|
1. THUỐC CHỦNG CHỐNG CÚM
LÀM GIẤM ĐỘ NGHIÊM TRỌNG CỦA CÚM GIA CẦM.
Sự việc đuợc tiêm
chủng chống cúm xảy ra theo mùa (grippe saisonnière) có thể là
một yếu tố bảo vệ một phần nào đó chống lại cúm gia cầm.Các nhà
nghiên cứu của Đaị Học Rochester ở Nữu Ước đã công bố hôm qua
các kết quả nghiên cứu của họ trong tạp chí on-line PloS
Medicine. Họ đã tiêm chủng chuột chống lại virus gây bệnh cúm cổ
điển H1N1. Sau đó, họ đã cho các con chuột này tiếp xúc với các
loại virus khác nhau của cúm xảy ra theo mùa và với H5N1 (là
virus gây nên dịch cúm gia cầm, đặc biệt là ở châu Á, đã làm
thiệt mạng 169 người trên thế giới). Tất cả các con chuột được
tiệm chủng đều sống sót sau khi bi gây nhiễm bởi cúm xảy ra theo
mùa. Một nửa trong số những con chuột này cũng đã sống sót sau
khi được tiêm một liều lượng nhỏ virus H5N1. Sau đó các bác sĩ
đã xem xét hiệu quả của huyết thanh của 38 người tình nguyện
được tiêm chủng chống lại bệnh cúm xảy ra theo mùa trên môi
trường cấy virus. Hầu hết các mẫu nghiệm máu có khả năng làm vô
hiệu hoá virus H1N1 và có 7 mẫu nghiệm làm mất tác dụng virus
H5N1.
” Những người khác có thể đã bị nhiễm trùng
bởi H5N1, nhưng nhờ có độ miễn dịch mạnh chống lại virus cúm xảy
ra theo mùa, nên mặc dầu bị nhiễm H5N1 họ chỉ có ít triệu
chứng”. Các nhà thực hiện công trình nghiên cứu nầy đã viết như
vậy. ”Cần phải bàn bạc về sự cần thiết phải tiêm chủng chống
bệnh cúm xảy ra theo mùa trong những vùng có nhiều ổ bệnh cúm
gia cầm.Tuy nhiên, chuột không phải là một mô hình khá tốt để
nghiên cứu bệnh cúm. Cần phải thực hiện nhiều thực nghiệm khác
về vấn đề này.”
( LE FIGARO
14/2/2007)
2. CÀ PHÊ LÀ BẠN CỦA NHỮNG TRÁI
TIM NGƯỜI GIÀ?
Một nghiên cứu dịch tễ học cho thấy rằng các
đồ uống có cà phê có tác dụng bảo vệ khỏi bị nguy cơ tử vong do
bệnh tim ở những người lớn tuổi.
Caféine có thể cải
thiện hạ huyết áp sau khi ăn trong trường hợp nguy cơ gia tăng
bị tai biến động mạch vành và tử vong nơi người lớn tuổi. James
Greeberg và các cộng sự viên của một nhóm nhà nghiên cứu thuộc
Đại học Nữu Ước, đã muốn kiểm tra giả thuyết theo đó đồ uống có
cà phê làm giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch trong tuổi già.
Để thực hiện điều này, các nhà nghiên cứu đã căn cứ trên một
cuộc nghiên cứu (National Health and Nutrition Examination
Survey EpidemiologicFollow up Study) với 6.594 người tham gia ở
lứa tuổi từ 32 đến 86 tuổi không có tiền sử bệnh tim mạch.
