|
1/
ELIZABETH GARRETT ANDERSON, NGƯỜI THẦY THUỐC PHỤ NỮ ĐẦU TIÊN CỦA
ANH QUỐC.
Elizabeth Garrett Anderson (1836-1917)
hiển nhiên là một trong những người tiền phong của nền y khoa
kết hợp với phụ nữ ở châu Âu. Ngày 25 tháng 9 năm 1865, bà trở
nên người thầy thuốc phụ nữ đầu tiên của Vương Quốc Anh.
Ngay vào giữa thời kỳ của Victoria, đối với một
phụ nữ, việc ước mơ để trở thành thầy thuốc ở Anh Quốc, ngay cả
với một người đầy tham vọng như cô Garrett, thì trước hết đó chỉ
là một điều thuộc về không tưởng. Vì đây là điều đặc biệt được
cho là chướng tai gai mắt và bất nhã sỗ sàng. Nhưng sự say mê
của Elizabeth đối với y khoa cũng ngang bằng với lòng quyết tâm
của cô. Trong gia đình cô không thiếu gì những người như thế :
chị cô là Millicent Garrett, một trong những người phụ nữ đòi
quyền bầu cử đầu tiên ở nước Anh.
Vì vậy cô cũng sẽ tranh đấu để chống lại
mọi điều cản trở giấc mơ được trở thành thầy thuốc của cô và các
chướng ngại mà cô sẽ gặp phải cũng chẳng thiếu gì.
ĐOẠN ĐƯỜNG CHIẾN BINH.
Sau khi đã thuyết phục được bố cô,
lúc đầu chống lại ý muốn của của cô con gái mình, Elizabeth lại
vấp phải sự chống đối của các phân khoa y khoa ; tại đây các đơn
xin ghi danh của cô đã bị thẳng thừng từ chối chỉ bởi vì một lý
do đơn giản là cô chỉ là một phụ nữ.
Nhưng việc đó có hề chi, Elizabeth
vẫn bướng bỉnh và tìm một phương cách khác : ở đất nước của
Florence Nightingale, một phụ nữ vẫn có thể xin ghi danh theo
học để trở thành nữ y tá. Do đó, cô đã ghi danh vào học ở một
trường đào tạo y tá và đã xuất sắt giành được mảnh bằng nữ y tá
rồi sau đó là mảnh bằng nữ hộ sinh. Nhờ thế cô đã vào làm việc
tại Middlesex Hospital với tư cách là nữ y tá.Tại đây, nhờ khả
năng của cô, cô đã thành công làm cho các thầy thuốc chú ý. Một
vài vị y sĩ, vì cảm động trước sự ân cần chăm chút mà cô đã dành
cho công việc, nên đã chấp nhận để cho cô tham dự các bài giảng
y khoa. Cô là người phụ nữ duy nhất trong lớp, cô bị cấm không
được vào các phòng mổ và phòng phẫu tích nhưng vài giáo sư đã để
cô tham dự vài môn thi và cô đã đậu một cách xuất sắc. Như thế
cô đã dần dần tiến đến ngưỡng cửa của học vị tiến sĩ y khoa...và
sau đó bị tống cổ ra không cho học.
Elizabeth Garrett sau đó còn cố
gắng nhưng không thành công, xin vào Oxford, Londres, Cambridge
vì các đại học này đều lần lượt đóng cửa không chấp nhận cho cô
vào học.
THẮNG LỢI DÂU TIẾN NHỜ NHỮNG CON ĐƯỜNG VÒNG.
Nhưng việc đó có hề chi : nếu y khoa
đóng cánh cửa lớn không cho cô vào, Elizabeth sẽ bước vào bằng
cánh cửa sổ. Elizabeth được biết rằng Apothecaries Society de
Londres sẽ cấp giấy phép cho phép hành nghề y khoa. Vì các đơn
ghi danh theo học của cô đều bị các phân khoa Dược từ chối, nên
cô phải theo các lớp học tư với các thầy chỉ đạo khác nhau và đã
thuyết phục được vài vị thầy thuốc cho phép cô được tham dự các
buổi thăm bệnh của họ. Năm 1865, cô có tất cả các chứng chỉ cần
thiết để dự thi lấy cử nhân dược khoa. Đơn ứng thi của cô bị từ
chối nhưng cô đã tìm thấy nơi bố mình người bạn đồng minh. Ông
này đưa đơn khiếu nại lên Dược Sĩ đoàn và đã thắng kiện. Cô
Garrett được phép dự thi và lấy được văn bằng dược sĩ, điều này
khiến cô có thể đăng ký như người thầy thuốc phụ nữ đầu tiên .
