Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

E-Mail: bsnguyenvanthinh@khoahoc.net

22 tháng 05 năm 2008

1/ CÁC BỆNH TIM MẠCH : MỘT VẤN ĐỀ KHÔNG PHẢI CHỈ QUAN HỆ ĐẾN ĐÀN ÔNG.

          Mặc dầu từ nhiều năm nay người ta biết rằng không phải là như vậy, nhưng bệnh tim mạch vẫn tiếp tục là vấn đề đi đôi với nam giới trong đầu óc của nhiều người. Một ý nghĩ cần phải khẩn trương uốn nắn về mặt y tế công cộng.

Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ nhắc lại rằng các bệnh động mạch vành là nguyên nhân đầu tiên gây tử vong ở Hoa kỳ nơi các phụ nữ cũng như nơi đàn ông.Thực vậy mỗi năm ở Hoa Kỳ hơn một nửa triệu phụ nữ chết vì các bệnh tim mạch, hai lần nhiều hơn số tử vong do toàn bộ các ung thư. Ung thư vú, mặc dầu thường làm lo lắng các phụ nữ hơn, vì những lý do tâm lý dễ hiểu, tuy vậy giết chết 12 lần ít hơn so với các bệnh tim mạch.
         Khoảng 5 phụ nữ thì có một bị một bệnh lý tim mạch nào đó.Và nếu các ông có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim cao hơn và dễ là nạn nhân của một nhồi máu cơ tim ở một lứa tuổi ít cao, các phụ nữ tuy vậy vẫn không hề được tránh khỏi về phương diện này. Hàng năm có 9.000 phụ nữ dưới 45 tuổi và 250.000 phụ nữ trên 65 tuổi là nạn nhân của một nhồi máu cơ tim.

          Thật ra các phụ nữ trung bình bị nhồi máu cơ tim 6 hoặc 7 năm chậm hơn so với các ông, nhưng sau 65 tuổi sự khác biệt này có khuynh hướng mất đi.

Trên quy mô hành tinh 8,5 triệu phụ nữ chết mỗi năm vì hậu quả của một bệnh tim mạch, trong khi đó 3 triệu người chết vì tai biến mạch máu não.Tai biến mạch máu não là nguyên nhân đầu tiên gây tàn tật trong hầu hết các nước kỹ nghệ hóa.

         Vào năm 1996, các bệnh tim mạch nơi các phụ nữ đã mang lại 2.569.333 ngày nhập viện (đối với hơn 33 triệu dân). Trong các nước đang phát triển, một nửa các phụ nữ trên 50 tuổi chết vì bệnh tim hoặc các tai biến mạch máu não.

TIỀN LƯỢNG U TỐI HƠN.

            Ngoài ra tiên lượng bệnh u tối hơn đối với phái yếu trong một số các trường hợp : 38% các phụ nữ, so với 25% các ông, chết trong năm sau khi xảy ra một nhồi máu cơ tim. Sự bất lợi của các phụ nữ lại càng rõ nét hơn về việc xảy ra tái phát trong vòng sáu năm sau một lần nhồi máu cơ tim đầu tiên ( 38% so với 18%).

            Đối với các tai biến mạch máu não, mối bất lợi cũng ở phía các phụ nữ : khoảng 60% các tử vong hàng năm do tai biến mạch máu não xảy ra nơi các phụ nữ.

            Các phụ nữ nhạy cảm với cùng những yếu tố nguy cơ của đàn ông (cao huyết áp, tăng cholestérol huyết, đái đường, nghiện thuốc lá, chế độ ăn uống không thích hợp, gia tăng thể trọng, nhàn rỗi không hoạt động và các tiền sử gia đình),  nhưng đối với phụ nữ cần phải thêm vào chứng mãn kinh và sự sử dụng thuốc ngừa thai bằng đường miệng nơi các phụ nữ hút thuốc lá hay cao huyết áp. Ngoài ra, dường như sự gia tăng triglycérides tự bản thân tạo nên một yếu tố nguy cơ ở phụ nữ rõ ràng hơn so với đàn ông.
         Cũng cần ghi nhận rằng các phụ nữ thường có bệnh cảnh lâm sàng của bệnh nhồi máu cơ tim ít điển hình hơn so với đàn ông (đau lưng, đau cổ và những định vị khác, hơn là các cơn đau sau xương ức cổ điển).

