|
1/ UNG THƯ PHỔI LIÊN
KẾT VỚI CÁC YẾU TỐ DI TRUYỀN
Một vài người hút thuốc lá có nguy
cơ bị ung thư phổi hơn là do profil génétique của họ, theo các
kết quả của nhiều công trình nghiên cứu được công bố trong
Nature. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử y học một sự biến dị
di truyền (variation génétique) liên kết với nguy cơ bị ung thư
phổi.
Một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế
từ 19 nước vừa chứng minh lần đầu tiên trên thế giới rằng có một
tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) cho sự phát sinh ung
thư phổi. 3 nhóm nghiên cứu quốc tế khác nhau, trong đó có những
nhà nghiên cứu Pháp, đã công bố các công trình phù hợp với nhau
trong ấn bản 3/4 của các tạp chí khoa học Nature và Nature
Genetics.Tất cả 3 nhóm đều định vị biến dị di truyền có liên
quan trong sự phát sinh ung thư phổi, trong một vùng của nhiễm
sắc thể 15, là nơi định vị của các gènes mã hóa cho các thụ thể
nicotine.
Cần nhắc lại rằng ung thư phổi là nguyên nhân gây tử
vong do ung thư thường xảy ra nhất trên thế giới với 1 triệu các
trường hợp mới được chẩn đoán mỗi năm (hơn 25.000 trường hợp ung
thư mới xảy ra hàng năm ở Pháp). Chúng ta đã biết rõ rằng khói
thuốc lá là thủ phạm chủ yếu của hơn 80% các ung thư phổi và
việc ngừng hút thuốc vẫn là phương cách đơn giản nhất để bảo vệ
lấy mình. Ung thư phổi là một căn bệnh đặc biệt giết người với
18.000 tử vong mỗi năm và chỉ 15% các bệnh nhân còn sống sau 5
năm, bởi vì bệnh ung thư này thường được chẩn đoán quá chậm trễ
và đề kháng nhất với điều trị. Nhưng sự việc chỉ rõ một tố bẩm
di truyền trong sự phát sinh bệnh ung thư phổi cho thấy rằng
chúng ta không bình đẳng trước nguy cơ này, mặc dầu thế chúng ta
không nên nới lỏng các biện pháp phòng ngừa đối với thuốc lá.
Để có được một kết quả như thế
(tương tự với các kết quả của những nhóm nghiên cứu khác), các
nhà nghiên cứu ( Fondation Jean Dausset, Cơ quan quốc tế về ung
thư ở Lyon…) đã phân tích gần 300.000 biến dị di truyền được
phân phối trên toàn bộ các nhiễm sắt thể của hơn 10.000 người
gốc châu Âu, mà một nửa bị ung thư phế quản (cancer bronchique).
Cuối cùng họ đã nhận diện một vùng có kích thước nhỏ trên nhiễm
sắc thế 15, là nơi xảy ra những biến dị di truyền (variations
génétiques) tái diễn liên kết với ung thư này.
Những người mang những biến dị di
truyền này trên một bản sao nhiễm sắc thể 15 có nguy cơ mắc phải
ung thư phổi 2 lần cao hơn, so với những người không có những
biến dị này.“ Trên thực tiễn, trong khi nguy cơ bị một ung thư
ác tính ở phổi, đối với một người hút thuốc thâm niên là 16%, tỷ
lệ này sẽ tăng lên 23% nếu anh ta mang các biến dị di truyền
trên cả 2 bản sao nhiễm sắc thế 15, điều này không phải là ít ỏi
”, Giáo sư Dominique Maraninchi, chủ tịch của Viện quốc gia ung
thư (Inca) đã tóm tắt như vậy. “ Đối với một người hút thuốc bây
giờ bỏ không hút nữa, trong khi nguy cơ mắc phải một ung thư
phổi vẫn còn là 8%, thì nguy cơ này sẽ tăng lên 15% nếu anh ta
có những biến dị này trên hai bản sao nhiễm sắc thể 15. Vậy chỉ
với sự hiện diện cua biến dị này không thôi cũng đủ làm gia tăng
nguy cơ bị ung thư phổi, đó là điều không thể chối cãi được ”.
Đối với những người không hút thuốc sự việc ít rõ ràng hơn.
PHÁT TRIỂN VÀ CẢI THIỆN
ĐIỀU TRỊ.