Các kết quả cho thấy
rằng những người tham gia trên 65 tuổi và tiêu thụ nhiều đồ uống
có cà phê, có nguy cơ tim mạch thấp hơn và tỷ lệ tử vong do tim
nhỏ hơn so với những người uống ít cà phê. Và hiệu quả bảo vệ
này tùy thuộc vào lượng cà phê uống vào. Thật vậy nguy cơ tử
vong do tim là 1 ; 0,77 ; 0,68, và 0,47 tùy theo lượng cà phê
tiêu thụ: dưới ½ tách (cốc) mỗi ngày, từ ½ đến 2 tách mỗi ngày,
từ 2 đến 4 tách mỗi ngày và trên 4 tách mỗi ngày. Một hiệu quả
bảo vệ tương tự cũng đã được nhận thấy khi sự tiêu thụ caféine
được tính bằng mg/ngày. Tuy nhiên, tác dụng tạo ích lợi này chỉ
được nhận thấy ở những người tham gia không bị chứng huyết cao
nghiêm trọng và không một hiệu quả bảo vệ đáng kế nào được xác
định ở những người dưới 65 tuổi hoặc đối với tỷ lệ tử vong do
tai biến mạch máu não của những người trên 65 tuổi.
Từ những kết quả trên,các tác giả kết luận rằng các đồ uống có
cà phê có tác dụng bảo vệ đối với nguy cơ tử vong gây nên bởi
bệnh tim nơi những người già.
( LE JOURNAL DU MEDECIN
13/2/2007)
3. UNG THƯ VÚ: MỘT TÁC NHÂN MỚI CHỐNG OESTROGENE ĐỂ LÀM GIẢM
CÁC NGUY CƠ?
TAMOXIFENE, do tác dụng cản trên các oestrogènes, từ lâu đã là
thuốc chuẩn cho việc phòng ngừa sự tái phát của ung thư vú. Ngày
nay dược chất chủ yếu được sử dụng là ANASTROZOLE, có độ dung
nạp thuốc tốt hơn nhiều và có hiệu quả cao hơn : 26% nguy cơ tái
phát ít hơn so với tamoxifène .Tuy nhiên thuốc chống œstrogène
này có bất lợi là thường hay gây đau khớp. Một thuốc chống
œstrogène loại mới, FULVESTRANT, mới đây đã được chứng tỏ rằng
cũng hiệu quả như anastrozole và ít gây đau khớp hơn. Thời gian
tác dụng của thuốc cũng kéo dài như thế và chỉ cần tiêm mông mỗi
tháng mỗi lần. Thuốc sẽ xuất hiện trên thị trường trong vòng một
năm nữa.
( LA LIBRE MATCH 7/2-13/2/2007)
4. CẢNH CÁO CỦA CƠ
QUAN QUẢN LÝ THỰC PHẨM VÀ DƯỢC PHẨM HOA KỲ ĐỔI VỚI THUỐC CHỦNG
CHỐNG ROTAVIRUS.
Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ
(FDA) đã quyết định tiến hành một chiến dịch thông tin về tác
dụng phụ khả dĩ xảy ra, tuy hiếm nhưng nghiêm trọng, gây nên bởi
vaccin ROTA TEQ (của Công Ty Dược Phẩm Merck). Vaccin này đã
xuất hiện trên thị trường ở Pháp và dành cho nhũ nhi để phòng
ngừa tiêu chảy nhiễm khuẩn do Rotavirus. Theo FDA, 28 trẻ em sau
khi được tiêm chủng vaccin này đã bị lồng ruột cấp tính
(invagination intestinale aigue) trong đó 16 trẻ phải bị phẫu
thuật. Không có một trường hợp tử vong nào được ghi nhận.
Từ tháng hai năm 2006 , hơn 1 triệu trẻ em đã được chủng ngừa ở
Hoa Kỳ. Theo FDA, lồng ruột có thể xảy ra ở trẻ không được tiêm
chủng và số trường hợp được quan sát ở các trẻ được tiêm chủng
tuồng như không cao hơn như dự kiến so với trẻ không được tiêm
chủng. Tuy nhiên qua báo động này, Cơ quan quản lý Hoa Kỳ mong
muốn thu lượm các báo cáo về các biến chứng. Ngay năm 1999, một
vaccin đầu tiên chống Rotavirus được hiệu chính bởi Công Ty Dược
Phẩm Wyeth, đã được rút ra khỏi thị trường sau khi một số trường
hợp lồng ruột cao hơn mức cho phép đã được quan sát..