Apothecaries Society de Londres,
sau khi tạm thời bối rối trước sự thất thế này, đã phản ứng lại
bằng cách sửa đổi nội quy để cho trong tuong lai sẽ không có một
phụ nữ nào còn có thể giành được văn bằng dược sĩ này.
MỘT NGHỀ NGHIỆP Y KHOA SÁNG CHÓI.
Bà mở một
phòng khám tư và nhờ tiền kiếm được, năm 1866 bà thành lập một
bệnh xá cho các phụ nữ và trẻ em ở Luân Đôn , St Mary
Dispensary. Vào năm 1874 bệnh xá này sẽ trở thành New Hospital
for Women.
Nhưng Elizabeth mong muốn thi lấy
bằng tiến sĩ y khoa và để được như thế bà đã đi Paris năm 1868.
Ở đây, năm 1870, sau cùng bà đã dành được ở Sorbonne tước hiệu
MD mà bà hằng mong ước.
Vẫn luôn luôn năm 1870, Elizabeth
Garrett nạp đơn ứng cử London School Board, vừa mới được mở dành
cho các phụ nữ và bà đã thu được nhiều phiếu nhất trong số các
ứng viên.
Năm 1873, bà đã thành công ghi danh
vào British Medical Association. Việc ghi danh này tuy không bắt
buộc ở Anh vào thời kỳ đó, nhưng Elizabeth vẫn nạp đơn. Hồ sơ
của bà được chấp thuận nhờ một sự nhầm lẫn : các thành viên của
hiệp hội đáng kính này đã ghi tên bà vào hội vì tin rằng BS
Garrett, M.D, đã nạp đơn, là một người đàn ông…và khi nhận thức
được sự sai lầm này thì đã quá muộn. Do đó Elizabeth vẫn là hội
viên nữ duy nhất của cơ quan này trong 19 năm.
Bà ra sức làm việc để phát triển
New Hospital và để tạo lập ở Luân Đôn một trường y dành cho các
phụ nữ (London School for Medicine for Women) Trường này luyện
thi các nữ sinh viên để vào Đại Học Luân Đôn (được mở cho các
phụ nữ năm 1877). Trong 20 năm, bà là khoa trưởng của trường
này.
Năm 1893, bà đã góp phần vào sự
thành lập John Hopkins Medical School. Các phụ nữ đóng quỹ xây
dựng trường đã đưa điều kiện là trường y khoa này phải chấp nhận
các phụ nữ
CUỘC ĐỜI CỦA MỘT NGƯỜI PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN TÀI
NĂNG VÀ CHIẾN ĐẤU.
Nỗi đam mê của Elzabeth Garrett đối
với y khoa vẫn không ngăn cản bà sống một cuộc sống bình thường.
Năm 1871, bà cưới James Skelton, một hội viên của ủy ban lãnh
đạo của một bệnh viện, nơi bà được phép hành nghề ngoài những
hoạt động trong bệnh xá của mình. Cặp vợ chồng có hai con, nhưng
không phải vì vậy mà bà sẽ ngưng hành nghề.
Mặt khác, và điều này không phải làm ngạc nhiên, bà
tham gia, cũng như chị mình là Millicent, nhưng trong một mức độ
ít hơn, vào phong trào phụ nữ đòi quyền bầu cử và năm 1889 bà
trở nên hội viên của Uỷ Ban Trung Ương của hiệp hội quốc gia vì
quyền bầu cử của các phụ nữ ( National Society for Women’s
Suffrage). Các hoạt động của bà lại còn gia tăng sau khi chồng
mất năm 1907.
Năm 1918, New Hospital được đặt lại
tên là Elizabeth Garrett Anderson Hospital sau khi bà qua đời .
Hiện nay, bệnh viện này thuộc Đaị Học Luân Đôn, như thế là công
nhận cuộc đấu tranh được thực hiện để các phụ nữ được quyền theo
ngành y, mà bà chắc chắn là một trong những người tiền phong lỗi
lạc nhất.( LA SEMAINE MEDICALE 11/10/2007)
2/ BỆNH GIANG MAI
ĐƯỢC MANG ĐẾN CHÂU ÂU BỞI CHRISTOPHE COLOMB.
Một công trình nghiên cứu về tiến triển di truyền của
vi khuẩn gây bệnh giang mai đã công nhận là đúng giả thuyết về
một tác nhân nhiễm khuẩn được mang từ Châu Mỹ về Châu Âu bởi
đoàn thám hiểm của Christophe Colomb. Một nhóm nghiên cứu Hoa
Kỳ, Anh và Canada đã công bố hôm thứ hai 14/1, trên site của tạp
chí on-line PloS Neglected Tropical Diseases, một bài báo có
khuynh hướng xác nhận rằng bệnh giang mai đã được mang vào châu
Âu bởi Christophe Colomb, như thế chấm dứt một cuộc tranh cãi từ
500 năm nay về nguồn gốc của bệnh này
Các nhà di truyền học đã tái tạo cây
phả hệ của những giống gốc vi khuẩn (souches bactériennes) nguồn
gốc của bệnh giang mai.
