BARCELONE

(phần 2)


 

Đại Linh

23 tháng 08 năm 2007

       
                                          
PORT VELL

          Trong những năm 60, Port Vell (Vieux Port) chỉ là nơi chứa những sắt vụn phế thải của thành phố, những container trống rỗng, là nơi tọa vị những kho chứa hàng, là nghĩa địa của những tàu hoả chở hàng cũ kỹ.Thế Vận Hội 1992 là biến cố khởi mào cho những biến đổi cải tạo sâu rộng của bờ duyên hải này.          Ngày nay sau Forum 2004, các bãi tắm kéo dài từ Port Olympique đến Marina du Forum và Playa de Nova. Barcelone hãnh diện có một bãi cát mịn và dài 4 km.

 

       Port Vell chủ yếu là port de plaisance của Barcelone.

   - Trước Port là Plaça Portal de La Pau. Ở giữa quảng trường nhộn nhịp xe cộ này là cột trụ tưởng niệm Christophe Colomb, cao 60 m, được xây dựng cuối thế kỷ thứ 19 nhằm vinh danh nhà phát minh Châu Mỹ này. Từ trên đỉnh cao, Christophe Colomb ngón tay trỏ ra biển, không phải về hướng Châu Mỹ mà là Biển Địa Trung Hải, nguồn của cải của thành phố.

    - Từ bờ cảng, một passerelle bằng kim loại gọi là Rambla del Mar dẫn đến Marenmagnum, một trung tâm thương mại nhộn nhịp với rất nhiều bar, restaurant, rạp chiếu bóng. Ở đây có Aquarium khổng lồ. Aquarium này lớn nhất châu Âu với chiều dài 80 m và 21 bassin chứa 8000 con cá đủ loại và 11 con cá mập lấy từ Biển Địa Trung Hải, Biển Đỏ, Caraibes.

   - Ở bến cảng có công ty Les Golondrinas tổ chức những chuyến tham quan cảng bằng thuyền máy, mỗi ngày 6 chuyến (mỗi chuyến kéo dài 1h30 giá 9,20 Euro)

   - Để đến Port Vell, từ Plaça de Catalunya, theo hướng Ramblas. Đi hết đại lộ này là đến cảng.

 

                            CHRISTOPHE COLOMB

       Tháng giêng năm 1492, Christophe Colomb hẳn là vui sướng khi ông hay tin rằng Les Rois Catholiques sẽ dành cho ông cuộc hội kiến. Ferdinand d’Aragon và Isabelle de Castille vừa giành lại được Vương Quốc Grenade từ tay người Ả rập, điều này rất được dân chúng đánh giá cao. Christophe Colomb cũng từng đã tham gia vào cuộc vây thành Grenade và giờ đây là ngày mong đợi vì nhà vua sẽ lắng nghe ý kiến mà ông sẽ trình bày. Thật vậy Les Rois Catholiques đã tuyên bố sẽ đóng góp tài chánh cho các cuộc thám hiểm bằng đường biển nhằm tìm ra một con đường Phuơng đông, về hướng Ấn Độ và Trung Hoa. Christophe Colomb sinh ra ở Genes thuộc miền bắc nước Ý. Là người rất hâm mộ Marco Polo, ông đã đi Portugal và trở thành nhà hàng hải ưu tú.