        Việc cần thiết làm nhạy cảm dư luận về vấn đề các bệnh tim mạch nơi các phụ nữ đã thúc đẩy Hiệp hội Tim Hoa Kỳ phát động phong trào “ Go Red For Women ” ( http://www.goredforwomen.org). Hiệp hội Tim Hoa Kỳ đặc biệt đã hiệu chính một công cụ đánh giá tương tác on line, “ nhằm giúp đỡ các phụ nữ chăm sóc tình trạng sức khỏe tim của họ ”. Hoạt động của phong trào lên đến cao điểm với sự thành lập một ngày quốc gia được gọi là “ National Wear Red Day ”. Các ông và các bà vào ngày đó có thể ủng hộ một cách tượng trưng hoạt động của phong trào bằng cách mang các bộ đồ quần áo màu đỏ. 

       Có nhiều hoạt động khác nhằm làm nhạy cảm các phụ nữ về mối nguy cơ mà họ thường không hay biết. Trong số nhiều thí dụ khác, cần ghi nhận hoạt động của National Coalition for Women with Heart Disease                                  ( http://www.womenheart.org/ ).

                 Nguồn :  LA SEMAINE MEDICALE ( 17/4/2008 )



2/ BỆNH NHỒI MÁU CƠ TIM : CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ ÍT TỐT HƠN Ở CÁC PHỤ NỮ.

          Nhồi máu cơ tim (infarctus du myocarde) ở phụ nữ được thể hiện bởi các triệu chứng khác với đàn ông. Ở phụ nữ, căn bệnh này được chẩn đoán và điều trị ít tốt hơn.

           Bệnh nhồi máu cơ tim từ lâu đã được xem là một bệnh của đàn ông, một tai họa của nam giới. Còn các phụ nữ thì được cho là được bảo vệ nhờ các hormone nữ. Thực tế mà các thầy thuốc đang nghiên cứu lại rõ ràng khác hẳn. Một công trình nghiên cứu trên 25.000 người đã bị nhồi máu cơ tim trong 14 nước, được công bố tuần này trên site Internet của tạp chí Heart, tiết lộ rằng các triệu chứng của nhồi máu cơ tim ở phụ nữ và đàn ông không tương tự nhau.
         Vì các thầy thuốc đã học chẩn đoán bệnh nhồi máu cơ tim qua các cơn đau điển hình xảy ra ở nam giới, do đó họ dễ không nhận biết hơn triệu chứng đau của chứng bệnh tim này khi xảy ra ở phụ nữ. Trước tuổi 65, bệnh nhồi máu cơ tim xảy ra ở đàn ông 4 lần nhiều hơn so với phụ nữ. Sau tuổi 65, tình hình đảo ngược lại cho đến khi số trường hợp trở nên quan trọng hơn nơi các phụ nữ, điều này là do tuổi thọ gia tăng ở các phụ nữ. Một công trình nghiên cứu khác cùng chủ đề, được thực hiện ở Pháp với 75.000 trường hợp nhồi máu cơ tim, đã phát hiện năm qua rằng ở phụ nữ việc điều trị ít tích cực hơn và tỷ lệ tử vong cao hơn.
         Nhồi máu cơ tim điển hình được đặc trưng bởi một cơn đau ngực sau xương ức khá đột ngột, thường xảy ra lúc gắng sức, tính chất như bị đè ép bởi một mỏ cặp (étau), lan tỏa về phía tay trái và hàm dưới, kèm theo cảm giác khó chịu, toát mồ hôi, lo âu. Các triệu chứng này có thể dữ dội ít hoặc nhiều hoặc trái lại không điển hình. Nhưng các triệu chứng này luôn luôn thể hiện huyết khối (thrombose) của một động mạch vành phân bố mạch cơ tim. Mục đích của điều trị cấp cứu là lấy đi vật chướng ngại nơi động mạch bị bít tắc, hoặc bằng liệu pháp tan huyết khối (thrombolyse) (tiêm cấp cứu bằng đường tĩnh mạch một loại thuốc có khả năng làm tan cục máu đông) hoặc bằng cách làm giãn cấp cứu động mạch với sự thiết đặt một stent (một thiết bị y khoa nhỏ hình lò xo) để giữ cho lòng của động mạch được mở ra. Điều trị nhằm giới hạn sự thoái hóa của một phần cơ tim và các di chứng.