Vào năm 1495, thành Naples thất thủ
rơi vào tay của vua nước Pháp, Charles VIII, và của đạo quân
chiếm đóng gồm những lính đánh thuế. Đạo quân này, được chỉ huy
bởi Louis d’Orléans và hiệp sĩ Bayard, lúc đó đang là nạn nhân
của một trận dịch kinh hoàng của một loại bệnh dịch hạch (peste)
mới. Một căn bệnh được lây truyền bằng đường sinh dục, được đặt
tên là bệnh thành Naples (maladie de Naples). Đó là trận dịch
giang mai đầu tiên ở châu Âu. Dịch bệnh lan tràn nhanh chóng qua
trung gian của các lính đánh thuê trở lại quê nhà.
Sự việc bệnh giang mai xuất hiện một ít lâu
sau khi Christophe Colomb và binh sĩ trở về từ Tân Thế Giới (chỉ
3 năm sau khi khám phá châu Mỹ), khiến người ta nghĩ rằng căn
bệnh này xuất phát từ châu Mỹ và được mang về châu Âu từ Tân Thế
Giới, bởi các thủy thủ phục vụ vua Tây Bạn Nha, vì lẽ những
trường hợp bệnh giang mai đã được mô tả trong số các thủy thủ
này.
Giả thuyết này, trước đây gây nhiều
tranh cãi, ngày nay đã được xác nhận nhờ di truyền học ( PloS
Neglected Tropical Diseases, 15/1/2008). Các nhà nghiên cứu của
Emory University (Atlanta, Georgie) đã so sánh các séquence của
các bộ di truyền (génome) của các thành viên khác nhau của họ
các tréponème, những vi khuẩn gây nhiều bệnh, trong đó có bệnh
giang mai. Như thế, các nhà nghiên cứu đã có thể tái tạo cây phả
hệ xác lập nguồn gốc châu Mỹ của bệnh giang mai ( “ grande
vérole ” ).
MŨI TÊN TẨM THUỐC ĐỘC CỦA CUPIDON.
Từ thời thượng cổ, các người
Amérindiens đã bị một căn bệnh tương tự với bệnh giang mai. Và
vài người trong các thành viên của đoàn thám hiểm của Colomb đã
có những triệu chứng đặc hiệu, điển hình của bệnh nhiễm trùng
này : các hạch sưng tấy lên, sốt tăng cao và “ mũi tên tẩm
thuốc độc của Cupidon ” làm biến dạng thân thể. Một giả thuyết
khác, nảy sinh vào thế kỷ XX, cho rằng người ta đã lẫn lộn bệnh
giang mai với các bệnh khác, như bệnh hủi (lèpre).
Đối với các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, sự việc
không có các dấu vết thương tổn xương (đặc điểm của bệnh giang
mai) trên các bộ xương của những người châu Âu và Bắc Phi trước
cuối thế kỷ thứ XV, là chứng cớ xác nhận nguồn gốc châu Mỹ của
căn bệnh này.
Trong cùng công trình nghiên cứu,
các nhà nghiên cứu đã tái tạo phả hệ của các tréponèmes khác gây
bệnh chủ yếu ở trẻ em và được lan truyền bởi sự tiếp xúc qua da
hoặc bằng nước miếng. Đó là các bệnh Pian, Bejel và Pinta( LE
FIGARO 15/1/2008)
3/ CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO MỘT TRÁI TIM CHUỘT TRONG PHÒNG THÍ
NGHIỆM.
Lần đầu tiên, một trái tim chuột
hoạt động được, đã được chế tạo từ các tế bào tim sơ sinh .
Các
công trình được công bố hôm chủ nhật trong tạp chí Nature
Medicine bởi nhóm nghiên cứu của Doris Taylor (Đại Học
Minnesota, Minneapolis, Hoa Kỳ) có thể được dùng làm trọng tâm
của cốt chuyện của một sách khoa học viễn tưởng. Thế mà tuy vậy,
câu chuyện đúng là có thật. Một trái tim chuột, có khả năng đập
và vận hành như một bơm tim, đã được chế tạo trong một phòng thí
nghiệm từ tim của một động vật chết và từ các tế bào tim sơ sinh
của chuột.
Đó chỉ là một động vật gậm nhấm và
trái tim được chế tạo đã chưa được ghép trên một động vật khác.