       Từ năm 1486, ông định cư ở Tây Ban Nha và tháng 8 năm 1492, ông rời PALOS với hạm đội nhỏ bé gồm các con tàu Santa Maria, Pinta và Nina. Ngay chuyến đi đầu tiên, ông đã là đối tượng gây nhiều tranh cãi. Vả lại nhà hàng hải xuất sắc này lại là một nhà chỉ huy rất độc đoán, tàn nhẫn, bất khuất và có lòng sùng đạo quá mức. Ông có rất ít bạn bè. Lúc ông khám phá ra Cuba và quần đảo Caraibes, ông cứ tin chắc là đã đến Trung Hoa. Ông không thể nào chấp nhận là đã đặt chân đến những bến bờ xa lạ.
        Ngày 12 tháng 10 năm 1492, vào khoảng 2 giờ sáng, mặt trăng chiếu sáng và thủy thủ của chòi gác trên con tàu Pinta đang chăm chú nhìn đại dương với sự chú ý đặc biệt hơn lệ thường. Anh ta biết rằng không những số phận của đoàn thám hiểm mà có lẽ cả tính mạng của các bạn đồng đội sẽ tùy thuộc vào sự chính xác của thị giác của anh ta. Trên tàu Pinta, cũng như trên Nina và Santa Maria, hầu như chẳng ai có thể ngủ được. Chưa có thủy thủ nào đã từng trải qua hơn 50 ngày trên biển cả mà chẳng thấy một bến bờ nào ở chân trời như vậy cả. Chẳng có thủy thủ nào đã từng gặp một trận gió mạnh mẽ và đều đặn như trận gió này mà đã từ một tháng nay vẫn luôn luôn hướng các con tàu về phía tây. Thế thì làm sao không khỏi sợ hãi là rồi sẽ không còn có thể quay trở lại được ? Làm sao không cảm thấy đói khát sẽ đe dọa ? Trên tàu các thủy thủ gần như muốn nổi loạn. Cần phải có tài thuyết phục của thuyền trưởng là Christophe Colomb để đuợc mọi người chấp thuận tiếp tục hành trình thêm 2 ngày nữa trước khi quay đầu trở lại. Trời gần sáng báo hiệu ngày thứ hai sắp đến. Và đột nhiên, giọng nói của Rodrigo làm vang dội lên chữ mà các thủy thủ tưởng như không bao giờ còn hy vọng được nghe nói đến nữa : « Đất liền ! » Trên cầu của tàu Santa Maria, Christophe Colomb không kềm hãm được nỗi vui sướng của mình. Tay phiêu lưu mạo hiểm này, có lẽ gốc Do thái, con của một người thợ dệt thành phố Genes, tin rằng giấc mơ của đời mình sau cùng đã trở thành hiện thực. Ông không ngờ rằng đối với ông lại sẽ bắt đầu một chuỗi dài nỗi thất vọng não nề và những thất bại chua cay đang đón chờ.
         Vài giờ sau khi đặt chân lên đất liền ( một đảo nhỏ của quần đảo Bahamas), Christophe Colomb đã không biết rằng ông vừa khám phá một tân lục địa. Mãi cho đến cuối đời mình ông vẫn bướng bỉnh bảo vệ một ý nghĩ sai lạc. Ông tin tưởng là đã đến được vùng Viễn Đông, và những thổ dân niềm nở mà ông đã gặp đối với ông chỉ là những người « Ấn Độ (Indien) mà thôi.
         Trong năm 1493 ông trở lại Barcelone để tường trình với Les Rois Catholiques công cuộc khám phá đã được thực hiện. Ông mô tả với các nhà vua những kỳ quan của Tân Thế Giới với các của cải giàu có của vùng đất hoang dã này : vàng, hương liệu, các loài chim hiếm, người nô lệ. Những vòng vàng thu được từ những tù nhân mà ông đã phô bày lúc trở về sau 8 tháng viễn du đủ giúp ông thuyết phục các vị vua Tây Ban Nha ra lệnh thực hiện một cuộc thám hiểm khác trong những tháng sau đó.

 

      Tháng 9 năm đó, 17 chiếc tàu rời bến ra khơi. Trên tàu không những có 1500 thủy thủ và hành khách mà còn có các nhà tu sĩ và các nhà đầu tư. Cuộc thám hiểm kéo dài trong suốt gần 3 năm ở vùng Antilles và rồi cũng mang lại thất vọng. Colomb lần này tin là đã đặt chân đến bán đảo Mã Lai, và ông phải mất 2 năm gắng sức để được tài trợ một chuyến thám hiểm thứ 3 vào năm 1500. Ông thám hiểm tất cả vùng Caraibes và cập bến Nam Mỹ (Venezuela).