           Công trình nghiên cứu được công bố trên site của tạp chí Heart, đã khảo sát trên hơn 25.000 trường hợp nhồi máu cơ tim ( 19.117 đàn ông và 7.638 phụ nữ) lấy từ 14 nước từ năm 1999 đến 2006. Đối với mỗi trường hợp, người ta kiểm kê các triệu chứng, các kết quả của các thăm khám phụ, đặc biệt là tất cả bệnh nhân đều được chụp mạch (angiographie) cho phép thấy được các động mạch bị bít tắc và các điều trị đã được thực hiện.


MỘT TỶ LỆ TÁI PHÁT CAO HƠN.

          Công trình nghiên cứu so sánh này đã phát hiện nhiều thông tin quan trọng. Một mặt, các triệu chứng xảy ra nơi các phụ nữ khi họ đến bệnh viện là khác với các triệu chứng của đàn ông ; ở phụ nữ, cơn đau ngực hoàn toàn điển hình thường ít thấy hơn, nhưng ngược lại các triệu chứng như nôn và đau trong hàm dưới thường xảy ra hơn. Ngoài ra, về mặt điều trị, ở nữ giới, ngay với sự bít tắc động mạch vành ở mức độ như nhau, lại thường ít được làm angioplastie hơn lúc đến bệnh viện. Hơn nữa, các phụ nữ so với nam giới thường ít được kê toa hơn các thuốc bêtabloquant, các statines hoặc những inhibiteurs de l’enzyme de conversion, các thuốc nhằm tránh tái phát. Sau hết, tỷ lệ tử vong, tái phát hay tai biến mạch máu não sáu tháng sau nhồi máu cơ tim, hơi cao hơn đối với các phụ nữ.
          Công trình nghiên cứu quốc tế này xác nhận một phân tích rộng rãi được thực hiện ở Pháp năm vừa qua và được công bố vào tháng hai 2007 trong tạp chí Circulation.
Công trình này nhằm vào 70.000 nhập viện vì nhồi máu cơ tim ở Pháp. Sự so sánh giữa đàn ông và phụ nữ ở Pháp đã cho thấy rằng tỷ lệ tử vong là cao hơn đối với phụ nữ và tỷ lệ phụ nữ được làm angioplastie là 10% thấp hơn so với nam giới. Và điều này, ngay cả ở cùng lứa tuổi như nhau.“ Bệnh khác nhau nơi phụ nữ và đàn ông, với các cơn đau ít điển hình hơn, thường liên kết với khó thở, G.S Gabriel Steg, đồng tác giả của công trình nghiên cứu (bệnh viện Bichat, Paris), đã giải thích như vậy.Tất cả các công trình này chứng tỏ rằng ở cùng lứa tuổi, các phụ nữ kém được điều trị hơn khi họ bị một nhồi máu cơ tim và rằng từ nay chúng ta phải cảnh giác hơn ” 
 
                        Nguồn :  LE FIGARO (10/5/2008)



3/ MỘT VÀI ĐIỀU TRỊ HORMONE THAY THẾ LÀM TĂNG NGUY CƠ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.

         Các điều trị hormone thay thế (THS : traitements hormonaux substitutifs) để chống lại các triệu chứng khó chịu của thời kỳ mãn kinh có làm gia tăng nguy cơ bị tai biến mạch máu não hay không ? Sự gia tăng này được xác nhận bởi một công trình nghiên cứu được công bố hôm thứ hai 28 tháng tư, trong tạp chí Archives of Internal Medicine và đề cập về những điều trị khác nhau được sử dụng ở Pháp.

       Ảnh hưởng của THS lên nguy cơ ung thư vú đã làm tuôn chảy rất nhiều mực.Từ nhiều năm qua, một sự gia tăng của nguy cơ tim mạch (nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não) đã được làm sáng tỏ. Bác sĩ Francine Grodstein và các đồng nghiệp của ông thuộc Trường y tế công cộng của Harvard ( Boston) đã phân tích các dữ kiện theo dõi được thu lượm từ năm 1976 đến 2004 nơi hơn 120.000 nữ y tá Hoa Kỳ ( “ Nurses Health Study ” ). Các phụ nữ này tuổi từ 30 đến 55 khi công trình theo dõi bắt đầu.