Các gènes nằm trong vùng có liên
quan với sự phát sinh ung thư phổi của nhiễm sắc thể 15 cũng mã
hóa cho các thụ thể nicotine (récepteurs nicotiniques) của
acétylcholine. Mà các thụ thể này cũng đóng một vai trò chủ yếu
trong chứng nghiện thuốc lá và hiện diện trong biểu mô của các
phế quản. Các kết quả của những nhà nghiên cứu chứng tỏ rằng
ngoài vai trò của chúng trong chứng nghiện thuốc lá, các thụ
thể này cũng can thiệp trong sự phát sinh ung thư phổi. Nhưng có
chăng một mối liên hệ giữa sự hiện diện của các thụ thể như thế
với chứng nghiện thuốc lá ? Hiện nay không thể nói được bởi vì
có hàng chục, thậm chí hàng trăm những thụ thể nicotine.
Đối với Paul Brennan, thuộc Cơ quan
quốc tế về ung thư ở Lyon, một điều chắc chắn là “ những kết quả
này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ những cơ chế có liên hệ trong sự
phát triển bệnh và có thể mở ra những đường hướng mới để phát
triển và cải thiện các điều trị .Thí dụ bằng cách phong bế vài
trong số các thụ thể nicotine ”.
Đồng thời, các nhà nghiên cứu vẫn có
thái độ thực tiễn. “ Phải nhấn mạnh tầm quan trọng của việc
ngưng hút thuốc lá. Bởi vì ngay cả những người hút thuốc không
mang các biến dị di truyền này đi nữa, vẫn có một nguy cơ quan
trọng phát triển một ung thư phổi hoặc một bệnh có liên quan với
thuốc lá.
Công trình nghiên cứu này chứng tỏ rằng chúng ta
không được bình đẳng trước các mối nguy cơ bị ung thư. “ Nhưng
về ung thư phổi, thuốc lá đóng một vai trò chủ yếu trong khi yếu
tố di truyền can thiệp một cách thứ yếu mà thôi ” , G.S
Maraninchi đã kết luận rõ ràng như vậy .
Nguồn : LE
FIGARO 4/4/2008
2/ BẢN CHỮ CÁI ĐÃ CỨU BÁC SĨ
CROHN.
Năm 1932,
Journal of the Americal Association đã công bố một bài viết ký
tên bởi Burril Bernard Crohn, Gordon Oppenheimer và Leon
Ginzburg trong đó 3 nhà bác học đã mô tả lần đầu tiên các triệu
chứng của bệnh viêm ruột khu vực (entérite régionale). Chứng
bệnh viêm nhiễm khu trú của ruột này sau đó đã đi vào hậu thế
dưới tên bệnh Crohn (maladie de Crohn).
Nếu căn bệnh viêm ruột khu vực
này ngày nay mang tên của Crohn, chứ không phải của Oppenheimer
hay Ginzburg, Burrill Bernard Crohn có được điều này chỉ là nhờ
mẫu tự đầu tiên của họ ông. Thật vậy, trong bài báo nổi tiếng
xuất hiện trong Journal of the American Medical Association, các
tác giả đã được nêu tên theo thứ tự của bản chữ cái, điều này
giải thích tại sao bác sĩ Crohn đã cướp mất phần nào các ngôi
sao sáng của hai đồng nghiệp của mình.
Tuy vậy, việc công nhận của giới y học đối với Burrill
Bernard Crohn không phải là chuyện tình cờ chút nào. Là đứa trẻ
thần đồng, Crohn sinh ngày 13 tháng 6 năm 1884 trong một gia
đình của những người Đức gốc Do thái di cư và lớn lên cùng với
11 anh chị em. Cha ông vài năm trước đó đến cư trú ở Nữu Ước để
sinh sống bằng nghề buôn chứng khoán (boursier). Mặc dầu gia
đình Crohn sống không túng thiếu, tuy nhiên cũng không thể cho
phép một chút xa hoa thừa thải nào.
MỘT THIÊN CHỨC SỚM.