 

          Quân Tây Ban Nha sau khi chinh phục Hispaniola (Haiti và Cộng Hoà Dominique) thì nhanh chóng bị mất lòng dân địa phương. Họ khai thác vàng và bắt dân bản xứ làm nô lệ. Họ sử dụng các phương pháp tồi tệ đến độ một cuộc điều tra đã được tiến hành. Colomb bị quy trách nhiệm về những hành động sai trái của quân sĩ dưới quyền. Ông bị lên án và bị đuổi về nước Tây ban Nha. Sau khi được ân xá ông còn được giao phó một chuyến thám hiếm thứ 4. Trong cuộc thám hiểm thứ 4 này (1502-1504), ông đã đi dọc theo bờ biển Trung Mỹ nhưng mà ông lại không hay biết chút nào. Ông đã ở ngoài khơi Vương quốc Aztèque mà sự giàu có về mọi mặt vượt lên tất cả những gì mà dân Âu Châu có thể tưởng tượng. Bởi vì một lần nữa ông trở về tay trắng nên sau đó ông không còn được phép thám hiểm thêm lần nữa.

        Và rồi giờ phút của ông đã điểm và ông đã phải trải qua những năm tháng cuối cuộc đời trong nỗi cô đơn hiu quạnh, kiệt quệ, bị gièm pha nhưng luôn luôn giữ ý nghĩ sai lầm của mình. Và chưa hết, ông lại còn chịu một điều sỉ nhục cuối cùng : Chính Florentin Amerigo Vespucci đã chứng minh không thể chối cải rằng đó là một tân thế giới  do vậy tên của ông ta (Amerigo) được dùng để đặt tên cho « khám phá » (America) của Christophe Colomb. Ông mất ở Valladolid năm 1506 và được mai táng ở Séville. Ở Nhà Thờ Seville có mộ của Christophe Colomb nhưng di hài bên trong có lẽ không phải của nhà thám hiểm vĩ đại này. Năm 2003, trước những khiếu nại cho rằng  chính nước Cộng Hoà Dominique ở Caraibes mới là nơi mà di hài của Christophe Colomb đã an nghỉ, các nhà điều tra đã bắt đầu trắc nghiệm lên di hài ở Nhà Thờ Séville. Năm 2004, báo chí quốc tế báo cáo rằng di hài trong Nhà Thờ Séville là di hài của một người đã chết 15 năm trước khi Colomb qua đời và có lẽ đó là di hài của một trong những người con của ông tên là Hernando. Còn ông thì nằm xuống ở Cọng Hoà Dominique.

        Năm 1888, trước sự hiện diện của chính quyền Barcelone và Genes, một cột trụ cao 60 m để vinh danh Colomb được dựng lên ở Plaça Portal de La Pau. Ở độ cao 60 , Colomb có một tấm nhìn hướng ra Port (Vieux Port) mà không thể bị che khuất. Với thời gian, một huyền thoại cho rằng Colomb gốc nguời catalan. Ngay cả vài nhà sử học vẫn còn ủng hộ giả thuyết này cho đến ngày nay.

 

                                    PORT OLIMPIC và VILA OLYMPICA

          Port Olimpic và Vila Olympica là công trình quy hoạch ngoạn mục nhất được thực hiện lúc Barcelone được chọn làm thành phố tổ chức olympiade 1992. Khu phố kỹ nghệ cũ của Poble Nou được cải tạo thành Vila Olympica. Các bến tàu cũ kỹ được thay thế bởi 4km bãi biển với một lối đi dạo dọc theo bờ.Vila Olympica trở nên khu nhà ở với 2000 hộ được thoáng mát bởi nhiều công viên. Port Olympic ngày nay trở nên port de plaisance với nhiều du thuyền và dọc theo bến có nhiều quán café, restaurant thanh lịch. Cảng đươc chế ngự bởi 2 nhà  lầu chọc trời cao 44 tầng.

        Từ Port Olympic theo lối đi dạo dọc bờ biển (Passeig Maritim de la Barceloneta) để đến La Barceloneta, khu phố bình dân của Barcelone.