        Các tác giả đã nhận thấy một gia tăng nguy cơ 39% với điều trị bởi các oestrogène duy nhất và 27% khi các oestrogènes được liên kết với progestérone.  

Đối với các phụ nữ tuổi từ 50 đến 54 tuổi, sự gia tăng nguy cơ được thể hiện bởi 2 trường hợp bổ sung tai biến mạch máu não trên 10.000 phụ nữ theo điều trị hormone thay thế trong một năm. Nhóm nghiên cứu của Hoa Kỳ xác nhận rằng, ở những bệnh nhân trẻ tuổi nhất, nguy cơ tai biến mạch máu não có thể quy cho THS là ít quan trọng và rằng có thể giảm thiểu nguy cơ này bằng những điều trị với liều lượng ít hơn và thời gian điều trị ngắn hơn. Thật vậy các tác giả đã nhận thấy “ một khuynh hướng rõ rệt có nguy cơ gia tăng bị tai biến mạch máu não với các liều lượng oestrogène conjugué gia tăng ”.

Ở PHÁP ÍT NGUY CƠ HƠN.

         Đối với giáo sư Marie-Germaine Bousser (bệnh viện Lariboisière, Paris), chuyên gia về các tai biến mạch máu não, công trình nghiên cứu này “ xác nhận những dữ kiện trước đây nhận thấy một sự gia tăng nhẹ nguy cơ. Khi cùng hiện diện, các yếu tố nguy cơ như tuổi tác và sự sử dụng oestrogène tác động tăng cường nhau. Tuy nhiên, cần phải uyển chuyển. Nguy cơ gia tăng tai biến mạch máu não không phải là một chống chỉ định tuyệt đối đối với THS ”.

        Các kết quả của các công trình nghiên cứu Anh Mỹ không thể suy diễn cho tình hình ở Pháp. Các điều trị được sử dụng ở Pháp khác với Anh Mỹ không những về dược phẩm được sử dụng mà còn cả về liều lượng của chúng và có vẻ ít có nguy cơ hơn.
                               Nguồn :   LE MONDE ( 2/5/2008 )


       
4/ CHOCOLAT CHỐNG NGUY CƠ TIỀN SẢN GIẬT

         Các công trình nghiên cứu mới đây đã gợi ý rằng chocolat là khá thuận lợi cho sức khỏe tim mạch. Triche và các cộng sự viên đã muốn biết có một mối liên hệ giữa chocolat và nguy cơ tiền sản giật hay không. Họ đã thực hiện một công trình nghiên cứu trên 2.291 phụ nữ có thai và đã sinh con, giữa tháng 9 năm 1996 và tháng giêng năm 2000. Sự tiêu thụ chocolat (tự báo cáo) đã được định mức đối với các tam cá nguyệt thứ nhất và thứ ba của thời kỳ thai nghén, cũng như nồng độ théobromine (méthylxanthine chính của chocolat) trong cuống rốn. Theo các kết quả, 3,7% trong số 1.681 phụ nữ đã bị tiền sản giật. Các nồng độ théobromine của máu cuống rốn cũng như sự tiêu thụ chocolat tỷ lệ nghịch với nguy cơ tiền sản giật. So với các phụ nữ tiêu thụ ít hơn 1 suất chocolat mỗi ngày, các phụ nữ ăn hơn năm suất mỗi ngày có nguy cơ bị tiền sản giật được giảm xuống. Dĩ nhiên các dữ kiện này cần được xác nhận bởi các công trình nghiên cứu khác.
                 Nguồn :   LE JOURNAL DU MEDECIN (13/5/2008 )



5/ BỆNH SỐT RÉT, NGƯỜI BẠN ĐỒNG MINH TỐT NHẤT CỦA BỆNH SIDA.

          Ở phụ nữ có thai, nhiễm trùng bởi ký sinh trùng sốt rét làm gia tăng nguy cơ truyền virus bệnh sida vào phôi thai. Các nhà nghiên cứu Pháp và Cameroun vừa chứng tỏ một trong các cơ chế của hiện tượng này.