Nhưng những công trình này mở đầu một kỹ nguyên hoàn toàn mới
của nghiên cứu trong lãnh vực ghép cơ quan. Ý tưởng được nhắm
đến là có lẽ vào một ngày nào đó, chúng ta sẽ có thể không cần
đến những người cho cơ quan (donneurs d’organe) và có thể dùng
những cơ quan mà chúng ta sẽ có khả năng chế tạo một cách thích
ứng cho mỗi cá nhân. Hiện nay thì chúng ta vẫn còn xa để đạt
được mục tiêu đó.
Làm sao chế tạo một trái tim trong
phòng thí nghiệm ? Trước hết các nhà nghiên cứu của Đại Học
Minnesota đã trích lấy trái tim của một con chuột bị chết và sử
dụng trái tim này như là một cấu trúc cơ bản cho trái tim mà họ
mong muốn chế tạo nên. Sau đó họ loại bỏ toàn bộ các tế bào tim
của cơ quan này, ( nhờ một phương thức được gọi là “
décellularisation ” ), chỉ để lại cái khuôn ngoài tế bào”
(matrice extracellulaire), nghĩa là cái khung cơ bản sẽ cho cơ
quan cuối cùng hình dạng của một trái tim. Sau đó các nhà nghiên
cứu tiêm vào cái khuôn này, những tế bào xuất phát từ các trái
tim của các chú chuột sơ sinh. Toàn bộ sau đó đuợc đặt vào trong
một môi trường cấy thuận lợi cho sự tăng trưởng của các tế bào
tim.
Chỉ cần 4 ngày để các tế bào được
tiêm vào tăng sinh và lan rộng lên cả cái khuôn và các co thắt
được quan sát trong cơ tim đang nảy sinh. 8 ngày sau khi được
nuôi cấy, tim đã có thể vận hành như một cái bơm, dĩ nhiên với
lưu lượng thấp, với một công suất đạt đến 2% của chức năng của
một trái tim trưởng thành.
“ Khi chúng tôi thấy những co bóp đầu
tiên, chúng tôi đã không nói nên lời, Harald C.Ott, một trong
những nhà nghiên cứu của nhóm đã bình luận như thế. “ Đó là một
trong những giây phút trọng đại của đời tôi. Giây phút đầu tiên,
đó là vào năm 1997 khi tôi thấy các tế bào phát triển trong một
trái tim thỏ sau khi bị nhồi máu cơ tim.” Những kết quả này “
rất là hứa hẹn ”, theo các nhà nghiên cứu.
NHỮNG ÁP DỤNG CÒN XA VỜI VỢI.
Cùng nhóm
nghiên cứu này cũng đã trắc nghiệm thành công kỹ thuật nhằm loại
bỏ tất cả những tế bào của cơ tim trên các trái tim heo. Nhóm
nghiên cứu đã thí nghiệm phương thức này trên các cơ quan khác
nhau như phổi, gan, thận và các cơ.
Nhóm nghiên cứu này bây giờ muốn ghép
những trái tim sinh nhân tạo (coeurs bioartificiels) lên các
động vật sống để thăm dò khả năng vận hành của chúng in vivo. “
Ý tưởng sẽ là sẽ phát triển các mạch máu hoặc các cơ quan có thể
ghép được và được chế tạo từ chính các tế bào của một cá nhân »,
Doris Taylor, một trong những đồng tác giả của tài liệu xuất
bản đã giải thích như vậy. Một triễn vọng như thế sẽ có thể một
ngày nào đó mang lại một yếu tố giải đáp cho vấn đề thiếu cơ
quan. Ở Pháp, 700 người đang thường trực chờ đợi để được ghép
một trái tim.
Tuy nhiên phải công nhận rằng triễn vọng này vẫn còn
rất xa. “ Công trình này, đó là công cuộc thí nghiệm rất tốt đẹp
được thực hiện bởi một nhóm những nhà nghiên cứu có chất lượng
cao, Giáo Sư Philippe Menasché ( bệnh viện Georges-Pompidou,
Paris) đã khẳng định như thế. Nhưng chúng ta cần phải xác định
rõ ràng : những áp dụng lâm sàng vẫn còn rất xa vời . Một trái
tim, đó không chỉ là cơ tim, mà còn là những động mạch vành,
những dây thần kinh, những mạch bạch huyết, mô liên kết, đó rất
là phức tạp. Đây là một công trình nghiên cứu tuyệt vời, nhưng
từ đó dự kiến làm một trái tim sinh nhân tạo ( un coeur
bioartificiel), thì chỉ là một ảo tưởng mà thôi .“ ( LE
FIGARO 15/1/2008)
4/ NAM NAY, CÚM HẲN PHẢI GÂY BỆNH CHO 4 TRIỆU
NGƯỜI.
Những biện pháp đơn giản nhưng hiệu
quả là thiết yếu để tránh lây nhiễm những người chung quanh.