 

                                    EIXAMPLE

      Vào giữa thế kỷ XIX, Barcelone trở nên ngột ngạt trong những bức tường được dựng lên từ thời trung cổ. Năm 1854, các bức tường này bị phá bỏ và thành phố được mở rộng ra (Eixample tiếng catalan có nghĩa là mở rộng : élargissement). Công trình này được giao phó cho kỹ sư Lldefons Cerda có nhãn quan futuriste về đô thị. Các đường phố và đại lộ được kẽ ô vuông thành những khối nhà giống nhau, nhằm nối Barcelone với các làng lân cận như Gracia, Sarria, Les Corts.. Eixample là một mô hình quy hoạch đô thị, cho phép Barcelone phân bố đồng nhất dân cư, làm cho lưu thông xe cộ thông suốt hơn và gia tăng diện tích gấp 15 lần chỉ trong vòng 50 năm. Sự xây dựng Eixample trùng hợp với một thời kỳ rất sáng lạng của dân Barcelone. Giới trưởng giả địa phương, nảy sinh từ sự phát triển kinh tế và kỹ nghệ, muốn Barcelone trở nên một thủ phủ lớn, do đó đã tài trợ rất nhiều dự án kiến trúc.

      Ngoài ra, sự tăng trưởng xã hội kèm theo một khuynh hướng nghệ thuật mới, đặc biệt cho vùng Catalogne : đó là trào lưu tân thời (modernisme). Ta có thể tìm thấy nhiều thí dụ về style này trong các khu phố của Eixample.

      Cột sống của tổng thể Eixample là 4 đại lộ chính :

          - La Gran Via De Les Cortes Catalanes

          - Passeig de Gracia : nơi đi dạo ưa thích của dân tư sản đầu thế kỷ 20

          - La Rambla de Catalunya

          - La Diagonal

      Eixample được chia thành 2 phần : Eixample Izquierdo (trái) và Eixample Derecho (phải). Ngoài La Sagrada Familia, cợn có nhiều danh lam thắng cảnh để tham quan, tập trung gần hoặc tren đại lộ chính của Eixample là Passeig để

Gracia.

  

                          PASSEIG DE GRACIA


    Passeig Gracia nối Plaça de Catalunya với Gracia. Đây là đại lộ nổi tiếng, là một trong những địa điểm mà du khách thường lui tới nhất. Passeig Gracia là lối đi dạo được ưa thích của giới tư sản đầu thế kỷ 20.

    Dọc theo đại lộ là những toà nhà giàu có, các ngân hàng, các toà đại sứ và những dinh thự được kiến trúc theo trào lưu tân thời  (moderniste) :

           -  La Casa Amatller

           -  La Casa Batllo :

           -  La Casa Lleo Morera

Cả 3 toà nhà này có biệt danh là Manzana de la Discordia ( Pomme de la Discorde : nguyên nhân bất hòa) de nói lên những khác nhau về kiến trúc của 3 toà nhà. Cần nên biết rằng manzana tiếng castillan nghĩa là trái táo nhưng đồng thời cũng có nghĩa là khu nhà. Dĩ nhiên cũng có ám chỉ đến huyền thoại Hy Lạp:  nữ thần gây bất hòa Eris hiện diện trong buổi lễ cưới của Pélée và Thétis mặc dầu nàng không được mời đến. Tức giận nàng ném vào giữa các vị khách mời một trái táo vàng có ghi chữ «cho người đẹp nhất ». Héra, Aphrodite và Athéna giành nhau quả táo. Cuối cùng Paris, hoàng tử thành Troie trao quả táo cho Aphrodite. 3 toà nhà tráng lệ này được bố trí như những con cờ trên một bàn cờ và sự kình địch giữa các gia đình cai trị được diễn ra qua đó.

           - La Casa Mila : hay La Pedrera


                           CASA MILA (LA PEDRERA)

 Tọa vị ở số 62 đại lộ Passeig de Gracia.