          Elisabeth Menu là nhà nghiên cứu nữ trong đơn vị điều hòa các bệnh nhiễm trùng bởi rétrovirus ở Viện Pasteur Paris và phụ trách nghiên cứu ở Inserm.
          Hỏi : Làm sao bà đã quan tâm đến mối liên hệ giữa bệnh sốt rét và bệnh sida ? 

          Elisabeth Menu : Đó một quan sát khác thường được thực hiện ở Cameroun trong lúc tiến hành một công trình nghiên cứu về phòng ngừa sự truyền virus sida từ bà mẹ sang trẻ em vào lúc sinh. Chúng tôi đã chứng nhận rằng số các phụ nữ truyền virus sida cho đứa con là quan trọng hơn vào một vài mùa trong năm. Mặt khác, điểm cao của sự truyền này có cùng tính chu kỳ với các đỉnh cao của lượng nước mưa được đo, với một chênh lệch ba tháng. Như vậy, một cái gì đó, do mưa mang lại, đã làm gia tăng sự truyền HIV từ người mẹ sang đứa con. Chúng tôi đã nghĩ đến bệnh sốt rét. Mặt khác, nhiều công trình nghiên cứu đã xác lập rằng nhiễm trùng bởi ký sinh trùng sốt rét làm gia tăng lượng HIV trong máu của những người huyết thanh dương tính.
         Hỏi : Hậu quả của mối tương tác giữa ký sinh trùng sốt rét và virus sida  ?

         Elisabeth Menu : Chúng tôi đã chứng tỏ in vitro rằng ký sinh trùng sốt rét có thể làm phát khởi một sự tăng sinh mạnh mẽ virus sida trong các tế bào nhau (placenta).Thế mà sự việc có nhiều virus hơn trong nhau dẫn đến nguy cơ gia tăng nhiễm trùng thai nhi bởi virus.

         Hỏi : Bà đã làm thế nào để chứng tỏ điều đó ?

         Elisabeth Menu : Chúng tôi đã làm nhiễm trùng in vitro các tế bào của nhau (các lá nuôi, trophoblastes) với virus sida. Rồi chúng tôi đã đặt các tế bào nhau bị nhiễm trùng này tiếp xúc với một protéine của ký sinh trùng sốt rét. Protéine này có thể được biểu hiện ở bề mặt của những hồng cầu bị nhiễm ký sinh trùng. Sau đó protéine này cho phép các hồng cầu bám vào các lá nuôi của nhau. In vitro, chúng tôi đã chứng tỏ rằng protéine của ký sinh trùng này, lúc liên kết với các lá nuôi bị nhiễm bởi virus sida, làm gia tăng sự tăng sinh của HIV trong các tế bào này.

       Hỏi : Bằng cơ chế nào ?

       Elisabeth Menu : Chúng tôi nghĩ rằng việc gắn protéine này của ký sinh trùng làm phát khởi sự sản xuất bởi các tế bào của nhau, một chất được gọi là TNF-alpha.Thật vậy, chúng tôi đã tìm thấy nhiều chất này chung quanh các tế bào của chúng tôi . Thế mà TNF-alpha được biết là làm gia tăng sự tăng sinh của virus sida.
                            Nguồn :  LA RECHERCHE ( 5/2008 )



6/ CÀ PHÊ KHÔNG ẢNH HƯỞNG LÊN TRÁI TIM BỊ BỆNH.