Phát xuất từ phân tích tình hình
trong Nam bán cầu vào lúc mùa đông nam cực, các chuyên gia của
mạng lưới Sentinelles-INSERM nghĩ rằng ở Pháp có thể có 4 triệu
người bị bệnh cúm. Mặt khác, hiện còn quá sớm để nói là bệnh cúm
năm 2008 có sẽ nặng hơn bệnh cúm của năm vừa qua hay không.
Sốt cao, mệt mỏi, nhức mỏi và đau đầu
là những triệu chứng đầu tiên của bệnh nhiễm trùng đường hô hấp
cấp tính này, kèm theo là ho khan và đau, viêm mũi và rất mệt
mỏi. Những dạng biến chứng (bội nhiễm vi khuẩn, kể cả viêm phổi)
tạo nên tính nghiêm trọng của bệnh, đặc biệt là nơi những người
già và những người yếu ớt, là những đối tượng rất cần phải tiêm
chủng phòng ngừa cúm. Bệnh cúm gây nên 2000 trường hợp tử vong
mỗi năm, trong đó 90% nơi những người trên 65 tuổi .
Tuần qua, theo mạng lưới Sentinelles,
lần đầu tiên số trường hợp mới đã vượt quá ngưỡng dịch tễ học
với 232 trường hợp cho mỗi 100.000 dân ở Pháp chính quốc, Nhưng
còn “ phải đợi thêm một tuần lễ thứ hai để xác nhận sự xuất hiện
dịch cúm ở Pháp chính quốc ”.
“ Những trường hợp riêng lẽ đầu tiên
đã xuất hiện vào đầu tháng 12 nhưng đường cong theo dõi tiến
triển của những trường hợp đến phòng cấp cứu hoặc nhập viện vì
hội chứng cúm chỉ bắt đầu đi lên cách nay khoảng 10 ngày ”, BS
Weber, giám đốc của Viện quốc gia cảnh tuần y tế ( Institut
national de veille sanitaire) đã xác nhận như thế.
Nhà chuyên gia này đặc biệt nhấn mạnh đến “ tinh thần
công dân y tế ” (civisme sanitaire), một tập hợp các biện pháp
đơn giản, nhưng vẫn còn rất ít được áp dụng ở Pháp. Trước hết,
rửa tay thường xuyên (đặc biệt là sau khi hỉ mũi, ho và hách xì,
trước khi sửa soạn bữa ăn, trước khi ăn hoặc chăm sóc trẻ, và kể
cả sau khi sử dụng các phương tiện vận chuyển công cộng, sau khi
cầm một cánh cửa thang máy ...). Người ta cũng có thể sử dụng
những dung dịch cồn khử khuẩn.
CHÚ Ý NHỮNG TỜ GIẤY BẠC.
Bởi vì
siêu vi trùng bệnh cúm, rất lây nhiễm, được truyền bởi các nước
bọt được bắn ra, bởi ho, hách xì, bởi nước miếng và các bàn tay.
Sau đó siêu vi trùng đọng lại trên các bề mặt hoặc được treo lơ
lửng trong không khí, và cần rất ít virus để có thể làm ô nhiễm
một căn phòng ( điều này nói lên tầm quan trọng của sự thông khí
một lần mỗi ngày). Cũng cần chú ý đến các tờ giấy bạc.Theo các
nhà nghiên cứu Genève, virus có thể sống sót nhiều ngày trên các
tờ giấy bạc được sử dụng, được bảo quản ở nhiệt độ và độ ẩm của
môi trường xung quanh...
Phải sử
dụng các khăn tay với một lần dùng duy nhất và che miệng khi ho,
bởi vì chúng ta sẽ gây nhiễm chừng nào chúng ta còn tiếp tục
ho. Một phản xạ cần thiết khác là khi bị bệnh cúm, cần phải mang
một mặt nạ ngoại khoa “ chống phóng thải ” ( masque chirurgical
“antiprojections” ).
Sau cùng, những người làm những nghề
nghiệp phải tiếp xúc với các người già nên được chủng ngừa chống
cúm. Những người tiếp xúc với những trẻ nhỏ cũng vậy. “ Tiếc
thay, chỉ có một nửa trong số những người chuyên nghiệp này là
được chủng ngừa mà thôi. Đây đúng là một vấn đề ” , BS Weber
công nhận như thế( LE FIGARO 17/1/2008)
5/ SỰ ĐỀ KHÁNG CỦA CÁC VI KHUẨN ĐỐI VỚI CÁC KHÁNG SINH ĐÃ ĐẠT
ĐẾN MỘT QUY MÔ HÀNH TINH
Một công trình nghiên cứu của Thụy
Điển xác lập rằng các con chim hiện diện ở các vùng xa xôi khác
nhau của Bắc Cực mang một loại vi khuẩn đã trở nên đề kháng đối
với hầu hết tất các các thuốc kháng sinh.