Vào năm 13 tuổi, chàng thanh niên Crohn ghi tên vào
học tại đại học Nữu Ước và ra trường với mảnh bằng trong tay lúc
chỉ mới 18 tuổi. Sau đó, ông tiếp tục theo học một cách thành
công ở Collège des médecins et chirurgiens của đại học Columbia
trước khi thi đậu kỳ thi tuyển vào Mount Sinai Hospital .Ở đây
ông trở thành phụ tá (assistant) trong phòng thí nghiệm lâm sàng
của Emmanuel Libman ( tên của ông này đã được dùng để đặt tên
cho căn bệnh nội tâm mạc Libman-Sachs). Năm 1932, cùng với Leon
Gunzburg và Gordon Oppenheimer, ông thực hiện một công trình
nghiên cứu về một căn bệnh còn tương đối ít được biết đến vào
hồi đó. Ba nhà khoa học đã tường thuật trong công trình này 14
trường hợp (một bộ phận mẫu không được nhiều, vì vậy công trình
nghiên cứu này đã gây nên một ít hoài nghi) và trước hết đã gọi
tên bệnh là viêm ruột tận cùng (entérite terminale) trước khi
đổi thành viêm ruột khu vực (entérite régionale)
MỘT ĐẦU ÓC BƯỚNG BỈNH
Khi nói đến chuyện bảo vệ quan điểm, lập trường của
mình, Crohn có thể chứng tỏ một sự bướng bỉnh cực đoan. Thầy
thuốc quang tuyến Richard Marshak đã biết được điều này qua kinh
nghiệm xương máu của mình.Trong suốt nhiều năm, Richard Marshak
đã cố gắng thuyết phục đồng nghiệp của mình rằng viêm ruột khu
vực không những chỉ gây thương tổn cho dạ dày, mà còn cả ruột
già nữa. Nhưng Crohn chỉ chịu chấp nhận điều này khi cộng đồng
khoa học nhất trí theo luận điểm này. Năm 1935, Crohn được chỉ
định làm chủ tịch của American Gastroenterological Association,
một sự thừa nhận công trình của ông bởi các đồng nghiệp.
Mặc dầu ông là một người có đầu óc
bướng bỉnh nhưng Crohn tỏ ra hết sức khiêm tốn. Ông không bao
giờ phát biểu “ bệnh Crohn ” mà luôn luôn thích dùng thuật ngữ
khoa học “ viêm ruột khu vực ” hơn. Người ta cũng nói về ông
rằng ông xuất sắc trong nghề thầy thuốc chuyên khoa dạ dày ruột,
chứ không hẳn chỉ biết đóng khung trong các nghiên cứu phòng thí
nghiệm mà thôi. Sự thành công của ông có được phần lớn là nhờ
chất lượng của các hồ sơ mà ông đã thiết lập cho các bệnh nhân
của mình.
Sau khi về hưu, ông rút lui về dinh
cơ đầy tiện nghi của mình ở Connecticut ; ở đây ông đã sống
những năm tháng cuối của cuộc đời ẩn dật của mình, xa lánh thế
giới, trước khi mất ở đó vào tháng 7 năm 1983, lúc ông được 99
tuổi. Sau khi ông mất, Rose, bà vợ thứ của ông, đã quyết định
lập nên Burrill B.Crohn Foundation.Tổ chức này đến nay vẫn hỗ
trợ cho những công trình nghiên cứu về bệnh tật ở Mount Sinai
Hospital.
Nguồn : SEMPER 4/2008
3/ COLOMB ĐÃ KHÔNG MANG BỆNH SỐT
CHẨY RẬN VÀO CHÂU MỸ
Sự phân tích chấy rận nơi các xác
ướp của người Pérou chứng tỏ rằng nguồn gốc của bệnh sốt chấy
rận (typhus) không liên kết, như người ta tưởng, với việc đến
châu Mỹ của Christophe Colomb.
Christophe Colomb hẳn đã bị buộc tội
về mọi điều xấu xa. Nhà hàng hải và các người đương thời của
ông, những người đã chinh phục Tân Thế Giới, ngoài những chuyện
khác ra, đã làm dễ sự xuất hiện của bệnh sốt chấy rận. Thật vậy,
việc đến châu Mỹ năm 1492 của họ đã cho phép sự gặp gỡ giữa vi
trùng gây bệnh sốt chấy rận, một rickettsie có nguồn gốc châu
Mỹ, và côn trùng vecteur truyền bệnh, một con rận (poux de
corps) gốc châu Âu. Nhưng ngày nay, sự phân tích ADN của các con
rận lấy từ các xác ướp người Pérou, bởi các nhà nghiên cứu người
Pháp và Mỹ, đã đặt lại vấn đề về tính đúng đắn của giả thuyết
này. Nguồn gốc châu Mỹ của rickettsie có thể chấp nhận được từ
khi nhận diện được nó (năm 2005) trong các con ve (tiques) mễ
tây cơ hiện nay. Nhưng còn về cuộc du hành xuyên Đại tây dương
của rận thì sao ? “ Thật khó mà vạch lại lộ trình bởi vì loại
rận này hiếm khi được bảo quản trong các di hài khảo cổ học ”,
một trong các tác giả của công trình nghiên cứu, Didier Raoult,
chủ nhiệm đơn vị rickettsies thuộc đại học Marseille, đã giải
thích như vậy.