       Được dân Barcelone gọi là La Pedrera (carrière de pierre: hầm đá), toà nhà Casa Mila là một trong những công trình được thực hiện nổi tiếng nhất của Gaudi. Được xây dựng từ năm 1906 đến năm 1910, đây là một công trình dân chính cuối cùng trước khi Gaudi cống hiến hết mình cho Sagrada Familia. Mặt ngoài của Pedrera được cấu tạo bởi các bức tường- màn che (murs-rideaux) được xây dựng bằng đá vôi trên đó nổi bật lên những khung cửa sổ và balcons bằng sắt được tái chế. Phía trên toà nhà là một terrasse không bằng phẳng từ đó phát xuất những ống khói được lợp bởi những "trencadis"  (mosaiques được cấu tạo bởi những mảnh sành đánh vernis). Casa Mila được mô tả như là một pháo đài kỳ lạ, một chiếc máy bay, một vách đá dọc bờ biển. Các nhà phê bình văn học gọi đây là một tác phẩm trừu tượng, một điên rồ về kiến trúc.



                           CASA BATLLO

       Casa Batllo tọa vị số 43 đại lộ Passeig De Gracia.

       Đây là tác phẩm độc đáo nhất của Gaudi và là biểu tượng của Barcelone.

       Được xếp hạng là di sản văn hóa của nhân loại bởi UNESCO, toà nhà này được xây dựng từ năm 1904 đến 1906 bởi Gaudi theo đơn đặt hàng của nhà kỹ nghệ Josep Batllo, mặc dầu có sự chống đối của nhà cầm quyền thời đó. Sự mê sảng và thiên tài của Gaudi được thể hiện tự do trong việc thực hiện dinh thự này. Gaudi đã trùng tu hoàn toàn ngôi dinh thự. Ông bảo tồn kiến trúc nguyên thủy (1877) nhưng vẽ lại mặt tiền và bài trí nội thất. Mặt tiền nhiều màu sắc (polychrome), balcon có hình mặt nạ với mái nhà hình uốn sóng tạo cho ngôi nhà một dáng vẻ đáng ngạc nhiên. Mặt tiền của Casa Batllo có dáng con quái vật biển (monstre marin). Chắc chắn đây là sáng tạo độc đáo nhất của Gaudi. Ở tầng nhất các lỗ trông giống như lối vào động, một công trình bằng đá và thủy tinh lạ kỳ. Các tầng lầu được trang trí bởi các balcon, các mặt nạ hé miệng, đem lại cho mặt tiền một dáng vẻ carnaval. Toà nhà 6 tầng này được chế ngự bởi một mái nhà rất kỳ lạ thể hiện Thánh Georges và con rồng.

 

                         LA SAGRADA FAMILIA

    Nhà thờ La Sagrada Familia nằm ở phía đông Eixample và đã trở thành biểu tượng của Barcelone, một thành phố luôn luôn bảo vệ tính đặc thù của mình.

    Nhìn từ xa, các tháp dong dỏng cao của La Sagrada Familia có dáng vẻ như con tàu ma đang lênh đênh trong sương mù của cái thành phố của tất cả các điều kỳ diệu ( la ville de tous les prodiges) này. Đối với nhiều du khách khám phá Barcelone lần đầu thì sự tiếp xúc đầu tiên này đã gây cho họ cảm giác choáng váng.

   Toà nhà xây cất còn đang dang dở này là một kỳ công tuyệt vời, là một công trình mà Antoni Gaudi đã cống hiến hết mình trong suốt phần cuối của cuộc đời. Suốt trong 16 năm ông sống như nhà ẩn dật trên công trường và lúc qua đời đã an nghỉ nơi hầm mộ của chính nhà thờ mà ông đã bỏ công sức xây dựng.

    Ý nghĩ xây dựng nhà thờ La Sagrada Familia xuất phát từ Josep Maria Bocabella, một nhà xuất bản giàu có và vì lo lắng về sự phát triển các tư tưởng cách mạng trong thành phố Barcelone nên đã thành lập một hội tôn giáo cung hiến cho Thành Josep, là thánh bảo trợ cho công nhân và gia đình.Việc xây dựng nhà thờ của hội bắt đầu năm 1882 dưới sự chỉ đạo của Francesco de Villar. Ông này đã thực hiện việc xây cất một điện thờ có cấu trúc néo-gothic tương đối cổ điển. Sau đó do Villar vì bất hòa với Bocabella nên đã bị thay thế vào năm 1884 bởi Antoni Gaudi lúc đó mới 31 tuổi.