          Trong các nước công nghiệp hóa, các bệnh tim mạch là một trong những nguyên nhân chính của tử vong. Các công trình nghiên cứu khác nhau đã được tiến hành để tìm mối liên hệ giữa việc tiêu thụ cà phê và sự phát triển của các bệnh tim mạch. Sự liên hệ của cà phê trong việc xuất hiện các bệnh lý này đã không có thể được chứng minh, ngay cả bởi các công trình nghiên cứu quy mô lớn. Ngoài ra, tiên lượng sau nhồi máu cơ tim đã không bị ảnh hưởng bởi việc tiêu thụ cà phê.Về mặt lâu dài, các nghiên cứu viễn cảnh cũng đã không chứng tỏ được sự liên hệ giữa caféine và các bệnh tim mạch. Còn về vai trò bảo vệ của cà phê thì như thế nào? Năm 2006, một công trình nghiên cứu của Women’s Health Study, được tiến hành trên hơn 41.000 phụ nữ tiêu thụ cà phê, đã kết luận rằng nguy cơ tử vong nơi những người tiêu thụ cà phê là thấp hơn so với những người không tiêu thụ. Hiệu quả có lợi này có thể là do một tác dụng chống oxy hóa của một vài thành phần trong cà phê, làm kềm hãm quá trình viêm và như thế làm giảm các nguy cơ tim mạch. Một công trình nghiên cứu Thụy Điển được thực hiện trên 7.500 đàn ông đã tìm thấy lại những nguy cơ được biết rõ của suy tim : tuổi tác, bệnh sử gia đình nhồi máu cơ tim, bệnh đái đường, các cơn đau ngực, chứng nghiện thuốc lá, lạm dụng rượu, chỉ số khối lượng cơ thể (BMI : body mass index) cao và cao huyết áp. Cà phê được nhận thấy liên kết đồng thời với một nguy cơ thấp bị bệnh đái đường và một nguy cơ thấp tử vong do nguyên nhân tim mạch nơi một người bị bệnh đái đường. Ngoài ra, một công trình được thực hiện năm 2006 đã cho thấy rằng việc cho caféine nơi những bệnh nhân bị suy tim làm gia tăng sự chịu đựng của họ đối với sự gắng sức.

                         
Nguồn :   LE MAGAZINE DES GLEMS ( 4/2008 )



7/ SỮA CÓ TỐT CHO XƯƠNG KHÔNG ?    

           Nhiều tiếng nói đã cất lên bày tỏ sự nghi ngờ về tính hữu ích của các sản phẩm sữa. Sai lầm : uống sữa giúp chống lại một cách hiệu quả bệnh loãng xương (ostéoporose).

           Đó là điều không thể chối cãi :  sữa và các sản phẩm sữa giàu calcium. Thế mà calcium là nhân tố khoáng chính của bộ xương. Từ đó chúng ta có thể suy ra rằng calcium là tốt cho xương hay không ? Đó là điều mà chúng ta thường quen nghe nói. Tuy vậy mối quan hệ giữa các sản phẩm sữa và sức khỏe của xương không hẳn đã được nhất trí. Nhất là trường hợp đối với vai trò của các sản phẩm sữa trong cuộc đấu tranh chống lại bệnh loãng xương (ostéoporose). Chứng loãng mô xương này xảy ra một cách không tránh khỏi khi tuổi tác gia tăng và được phát khởi chủ yếu bắt đầu từ tuổi mãn kinh ở phụ nữ. Và bệnh loãng xương trở nên một chủ đề ngày càng đáng quan tâm.

           Hiện nay nhiều cơ quan chính thức có nhiệm vụ đưa ra những lời khuyến nghị về y tế cộng đồng công nhận tầm quan trọng của calcium và của vitamine D (vitamine cần thiết để sử dụng calcium) trong sức khỏe của xương.Và những cơ quan này ủng hộ việc cung cấp đầy đủ các sản phẩm sữa. Nhưng càng ngày càng có nhiều tiếng nói cất lên chống lại vị trí đặc quyền dành cho sữa. Đến độ có vài người cho rằng sữa không được là một thành phần của dinh dưỡng của con người. Và nói thêm rằng chỉ có một thiếu số dân chúng của hành tinh là đưa các sản phẩm sữa vào trong chế độ dinh dưỡng, như vậy gợi ý rằng chúng ta có thể không cần đến nó.

           Có những lý lẽ nổi bật hơn, như một vài nhóm dân của Bắc Âu mặc dầu tiêu thụ cao các sản phẩm sữa và do đó calcium, vẫn bị nhiều bệnh loãng xương hơn vài nhóm dân của miền Nam, nơi đây sự cung cấp calcium thấp hơn. Như vậy có phải tiếp tục khuyến khích sự tiêu thụ sữa, thí dụ nơi phụ nữ, bắt đầu từ tuổi mãn kinh, với hy vọng làm chậm lại sự mất xương ? Vâng, nếu tin theo các kết quả của một công trình nghiên cứu mới được thực hiện bởi Bệnh viện đại học Genèves.