Tuy nhiên
người ta có thể đi ngược dòng lịch sử của con rận này nhờ ADN
của nó. Rận
và chí (poux du corps et de la tête) là đối tượng của một phân
tích di truyền năm 2002 và 2004. “ Có ba dòng chí rận : A, B và
C, Didier Raoult nói tiếp. Các con rận (poux du corps) độc nhất
chỉ thuộc dòng A, trong khi các con chí (poux de la tête) thuộc
cả 3 dòng. Ngoài ra, trong dòng A, con rận dường như có thể đi
từ thân lên đầu, và ngược lại.
Nói một cách khác,
hãy tìm kiếm các con chí của dòng A, và bạn sẽ có các con rận.
Sự xếp loại này cho phép dựng lên một bản đồ địa lý thế giới về
con côn trùng này. Dòng A được phổ biến khắp nơi trên thế giới.
Dòng C thì chỉ là thứ yếu. Sau hết, dòng B sống chủ yếu ở châu
Mỹ. Từ đó nói rằng loại B là dòng nguyên thủy của lục địa châu
Mỹ và dòng A được mang đến bởi Christophe Colomb, thì chỉ có một
bước mà thôi.Tuy nhiên cần phải kiểm chứng điều đó. Giữa năm
1999 và 2002, một nhà khảo cổ học người Pérou đã phát hiện hai
xác ướp có niên đại 1025 sau công nguyên, trong đó các sợi tóc
được phủ bởi nhiều trăm con rận, được bảo quản nhờ khí hậu lạnh
và khô. Nhà khảo cổ này đã giao cho nhóm nghiên cứu Pháp Mỹ phân
tích. Nhóm nghiên cứu này đi đầu trong việc séquençage ADN có
của các côn trùng như thế. Sự phân tích của họ vừa chứng tỏ
rằng, các con rận này thuộc loại A , dòng mà các người Tây ban
nha đã được cho là đã mang đến 400 năm sau đó ! Trừ phi cho rằng
dòng này được mang đến bởi các Viking vào mỗi đợt tiếp xúc của
họ với Bắc Mỹ, bằng không có thể là dòng này đã đến châu Mỹ vào
đợt định cư đầu tiên của lục địa châu Mỹ qua eo Béring, cách nay
12.000 đến 15.000 năm. Như vậy phải chăng Colomb không có một
chút trách nhiệm gì trong lịch sử của bệnh sốt chấy rận.? Không
hẳn thế. Các trận dịch đầu tiên được chứng nhận ở châu Âu có từ
năm 1546. Vẫn có thể là căn bệnh được phát sinh ra ở châu Mỹ và
rằng những người Tây ban nha đã mang trở lại ở châu Âu.
Nguồn : LA RECHERCHE 4/2008
4/ UỐNG RƯỢU VANG ĐỂ TRÁNH
CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ.
Các phụ nữ uống đều đặn rượu vang ít bị nguy cơ trở thành sa sút
trí tuệ hơn so với các phụ nữ không bao giờ uống. Trái lại các
rượu mạnh làm gia tăng nguy cơ này. Đó là kết quả của một công
trình nghiên cứu Thụy Điển. Lauren Lissner (Đại học Goteborg) và
nhóm nghiên cứu đã thu thập các dữ kiện liên quan đến 1.462 phụ
nữ tuổi từ 36 đến 60 trong những năm 1968-1969. Các phụ nữ này
đã được theo dõi cho đến năm 2002. Ngay từ đầu của thời kỳ theo
dõi và 3 lần trong lúc thực hiện công trình nghiên cứu, các phụ
nữ này đã được hỏi về việc uống rượu của họ. 164 phụ nữ tham dự
đã được chẩn đoán sa sút trí tuệ trong thời kỳ nghiên cứu. Các
tác giả đã có thể chứng nhận rằng nguy cơ bị sa sút trí tuệ là
40% thấp hơn nơi các phụ nữ đã uống rượu vang ; nguy cơ này ngay
cả 70% thấp hơn nơi các phụ nữ chỉ uống rượu vang và không uống
những đồ rượu khác. Tác dụng bảo vệ lại còn rõ rệt hơn nơi những
người hút thuốc. Trái lại, các rượu mạnh làm gia tăng nguy cơ bị
sa sút trí tuệ 50% .Vì lẽ chỉ có rượu vang, chứ không phải các
đồ uống có chất rượu khác, dường như bảo vệ chống lại chứng sa
sút trí tuệ, nên các tác giả kết luận rằng hiệu quả bảo vệ không
được quy cho rượu mà cho các thành phần khác của rượu vang.