Rotavirus là một tác nhân phổ biến của viêm
vị tràng thể nặng ở nhũ nhi. Đó là nguyên nhân gây tử vong chủ
yếu ở trẻ em trong các nước đang phát triển. Ở Pháp, bệnh này là
nguyên nhân của khoảng 13 trường hợp tử vong mỗi năm. Tử vong
thường là do điều trị quá muộn.
« Vaccin này đã không được khuyến khích sử dụng
bởi Ủy ban Kỹ thuật về Chủng ngừa ». Bác sĩ
Michel Rosenheim, chuyện viên vệ sinh
dịch tễ thuộc bệnh viện Pitié-Salpetrière, Paris, ủy viên của ủy
ban này đã giải thích như vậy. Bởi vì song hành với những lý do
khác, lọai thuốc chủng này đảm bảo một tình trạng an toàn giả
tạo. Thuốc chủng không bảo vệ chống lại tất cả các loại tiêu
chảy của nhũ nhi. Khi đứa bé được tiêm chủng bình thường người
mẹ tin tưởng rằng từ nay sẽ không có nguy hiểm gì xảy ra nữa cả,
do đó sẽ có phản ứng chậm trong khi vấn đề tiêu chảy ở lứa tuổi
này là một tình trạng khẩn trương phải được cấp cứu.
Việc điều trị được căn cứ trên sels de
réhydratation. « Mối tương quan giữa lợi ích và nguy cơ của sự
sử dụng vaccin đã không được cho là thuận lợi ». Hội đồng cao
cấp vệ sinh công cộng của Pháp trong một ý kiến công bố cách nay
vài tuần đã yêu cầu nghiên cứu lại việc khuyên sử dụng đại tràng
vaccin này và cải thiện thái độ điều trị tiêu cháy của nhũ nhi.
(LE FIGARO 15/2/2007)
5. XE HƠI GÂY UNG THƯ
Một nhóm nghiên cứu của Saint Louis
University School of Medicine đã trình bày kết quả công trình
nghiên cứu đến Viện Hàn Lâm Bệnh Ngoài Da Hoa Kỳ. Các nhà nghiên
cứu nầy đã quả quyết rằng, sự tiếp xúc thường xuyên các tia nắng
mặt trời xuyên qua cửa kính xe hơi là độc hại. Tình hình càng tệ
hại nếu các cửa kính được mở ra trong luc lái xe. Đây là một
công trình nghiên cứu được chỉ đạo bởi Bác sĩ Scott Fosko, đã
chiêu mộ một số lượng bệnh nhân là 898 người (gồm 559 nam giới
và 339 phụ nữ) bị ung thư da một bên hay hai bên.
Ở đàn ông rõ ràng là các ung thư thường xảy
ra hơn trên các bộ phận cơ thể tiếp xúc nhiều nhất với tia tử
ngoại trong khi lái xe, nghĩa là phía bên trái (đối với Hoa Kỳ).
Các phần bị tiếp xúc nhất, đó là đầu, cổ, cánh tay và các bàn
tay, thường là nơi bị ung thư da thường gặp nhất. Từ những dữ
kiện sơ khởi người ta suy ra rằng các người lái xe, lái với cửa
sổ thỉnh thoảng được mở ra, có tỷ lệ mắc phải bệnh ung thư da
cao nhất ở phía bên trái. Nhiều trong số các ung thư này phát
triển với thời gian và tương ứng qua sự tiếp xúc tia tử ngoại
tái diễn và tích luỹ hơn là với cường độ tiếp xúc mạnh nhưng xảy
ra gián đoạn.