SỰ MẤT XƯƠNG ĐƯỢC LÀM CHẬM LẠI

           Trong thí nghiệm được tiến hành, 36 phụ nữ thời kỳ mãn kinh, trung bình 59 tuổi, đã theo một chế độ ăn uống cung cấp một lượng calcium cố định ( 600mg/ngày). Người ta sẽ thêm vào lượng cố định này hoặc 600 mg calcium khác (từ 500 ml sữa lấy bớt mỡ), hoặc không thêm một lượng calcium bổ sung nào. Mỗi người tham dự đã theo hai chế độ dinh dưỡng này (600 mg và 1.200mg). Trước và sau mỗi thời kỳ của hai chế độ dinh dưỡng, kéo dài 6 tuần, những phân tích máu và nước tiểu đã được thực hiện để theo dõi tiến triển của chuyển hóa xương. Các kết quả được công bố mới đây trong British Journal of Nutrition, cho thấy một cách rõ ràng rằng sau thời kỳ của chế độ dinh dưỡng với 500 ml sữa bổ sung, sự mất xương được làm chậm lại một cách đáng kể. Đối với các tác giả này, sữa tạo nên một phương thức dinh dưỡng có giá trị để chống lại sự biến đổi xương xảy ra nơi các phụ nữ mãn kinh.

                                   Nguồn :
  LE SOIR (10/5/2008)



8/ KHẢ NĂNG ĐỔI MỚI CỦA CÁC TẾ BÀO MỠ.

            Mỗi năm cơ thể của chúng ta chế tạo ra cùng số lượng tế bào mỡ (cellules adipeuses) mà nó đã bị mất đi. Đó là lý đó tại sao, sau khi đã bị gầy ốm thì khó mà duy trì trở lại trọng lượng của mình.

          Qua giai đoạn trẻ thơ, mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời mình, vẫn duy trì cùng số lượng các tế bào biệt hóa trong việc tích trữ mỡ ( hay là các tế bào mỡ, adipocytes). Các tế bào này có khả năng tự đổi mới theo nhịp 10% mỗi năm, một công trình nghiên cứu được công bố hôm qua trong tạp chí Nature tiết lộ như vậy. Nhóm các nhà nghiên cứu được lãnh đạo bởi Kirsty Spalding, thuộc Viện Karolinska ở Stockholm, đã chứng nhận như vậy trong lúc nghiên cứu các tế bào mỡ phát xuất từ thủ thuật hút mỡ (liposuccion) hoặc phẫu thuật tái tạo thành bụng ( reconstruction abdominale).

       “ Tổng số các tế bào mỡ trong cơ thể là ổn định, các tế bào mới được sản xuất để cân bằng với sự biến mất của cùng số lượng các tế bào chết ” , Peter Arner, đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh như vậy. Do đó, việc giảm cân quan trọng ở tuổi trưởng thành chỉ làm giảm khối lượng các tế bào mỡ hiện có.

      “ Các tế bào mỡ mới được sinh ra trong và sau khi bị sụt cân cần được làm phong phú bởi lipide, Peter Amer ghi nhận như vậy. Điều này giải thích, ít nhất một phần, tại sao rất khó mà duy trì trọng lượng mà chúng ta đã đạt được sau khi đã bị ốm ”

HAI LẦN NHANH HƠN

Các nhà nghiên cứu cũng đã chứng nhận rằng các tế bào mỡ bắt đầu phát triển sớm hơn nơi những người béo phì (vào khoảng 2 tuổi) so với những người có một trọng lượng bình thường (từ 5 đến 6 tuổi) và rằng sự gia tăng hai lần nhanh hơn đối với những người béo phì nhưng dừng lại cũng sớm hơn (16 tuổi rưỡi so với 18 tuổi nơi những người khác).

          Công trình nghiên cứu này xác nhận các thống kê cho thấy rằng phần lớn các người trưởng thành béo phì vẫn là như thế từ lúc ấu thơ : chỉ 10% các trẻ có một trọng lượng bình thường đã trở nên béo phì, và hơn 3/4 các trẻ béo phì đã vẫn là như thế.