Phải chăng ngày nay những hiện
tượng đa đề kháng (multirésistance) của các vi khuẩn đối với các
kháng sinh có thể được quan sát trên quy mô hành tinh ? Đó là
điều mà chúng ta có thể quan ngại, theo một công trình của những
nhà nghiên cứu Thụy Điển được công bố trong số báo vừa qua của
Emerging Infectious Diseases Journal, một tạp chí của những
Trung tâm kiểm tra và ngăn ngừa bệnh tật của Hoa Kỳ. Được lãnh
đạo bởi BS Bjorn (đại học Uppsala), các nhà khoa học này đã muốn
biết xem các vi khuẩn Escherichia coli hiện diện nơi các con
chim sống ở Bắc Cực có đề kháng với các kháng sinh hay không,
như là điều này thường xảy ra trong các nước công nghiệp.
Được tổ chức trong khung cảnh của
Année polaire internationale, công trình điều tra của họ đã được
tiến hành trong ba vùng xa xôi : đông bắc Sibérie, Alaska và bắc
Groenland. Những mẫu nghiệm sinh học đã được lấy trong các chất
phế thải hay ống tiêu hóa của 97 con chim. Các giống gốc vi
khuẩn sau đó đã được trắc nghiệm đối với 17 loại thuốc kháng
sinh có tác dụng lên toàn bộ khuẩn lạc thường được sử dụng trong
y khoa. Các nhà nghiên cứu Thụy Điển giải thích là họ đã có thể
phát hiện những hiện tượng đề kháng vi khuẩn đối với 14 trong số
17 kháng sinh.
Công trình nghiên cứu này tiếp theo
nhiều công trình khác nhau đã làm sáng tỏ một hiện tượng tương
tự nơi các loài chim di trú hiện diện ở Bắc Mỹ và Châu Âu.
Nhiều giả thuyết có thể được đưa ra
để giải thích sự xuất hiện của một sự đề kháng kháng sinh nơi
các loài chim hoang dã trong những vùng mà ở đó con người hầu
như vắng bóng. Chúng ta có thể tưởng tượng rằng hiện tượng này
là hậu quả của những biến dị ngẫu nhiên trong bộ gène của vi
khuẩn Escherichia coli, hoặc là của sự chuyển gènes đề kháng từ
bộ gène của các vi khuẩn khác thường hiện diện trong môi trường
( sự truyền được gọi là “ ngang ” ).
Vùng eo biển Béring là một vùng có
rất nhiều loài chim đến kiếm ăn. Đó cũng là một vùng đi qua của
nhiều chim di trú từ 6 lục địa.Từ đó chúng ta có thể kết luận
rằng hiện tượng đa đề kháng của vi khuẩn đối với các kháng sinh
được quan sát ở các loài chim ở Bắc Cực là đã có được dưới các
vĩ độ khác, trước khi được truyền cho các loài chim tại chỗ.
“ Công trình nghiên cứu chứng tỏ rõ
ràng rằng có một sự phát tán thụ động các vi khuẩn bởi các chim
di trú, do đó lý thuyết về sự đốt biến ngẫu nhiên có thể được
loại trừ, Patrice Courvalin, giám đốc của đơn vị của các tác
nhân kháng khuẩn của Viện Pasteur, đã đánh giá như vậy. Những đề
kháng quan sát được cũng là những đề kháng thường được thấy nhất
nơi các vi khuẩn sinh bệnh đối với người. Ngày nay, chúng ta có
thể nói rằng sự toàn cầu hóa của các trao đổi, kết hợp tính chất
đa dạng và hiệu quả của các đường phát tán các giống gốc vi
khuẩn đa đề kháng, làm cho không một ai, dầu ở bất cũ nơi đâu,
dầu lối sống và môi trường sống như thế nào, cũng không tránh
khỏi hiện tượng đề kháng này.”
Theo ông, tình hình này lại càng đáng quan
ngại khi chúng ta càng ngày càng có những dữ kiện chỉ rõ rằng
các vi khuẩn bình thường hiện diện trong ống tiêu hóa tạo nên
một chỗ chứa các gènes đề kháng đối với các vi khuẩn gây nhiễm
trùng nơi người.
“ Một khía cạnh quan trọng được làm
sáng tỏ bởi công trình nghiên cứu này là nó xác nhận rằng sự đề
kháng rất là ổn định, bởi vì ở Bắc Cực không có áp lực của sự
chọn lọc kháng sinh, Patrice Courvalin nói thêm như thế. Trong
lúc chọn lọc các giống gốc đề kháng, đặc biệt do sự sử dụng
không hợp lý các kháng sinh, chúng ta tạo ra những vấn đề đối
với các thế hệ tương lai. Ở đây, đó là
một nguy cơ xã hội thật sự với quy mô hành tinh. Một lần nữa
phải nói rằng những vấn đề y tế công cộng phải được ưu tiên so
với sự toàn cầu hóa của các trao đổi.”( LE FIGRO 17/1/2008)
6/ CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ VÀ NHỮNG TÁC DỤNG TỐT CỦA THỂ THAO.