 

                              GAUDI và GUELL

Barcelone không có Gaudi thì cũng giống như Paris không có Gustave Eiffel. Gaudi Antonio là một kiến trúc sư, sinh ngày 25 tháng 6 năm 1852 ở Reus (làng kế cận Barcelone). Xuất thân từ một gia đình bình dân, cả thời thơ ấu của ông bị mang dấu ấn bởi những vấn đề sức khỏe. Bệnh đau khớp đeo đuổi ông suốt cả cuộc đời. Ông đến ở Barcelone vào năm 17 tuổi để học ngành kiến trúc. Ông không phải là sinh viên xuất sắc nhưng ông đã thành công tạo phong cách riêng của mình và chứng tỏ cho các đồng nghiệp rằng ông là một kiến trúc sư « ngoại hạng ». Cũng như tất cả các thiên tài, ông đi trước các người đương thời một bước dài, vì vậy các công trình của ông vẫn luôn luôn không được thông hiểu. Bằng chứng là ông chỉ nhận một giải thưởng danh dự duy nhất trong suốt cuộc đời ông : giải thưởng thành phố cho dinh thự đẹp nhất dành cho Casa Calvet năm 1900. Cá tính của nhà kiến trúc cũng độc đáo : bị thu hút bởi xã hội thượng lưu, ông tham gia vào phong trào dân tộc. Ông luôn luôn từ chối nói tiếng espagnol và đã có lần bị cảnh sát bắt vì ông nói tiếng catalan. Lúc còn trẻ ông chống lại Giáo hội, nhưng vài năm sau đó ông trở thành người sùng đạo, không ngừng theo đuổi tìm kiếm giá trị tinh thần, sống một lối sống đạm bạc không xa hoa phù phiếm. Chính vào thời kỳ này ông bắt đầu thực hiện công trường của nhà thờ La Sagrada Familia. Nói về phong cách thì những tác phẩm đầu tiên của ông lấy nguồn cảm hứng từ nghệ thuật kiến trúc Ả rập, nhưng ông chủ yếu lấy nguồn cảm hứng từ thiên nhiên và không làm việc theo một kế hoạch nào đã được định trước.

       Vào năm 1878, nhà kỹ nghệ giàu có Eusebi Guell i Bacigalupi (1846-1918) tham dự Hội Chợ Triển Lãm Hoàn Vũ được tổ chức ở Paris và đã đến gian hàng triển lãm Tây Ban Nha. Ngày đó là ngày quyết định cho sự nghiệp của Gaudi. Nhà kiến trúc sư trẻ tuổi vừa phát họa họa đồ một tủ kính cho một cửa hàng bán lẻ bao tay (gant) và ông trình bày sáng tạo của mình ở một gian triển lãm. Guell rất cảm kích bởi tính sống động và độc đáo của dự án, vì vậy vừa mới trở về Barcelone, ông vội tìm cách liên lạc với tác giả. Guell bị chính phục bởi cá tính con người Gaudi cũng như bởi quy mô công việc của ông ta, nên chẳng bao lâu sau đó ông đã gởi cho Gaudi rất nhiều đơn đặt hàng và từ đó khởi đầu cho một tình bạn lâu dài và có hiệu quả. Guell đã tiên đoán được khả năng hai mặt của Gaudi : không những Gaudi biết xây dựng những ngôi nhà chắc chắn và độc đáo mà con biết thể hiện qua chúng một tinh thần dân tộc catalan triệt để. Chính vì lẽ đó mà Guell đã giao phó cho Gaudi vẽ họa đồ cho Palau Guell.