Bác sĩ Fosko đánh giá rằng hiện nay phụ nữ
ngày lái xe càng nhiều và số giờ ngồi trước tay lái ngày càng
tăng, nên khuynh hướng này sẽ còn tiếp diễn và người ta cũng sẽ
nhận thấy các ung thư về phía trái nơi các phụ nữ. Các nhà
nghiên cứu nầy đã đưa ra đề nghị trang bị tất cả cửa kính bên
cửa xe hơi bằng lọai kính ám khói (verre fumé). Hiện nay hầu hết
các cửa kính xe hơi đều giữ các tia tử ngoại B (ultraviolet B),
là nguyên nhân của những trường hợp trúng nắng (coup de
chaleur), nhưng không giữ tia tử ngoại A (ultraviolet A), đi sâu
hơn vào trong dạ.
( LE JOURNAL DU MEDECIN 13/2/2007).
6. HIỆU LỰC CHỐNG
ĐAU CỦA VI KHUẨN
Điều trị đau đớn nhờ
các vi khuẩn là một phương thức độc đáo được trắc nghiệm bởi một
nhóm nghiên cứu ở Lille. Các nhà nghiên cứu nầy đã sử dụng
Lactobacillus acidophilus, một trong những vì khuẩn sống tự
nhiên trong hệ khuẩn ruột (flore intestinale) của người và có
lợi ích cho sức khỏe. Đó là những PROBIOTIQUES.Ta đã biết lợi
ích của Lactobacillus acidophilus được sử dụng để bổ sung dinh
dưỡng, nhưng tác dụng chống đau đối với các cơn đau có nguyên
nhân do ruột là một khám phá bất ngờ.
Theo các công trình được công bố trong Nature
Medicine, Lactobacillus acidophilus có một hiệu quả tương đương
với Morphine khi được cho hàng ngày bằng đường miệng. Men
(levure) tác động lên hai récepteurs chống đau (đối với opioides
và cannabinoides) hiện diện ở bề mặt của thành ruột già, và nhờ
thế cho phép giảm ngưỡng của đau đớn..
Các thử nghiệm được tiến hành trên các bệnh
nhân bị chứng « colon irritable », tức là những rối loạn chức
năng ruột (không có thương tổn thực thể) đang được tiến hành ở
Hoa Kỳ .Và các nhà nghiên cứu đã có dự kiến đối với những bệnh
lý nặng hơn, sẽ liên kết Lactobacillus acidophilus và Morphine
để giảm liều lượng và tác dụng phụ của Morphine. Các
probiotique, chủ yếu hiện diện trong yaourts và sữa lên men,
cũng được thấy trong choucroute, bia và bánh mì có bột men (pain
au levain).
( SCIENCES et
AVENIR 2/2007)
7. SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA NHŨ NHI VÀ NGUY CƠ TAI BIỂN MẠCH MÁU NÃO
Từ lâu người ta đã
biết rằng, những người lúc sinh ra có trọng lượng nhỏ sẽ có nguy
cơ gia tăng bị tai biến mạch máu não về sau. Ngược lại, ảnh
hưởng của sự tăng trưởng sau khi sinh trong giai đoạn sớm lên
nguy cơ tai biến mạch máu não thì ít được biết đến. Osmond và
các cộng sự viên đã theo dõi số 12.439 người sinh ra ở Helsinki
từ năm 1934 đến 1944. Kích thước của những người này được đo lúc
sinh và sau đó trung bình 9 lần suốt trong hai năm đầu. Các nhà
nghiên cứu đã ghi nhận rằng 507 người trong số này đã được nhập
viện trong thời kỳ theo dõi vì tai biến mạch máu não hoặc vì tử
vong do tai biến này..
Các tác giả xác nhận rằng nguy cơ tai biến
mach máu não tỷ lệ nghịch với thể trọng được đo giữa lúc sinh ra
và năm 2 tuổi..Theo các tác giả,tiến triển của thể trọng sau 2
tuổi ít có ảnh hưởng lên nguy cơ tai biến mạch máu não.Trái lại
các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng có một tuơng quan nào đó với
hình dạng của xương chậu bà mẹ.Để giải thích sự tương quan này
cần phải truy nguồn vào thời thơ ấu của bà mẹ,là lúc mà xương
chậu được hình thành vĩnh viễn.