Một công trình nghiên cứu của đại
học Bologne vừa xác nhận điều này. 750 người tình nguyện thuộc
hai giống tính, tuổi trên 65, và không có một rối loạn trí nhớ
nào vào lúc bắt đầu công trình nghiên cứu, đã được theo dõi
trong vòng 4 năm. Sau thời gian theo dõi này, 54 người đã phát
triển một bệnh Alzheimer, và 27 người phát triển một bệnh sa sút
trí tuệ có nguyên nhân mạch máu (démence vasculaire). Các kết
quả đã chứng tỏ rằng những người có một hoạt động vật lý đều
đặn, ngay ở mức độ có chừng mực, có một nguy cơ bị mắc phải sa
sút trí tuệ giảm 24%.( PARIS MATCH 17/1-23/1/2008)
7/ VI KHUẨN ĐỀ KHÁNG VÀ THỰC KHUẨN THỂ LIỆU PHÁP (PHAGOTHERAPIE)
Trong khi sự đề kháng của các vi
khuẩn đối với các kháng sinh gia tăng trên thế giới, các chuyên
gia lại bắt đầu quan tâm đến “ thực khuẩn thể liệu pháp ” ( “
phagothérapie” ), một vũ khí chống vi khuẩn rất hiệu quả, mặc
dầu đã có từ cách nay một thế kỷ, nhưng bị lãng quên trong các
hồ sơ lưu trữ của Lịch Sử. Thực khuẩn thể (phage), là chữ viết
tắt của bactériophage, là một siêu vi trùng giết vi khuẩn (un
virus tueur de bactéries). Nói chính xác hơn, một thực khuẩn
thể nào đó là một động vật ăn mồi (un prédateur) của một vi
khuẩn đặc biệt, và đối với cùng một vi khuẩn, thường có nhiều
thực khuẩn thể có khả năng tiêu diệt vi khuẩn này. Siêu vi trùng
này, không tác động đến các tế bào người, đã được khám phá năm
1915 bởi Frederic Twort, người Anh, nhưng chính Félix d’Hérelle,
người Pháp-Canada và là môn đồ của Pasteur, đã mô tả những đặc
điểm chính. Thực khuẩn liệu pháp (phagothérapie) đã được sử dụng
trong gần 20 năm, nhưng với sự ra đời của các kháng sinh vào
khoảng những năm 40, phép trị liệu này đã bị bỏ không sử dụng,
trừ ở Nga, vào thời kỳ Liên Xô, vẫn luôn luôn có một viện chuyên
trách trong việc sản xuat các thực thể khuẩn. Gần đây, BS Rakin,
thuộc đại học Munich, đã được phép dùng phép trị liệu xưa cổ này
nơi 9 bệnh nhân bị gây bệnh ( bỏng, viêm xương...) bởi tụ cầu
vàng (staphylocoque doré) đề kháng với tất cả các
kháng sinh đã được biết đến.
Kết quả : 9 trường hợp được chữa lành ! Để
tưởng nhớ đến Félix d’Hérelle, BS Rakin và khoảng 100 đồng
nghiệp đến từ khắp nơi trên toàn thế giới, hội họp ở Viện
Pasteur de Paris để khuyến khích sử dụng thực khuẩn thể liệu
pháp như là điều trị cấp cứu chống lại các vi khuẩn nhiều đề
kháng (bactéries multirésistantes)( PARIS MATCH17/1-23/1/2008)
8/ THIẾU VITAMINE D : MỘT YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH MỚI ?
Đã từ lâu chúng ta biết rằng một sự
thiếu hụt vitamine D được liên kết với bệnh loãng xương
(ostéoporose), nhưng những hệ lụy về sinh lý của sự thiếu hụt
này càng ngày càng được chứng minh. Một công trình nghiên cứu
được thực hiện bởi Thomas Wang và các cộng sự viên (Framingham
Heart Study) vừa được công bố trên site của tờ Circulation ngày
7 tháng giêng vừa qua. Công trình nghiên cứu cho thấy rằng một
sự thiếu hụt vitamine D cũng làm gia tăng nguy cơ các bệnh tim.