       Vào đầu thế kỷ 20, Gaudi dấn thân vào 2 dự án đầy tham vọng theo đơn đặt hàng của Guell, vị mạnh thường quân của mình. Dự án thứ nhất là một nhà thờ cho Colonia Guell o Santa Colona de Cervello nằm ngoài thành phố. Nhưng ông chỉ hoàn thành phần hầm mộ (crypte) rồi bỏ dở dang vì thiếu tiền. Đồng thời ông cố gắng quy hoạch Parc Guell mà ông phải mất 14 năm để làm việc cho công trình này. Vài kiến trúc sư ca ngợi ông nhưng cũng có kẻ dèm pha ông. Họ xem ông là nhà mơ mộng món trứng rán (reveur d'omelette). Trong một tạp chí thời đó, một phóng viên đã bình luận như sau :" Người ta nói rằng ở Parc Guell, tất cả những gì ông ta làm là tiêu xài tiền bạc cho món trứng rán to lớn đồ sộ. Nhưng chính Guell đã phải trả tiền cho các món trứng đó". Gaudi thường nói rằng cách tốt nhất để biết một người nào đó là tiêu xài tiền của ông ta.

       Sự qua đời của Guell (1918) làm cho Gaudi hết sức sầu muộn bởi vì một tình bạn lâu dài đã chấm dứt từ đây. Vào thời kỳ đó ông tập trung sức vào La Sagrada Familia. Antoni Gaudi (1852-1926) mà các công trình đã trở nên những biểu tượng của Barcelone, đã từng theo học kiến trúc và triết học, điều này giải thích sự kết hợp giữa kỹ thuật và tinh thần trong các công trình nghệ thuật của ông. Ông lao mình vào các công trình của “người mơ mộng hão huyền” (visionnaire) và đã làm những người đương thời phải ít nhiều lo lắng. Ông lấy nguồn cảm hứng từ các kiến trúc của thời quá khứ, từ các phương thức kỹ thuật, ông sử dụng các vật liệu và khai thác tất cả các khả năng của thực vật để tạo nên những hình dáng sinh động và độc đáo, điều này khiến ông trở thành một trong những kiến trúc sư lớn nhất của mọi thời đại. Há chẳng phải tình cờ khi 3 trong những công trình của ông ( Palau Guell, Parc Guell và Casa Mila) được xếp hạng là di sản văn hóa của nhân loại ? Gaudi đã phải chết dưới bánh xe của tramway năm 1926, đã cống hiến những năm tháng cuối cùng của đời mình cho kiệt tác còn đang dở La Sagrada Familia và đã từng phải ngủ ở ngay nơi công trường vì công việc !

 

                             POBLE NOU

        Khu phố này đã bị dội bom nặng nề trong thời kỳ nội chiến bởi vì đây là khu vực kỹ nghệ.

        Poble Nou ra đời trong một vùng đầm lầy Sant Marti de Provençals vào cuối thế kỷ XIX. Rất nhanh chóng các nhà máy mọc lên khắp nơi nên khu vực này lúc đó được mệnh danh là Manchester Catalan.

       Vào năm 1950, ở đây có hơn 5000 nhà máy, tạo nên sự tập trung kỹ nghệ lớn nhất của bán đảo. Chính vào lúc này xuất hiện trung tâm đô thị đầu tiên của Poblenou, ngột ngạt giữa các khu nhà ở mới xây cho dân nhập cư trong những năm 1950-60. Việc xây dựng không theo một kế hoạch đô thị nào và thiếu những dịch vụ cơ bản nhất.
         Trong thời kỳ nội chiến Poblenou tích cực theo phe Cộng Hoà nên bị nhiều trận dội bom. Thời hậu chiến lại khó khăn do cuộc khủng hoảng kỹ nghệ của những năm 1970. Khu phố bị rơi vào quên lãng. Chỉ mới cách nay 15 năm, nói đến khu vực này dân Barcelone chỉ biết đó hoặc là một nghĩa địa, một nhà ga, một góc phố ám khói và xám xịt, đầy những tòa nhà kỹ nghệ. Bãi biển thì đầy đồ phế thải không dễ lui tới. Và khi trời mưa cả vùng chỉ là một vũng bùn to lớn. Chính nhờ Jeu Olympique 1992 khu phố được biến đổi sâu rộng. Hiện nay Poblenou là khu phố trẻ với nhiều đại lộ rộng rãi, các toà nhà, khách sạn cao tầng. Ở đây có Trung tâm Hội Nghị Quốc Tế Barcelona.
                        
                                   ĐẠI LINH                                                                                      

                                   (2/8/2007)
     

                                                                     

BARCELONE (phần 1)

Trở về Trang Chính