Nguồn :
LE JOURNAL DU MEDECIN 11/4/2008
5/ UNG THƯ GAN VÀ LIỆU PHÁP TIA
X PHỐI HỢP VỚI HÓA HỌC TRỊ LIỆU. MỘT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA
TRUNG QUỐC.
Việc cắt bỏ mô ung thư bằng tần số
phóng xạ nhiệt (radiofréquence thermale), kết hợp với hóa học
trị liệu, cho phép giành được 50% sự sống.
Phối hợp vài hóa học trị liệu với một điều
trị bằng tần số phóng xạ nhiệt đã cho phép kéo dài rõ rệt tỷ lệ
sinh tồn của các bệnh nhân bị một ung thư gan tiến triển không
thể phẫu thuật được, theo một công trình nghiên cứu của Journal
of the American Medical Association.
Người ta có thể làm chậm sự tiến triển của ung thư bằng
cách kết hợp những tác dụng của một hóa học trị liệu được gọi là
“ Tac ” (phong bế tiếp vận máu đến khối u), và một sự cắt bỏ
các mô ung thư bằng tần số phóng xạ nhiệt (RFA : ablation
par radiofréquence thermique), một kỹ thuật mới nảy sinh. Sự cắt
bỏ bằng tần số phóng xạ là một điều trị tại chỗ, không phải
ngoại khoa, nhằm hủy diệt các tế bào ung thư bằng nhiệt đồng
thời tránh mổ gan lành mạnh. Thầy thuốc quang tuyến hướng một
mũi kim bé nhỏ xuyên qua da vào trong khối u . Mô ung thư chết
teo rút lại và từ từ tạo nên một vết sẹo.
Tỷ lệ mắc phải ung thư gan gia tăng
trên thế giới và hầu hết các khối u được phát hiện ở một giai
đoạn trung gian hay tiến triển.
Mãi đến ngày nay không có một điều trị được xác lập
nào đối với ung thư gan.Một nhóm nghiên cứu các thầy thuốc được
lãnh đạo bởi bs Bao Quan Cheng thuộc đại học Shandong ở Jinan,
Trung Quốc, đã tiến hành một thử nghiệm lâm sàng để đánh giá
những lợi ích của phép trị liệu phối hợp này (Tace và RFA) trên
các bệnh nhân bị một ung thư quan trọng của gan, kích thước trên
3 cm. Các bệnh nhân được chia thành ba nhóm. Nhóm đầu tiên được
điều trị bằng sự kết hợp của 2 liệu pháp ( Tace-RFA), nhóm thứ
hai với Tace và nhóm thứ ba với RFA.
Vào cuối thời kỳ theo dõi, thời gian sống sót trung
bình trong nhóm Tace-RFA là dài nhất với 37 tháng, so với 24
tháng đối với những bệnh nhân được điều trị với Tace mà thôi và
22 tháng đối với những bệnh nhân được điều trị chỉ với RFA, hoặc
50% lâu hơn. “ Thử nghiệm lâm sàng này chứng tỏ rằng phép điều
trị phối hợp Tace-RFA là một điều trị hiệu quả và không có nguy
cơ, có thể cải thiện tỷ lệ sống sót của những bệnh nhân bị một
ung thư gan tiến triển với kích thước khối u hơn 3 cm ”, các tác
giả đã nhấn mạnh như thế.
Nguồn
: LE SOIR 10/4/2008
6/ BỆNH LOÉT BURULI : NHỮNG CON
ĐƯỜNG BÍ HIỂM CỦA MỘT CĂN BỆNH NHIỆT ĐỚI SAU CÙNG ĐÃ ĐƯỢC KHÁM
PHÁ.
