho biết họ uống ít nhất là 3 tách cà phê có caféine mỗi ngày. Một nửa trong số các phụ nữ này được cho uống cà phê có caféine trong khi đó một nửa kia được chỉ thị cho uống cà phê không có caféine suốt trong thời gian thai nghén. Kết quả cho thấy rằng trọng lượng trung bình của trẻ sơ sinh từ nhóm các bà mẹ uống cà phê không có caféine, cao hơn nhóm các bà mẹ uống cà phê với caféine, nhưng là một số lượng không đáng kể về mặt thống kê (14 gr).

 Các nhà nghiên cứu công nhận rằng sự tiêu thụ caféine không phải là vô hại nhưng mặt khác sự giảm uống cà phê không có ảnh hưởng đáng kể nào lên trọng lượng của trẻ sơ sinh
(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 15/2/2007)
 


 

9.  TÁC DỤNG HIỆP ĐỒNG ÂM TÍNH
Bệnh SIDA và bệnh SỐT RÉT sống không hoà thuận với nhau. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ cho rằng có một tác dụng lẫn nhau giữa hai bệnh này ở người bệnh bị nhiễm cả hai bệnh này. Các bệnh nhân bị nhiễm virus SIDA, do sự suy giảm miễn dịch nên có nhiều nguy cơ hơn bị mắc bệnh sốt rét. Trái lại, các cơn sốt rét gây sự tăng sinh gấp mười lần lượng HIV trong máu! Thế mà khả năng truyền bệnh SIDA tỷ lệ với nồng độ virus trong máu.                                                                                                                                                                                                     (LA RECHERCHE 2/2007)


 

10.  KẼM VÀ ĐỒNG CÓ TÁC DỤNG BÁO VỆ CHỒNG UNG THƯ PHỔI
Thật vậy kẽm và đồng mang lại do thức ăn liên kết vơi giảm nguy cơ bị ung thư phổi. Đó là kết luận của một cuộc nghiên cứu đặt căn bản trên hơn 3.300 người, được thực hiện bởi Khoa Dịch Tễ Học của Đạị Học Texas, Houston. Các người này có chế độ ăn uống nhiều kẽm nhất (hàu, thit đỏ, mầm lúa mì) nguy cơ bị ung thu phổi giảm 43%. Hiệu quả còn rõ rệt hơn đối với thức ăn có đồng ( tôm, ốc, ngao, sò, ngũ cốc): nguy cơ bị ung thư giảm 66% đối với nồng độ đồng trong thức ăn quan trọng nhất. Kết quả như nhau dầu cho nam hay nữ, tuổi tác khác nhau hoặc lượng thuốc lá được tiêu thụ là bao nhiêu..
( SCIENCE ET VIE 2/2007 )

 

Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

(16/2/2007)


 

Trở về Trang Chính