(LE JOURNAL DU
MEDECIN 16/2/2007)
8. CAFEINE VÀ TRỌNG
LƯỢNG LÚC SINH
Giảm sự tiêu thụ cà
phê trong thời kỳ thai nghén từ 3 tách cà phê mỗi ngày xuống còn
một tách không có tác dụng lên trọng lương lúc sinh của trẻ sơ
sinh, theo báo cáo của các nhà nghiên cứu Đan Mạch.
Một vài công trình
nghiên cứu đã gợi ý rằng việc giảm sự tiêu thụ cà phê có thể làm
gia tăng trọng lượng trung bình lúc sinh, nhưng theo phân tích
của một nghiên cứu mới đây trên hơn 1.200 phụ nữ khỏe mạnh đã
cho thấy không tạo ảnh hưởng lên thể trọng lúc sinh hay thời
gian thai nghén.
Các nhà nghiên cứu đã tuyển mộ 1.207 phụ nữ
có thai 5, hay hơn 5 tháng. Các phụ nữ này cho biết họ uống ít
nhất là 3 tách cà phê có caféine mỗi ngày. Một nửa trong số các
phụ nữ này được cho uống cà phê có caféine trong khi đó một nửa
kia được chỉ thị cho uống cà phê không có caféine suốt trong
thời gian thai nghén. Kết quả cho thấy rằng trọng lượng trung
bình của trẻ sơ sinh từ nhóm các bà mẹ uống cà phê không có
caféine, cao hơn nhóm các bà mẹ uống cà phê với caféine, nhưng
là một số lượng không đáng kể về mặt thống kê (14 gr).
Các nhà nghiên cứu công nhận rằng sự tiêu
thụ caféine không phải là vô hại nhưng mặt khác sự giảm uống cà
phê không có ảnh hưởng đáng kể nào lên trọng lượng của trẻ sơ
sinh
(INTERNATIONAL
HERALD TRIBUNE 15/2/2007)
9. TÁC DỤNG HIỆP ĐỒNG
ÂM TÍNH
Bệnh SIDA và bệnh SỐT RÉT sống không
hoà thuận với nhau. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ cho rằng có một
tác dụng lẫn nhau giữa hai bệnh này ở người bệnh bị nhiễm cả hai
bệnh này. Các bệnh nhân bị nhiễm virus SIDA, do sự suy giảm miễn
dịch nên có nhiều nguy cơ hơn bị mắc bệnh sốt rét. Trái lại, các
cơn sốt rét gây sự tăng sinh gấp mười lần lượng HIV trong máu!
Thế mà khả năng truyền bệnh SIDA tỷ lệ với nồng độ virus trong
máu.
(LA
RECHERCHE 2/2007)
10. KẼM VÀ ĐỒNG CÓ TÁC DỤNG BÁO VỆ CHỒNG
UNG THƯ PHỔI
Thật vậy kẽm và đồng mang lại do thức ăn liên kết vơi giảm nguy
cơ bị ung thư phổi. Đó là kết luận của một cuộc nghiên cứu đặt
căn bản trên hơn 3.300 người, được thực hiện bởi Khoa Dịch Tễ
Học của Đạị Học Texas, Houston. Các người này có chế độ ăn uống
nhiều kẽm nhất (hàu, thit đỏ, mầm lúa mì) nguy cơ bị ung thu
phổi giảm 43%. Hiệu quả còn rõ rệt hơn đối với thức ăn có đồng (
tôm, ốc, ngao, sò, ngũ cốc): nguy cơ bị ung thư giảm 66% đối với
nồng độ đồng trong thức ăn quan trọng nhất. Kết quả như nhau dầu
cho nam hay nữ, tuổi tác khác nhau hoặc lượng thuốc lá được tiêu
thụ là bao nhiêu..
( SCIENCE ET VIE 2/2007 )
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
(16/2/2007)
Trở về Trang Chính
|