        Các dữ kiện này (một số tế bào mỡ được xác định ngay từ tuổi ấu thơ và một sự đổi mới đều đặn) theo các nhà nghiên cứu , hẳn phải tạo khả năng cho việc xác định những mục tiêu mới để điều trị chứng béo phì : tác động ngay từ tuổi ấu thơ, để giới hạn số các tế bào mỡ, hay trong tuổi trưởng thành, để kềm hãm việc thay thế các tế bào chết bằng những tế bào mới.

                    Nguồn :
 LE FIGARO ( 5/5/2008 )



9/ CHO BÚ SỬA MẸ LÀM TRẺ THÔNG MINH HƠN

            Việc cho con bú sau khi sinh sẽ làm cho các đứa trẻ trở nên thông minh hơn. Đó là điều được tiết lộ từ một công trình nghiên cứu được công bố trong Archives of General Psychiatry. Các nhà nghiên cứu của Đại học McGill của Montréal đã theo dõi 14.000 trẻ em trong hơn 6 năm để thử xác định xem việc cho bú có một tác dụng lên khả năng nhận thức (capacité cognitive) của chúng hay không. Các kết quả gợi ý rằng việc cho bú sữa mẹ lâu dài và duy nhất làm gia tăng thương số thông minh (quotient intellectuel) và hiệu năng học vấn tốt hơn. Công trình nghiên cứu của BS Michael Kramer là công trình nghiên cứu rộng rải nhất về chủ đề này.

                         Nguồn :   LE SOIR ( 9/5/2008 )



10/ NGHIỆN THUỐC LÁ : 5 NĂM SAU KHI NGỪNG HÚT, CỨ MỖI NĂM NGƯỜI CÓ MỘT NGƯỜI ĐƯỢC CỨU SỐNG. 

        Các phụ nữ ngừng hút thuốc làm giảm một cách quan trọng nguy cơ tử vong do các bệnh tim mạch trong 5 năm, theo một công trình nghiên cứu rộng rãi được công bố trong Jama.

        Nguy cơ tử vong do ung thư liên kết với thuốc lá giảm khoảng 20%. Nguy cơ của tất cả các nguyên nhân tử vong giảm 13% năm năm sau khi các phụ nữ ngừng hút thuốc. Hay hơn nữa : 20 năm sau khi đã từ bỏ thuốc lá, nguy cơ tử vong liên kết với thuốc lá tương tự với nguy cơ của những phụ nữ đã không bao giờ hút thuốc, ngoại trừ trường hợp ung thư phổi , “ đối với ung thư này sự giảm nguy cơ cần nhiều thời gian hơn  », theo bác sĩ Stacey Kenfield, y tế cộng đồng của Đại học Havard, tác giả chính của các công trình này.
          Các nhà nghiên cứu đã phân tích các dữ kiện y khoa phát xuất từ một công trình nghiên cứu trên 104.519 người tham dự. Thời kỳ theo dõi trải dài từ 1980 đến 2004. Đối với các tử vong sau khi bị ung thư phổi, nguy cơ đã lùi lại 21% năm năm sau khi các phụ nữ của công trình nghiên cứu đã ngừng hút thuốc, so sánh với các phụ nữ vẫn hút thuốc. Nguy cơ này đã giảm 87% giữa 20 đến 30 năm sau khi ngừng hút thuốc để rồi 30 năm sau khi ngừng hút nguy cơ giống hệt với các phụ nữ đã không bao giờ đụng đến thuốc lá.

         Theo những con số của OMS, 5 triệu người chết non mỗi năm được quy cho là do thuốc lá. Theo dự đoán của cơ quan này, từ nay đến 2030 sẽ có 10 triệu tử vong hàng năm được quy cho thuốc lá.
         Công trình nghiên cứu này cũng chứng tỏ rằng khoảng 64 % các tử vong trong số những người hút thuốc và 28% nơi những người đã từng hút thuốc, được quy cho nguyên nhân duy nhất là thuốc lá. Các tác giả cũng nêu lên rằng các dữ kiện của công trình nghiên cứu khiến nghĩ rằng thuốc lá chịu trách nhiệm một sự gia tăng nguy cơ tử vong do ung thư đại tràng nhưng không phải là ung thư buồng trứng.
                                 
Nguồn :   LE SOIR ( 8/5/2008 )



                         BS NGUYỄN VĂN THỊNH
                                   (17/5/2008)


 

 

Trở về Trang Chính