Các tác giả đã tiến hành một công trình nghiên cứu
theo dõi nơi 1.739 người tham dự của Framingham Heart Study.Vào
lúc bắt đầu công trình nghiên cứu, các bệnh nhân không bị một
vấn đề về tim mạch nào cả. Công trình nghiên cứu xác nhận rằng
những người tham gia có nồng độ vitamine D thấp ( < 15 ng/ml)
trong suốt 5 năm theo sau lúc khởi đầu công trình nghiên cứu, có
nguy cơ bị một biến cố tim mạch đầu tiên (nhồi máu cơ tim, suy
tim, tai biến mạch máu não), hai lần quan trọng hơn so với những
người có nồng độ vitamine D cao hơn.
Mặc dầu đã điều chỉnh những yếu tố nguy cơ tim mạch cổ
điển (tăng cholestérol máu, đái đường, cao huyết áp), nguy cơ
vẫn cao một cách đáng kể trong nhóm những người tham gia có nồng
độ vitamine D thấp. Các công trình lâm sàng và thí nghiệm bổ
sung sẽ cho phép biết việc điều chỉnh sự thiếu hụt vitamine D
này có thể góp phần ngăn ngừa các bệnh tim mạch hay không .( LE
JOURNAL DU MEDECIN 18/1/2008)
9/ SAU KHI CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN BỆNH NHÂN SỐNG
THÊM 4,5 NĂM NỮA.
J.Xie và các cộng sự viên đã phân tích
các dữ kiện của những người tham gia một công trình nghiên cứu ;
suốt trong thời gian nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã tìm
kiếm, với những khoảng thời gian cách nhau đều đặn, sự hiện diện
của những triệu chứng của chứng sa sút trí tuệ. Họ cũng ghi nhận
những dữ kiện về tử vong. Trong số 13.004 người tham gia tuổi
hơn 65, có 438 người đã phát triển một chứng sa sút trí tuệ
trong thời gian theo dõi. Vào tháng 12/ 2005, 356 người trong số
438 người tham gia (81%) đã phát triển chứng sa sút trí tuệ
trong thời gian công trình nghiên cứu, đã chết. Thời gian sống
sót trung bình sau khi chứng sa sút trí tuệ xuất hiện là 4,1 năm
đối với các ông, và 4,6 năm đối với các bà. Có một di biệt gần 7
năm giữa những bệnh nhân sa sút trí tuệ trẻ nhất và già nhất. Sự
dị biệt này là 10,7 năm trong lứa tuổi 65-69 tuổi ; 5,4 năm
trong lứa tuổi 70-79 tuổi ; 4,3 năm đối với lứa tuổi 80-89 tuổi
; và 3,8 năm ở những người trên 90 tuổi. Những yếu tố tiên đoán
đáng kể nhất của một tử vong sớm trong trường hợp sa sút trí tuệ
là giống tính, tuổi xuất hiện bệnh, và mức độ tàn phế. Theo các
tác giả, những đánh giá này là có ích để xác định tiên lượng và
tương lai của bệnh nhân, dĩ nhiên không những cần thiết cho bệnh
nhân mà còn cho những người điều trị và quản lý. ( LE JOURNAL DU
MEDECIN 18/1/2008)
10/ SỰ KHỬ RUNG Ở BỆNH VIỆN CÓ THỂ ĐƯỢC LÀM TỐT HƠN
Theo các
chuyên gia, thời hạn giữa một ngừng tuần hoàn ( arret
circulatoire) thứ phát một asystolie hoặc loạn nhịp, và một khử
rung (défibrillation) không được vượt quá 2 phút ở bệnh viện.
P.Chan ( Hoa kỳ) và các cộng sự viên đã nhận diện 6789 bệnh
nhân, nạn nhân của một ngừng tuần hoàn do rung thất (
fibrillation ventriculaire) hoặc tim đập nhanh thất (tachycardie
ventriculaire) trong 369 bệnh viện tham gia vào National
Registry of Cardiopulmonary Resuscitation. Họ đã ghi nhận những
đặc điểm được liên kết với việc khử rung chậm, cũng như những
hậu quả lên sự sống sót của các bệnh nhân.Thời gian khử rung
trung bình là 1 phút và 30% các trường hợp được khử rung chậm.
Đó thường là những bệnh nhân da đen, các bệnh nhân được nhập
viện bởi những bệnh lý không phải do tim, trong một trung tâm
điều trị dưới 250 giường, trong một khoa phòng không có
monitoring, hoặc những bệnh nhân có cơn loạn nhịp ngoài giờ làm
việc (17 giờ chiều đến 8 giờ sáng). Một khử rung chậm làm giảm
một cách đáng kể tỷ lệ sống sót ( 22% so với 39,3% trong trường
hợp khử rung trong vòng 2 phút ) và điều này tỷ lệ với khoảng
thời hạn can thiệp.
( LE JOURNAL DU
MEDECIN 18/1/2008)
BS
NGUYỄN VĂN THỊNH
( 21/1/2008)
Trở về Trang Chính
|