Bệnh loét Buruli từ lâu vẫn là một
bí ẩn . Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra rằng vi khuẩn gây ra
bệnh này được truyền vào người bởi một côn trùng.
Bí ẩn 60 năm về bệnh loét Buruli
vừa được giải quyết. Năm 1948, một nhóm nghiên cứu người Úc, đã
mô tả lần đầu tiện bệnh loét này nơi những bệnh nhân sống gần
Melbourne. Những nhà nghiên cứu này là những người đầu tiên đã
phân lập được vi khuẩn gây bệnh, Mycobacterium ulcerans, phát
xuất cùng họ với các vi khuẩn gây bệnh lao và hủi.
Từ đó, chẳng có ai đã thành công
nhận diện nguồn gốc và các đường truyền bệnh của tác nhân gây
bệnh này.Từ nay, đó là điều đã được giải quyết với sự công bố
hôm thứ tư 26/3, trên site của tờ tạp chí PloS Neglected
Tropical Diseases, một công trình được tiến hành bởi một nhóm 17
nhà nghiên cứu Bỉ ,Bồ Đào Nha, Hoa Kỳ và Ghana.
Trong những năm 1960, nhiều trường hợp tương tự với
các trường hợp được mô tả ở Úc đã được ghi nhận ở Ouganda, trong
quận Buruli, từ đó có tên là bệnh loét Buruli. Đây là một bệnh
nhiễm trùng được đặc trưng bởi một sự hủy hoại lan rộng của da
và các phần mềm, kèm theo sự tạo thành các vết loét có những
kích thước lớn, nói chung định vị ở cẳng chân hoặc cánh tay.
Sự phá hủy mô được gây nên bởi một
độc tố được sản xuất bởi mycobacterium ulcerans. Nếu không được
điều trị sớm bằng các kháng sinh thích ứng, bệnh sẽ gây nên
những bất túc chức năng lâu dài cũng như những khuyết tật về
thẩm mỹ.
Bệnh loét Buruli chủ yếu gây bệnh
cho dân sống ở vùng nông thôn trong khoảng 30 nước nhiệt đới và
á nhiệt đới. Bệnh nhiễm trùng này, không được đánh giá đúng bởi
công chúng, từ 30 năm nay hoành hành một cách gia tăng ở Tây
Phi, khiến OMS vào năm 1998 đã khởi động một chương trình theo
dõi và chống lại bệnh này.
MÔI TRƯỜNG NƯỚC.
Nhiều yếu tố dịch tễ học khiến nghĩ rằng Mycobacterium
ulcerans hiện diện trong một vài môi trường nước. Ví dụ người ta
quan sát thấy rằng bệnh loét Buruli hiện diện gần các mặt nước,
các con sông có lưu lượng nước chảy chậm, các ao, đầm và hồ.
Nhưng cách truyền bệnh của nó cho người vẫn còn bí ẩn. Công
trình nghiên cứu được điều phối bởi Françoise Portaels (Viện y
học nhiệt đới Anvers, Bỉ) cho phép vén lên bức màn bí mật. “ Từ
một điều tra được tiến hành ở Bénin, lần đầu tiên, các tác giả
đã thành công phân lập được một giống gốc của vi khuẩn gây bệnh
nơi một côn trùng sống dưới nước. Đó là water strider, côn trùng
chích người một cách hung hãn.”
Vậy khác với bệnh hủi hoặc lao, bệnh nhiễm vi khuẩn
này không được lây truyền do tiếp xúc giữa người với người, mà
theo mô hình của một bệnh ký sinh trùng như bệnh sốt rét, hoặc
bệnh do virus như West Nile. Khám phá này hẳn phải cho phép
trang bị những phương tiện hiệu quả hơn chống lại bệnh này.
Nguồn : LE MONDE 27/3/2008
7/ CÁC TAI ƯƠNG MỚI CỦA THẾ KỶ
XXI.
HIV, SARS, Chikungunya, Ebola, các
vi khuẩn đề kháng thuốc... danh sách của các bệnh nhiễm trùng
mới hẳn phải được kéo dài ra trong những năm đến nếu như không
thực hiện các biện pháp nhanh chóng. Một công trình nghiên cứu,
được công bố trong tạp chí Nature số 21 tháng 2, đã kiểm điểm
các trận dịch bùng nổ từ năm 1940 đến 2004, liên quan đến một
loài mới ( hay một biến dị mới) của tác nhân gây bệnh ( từ virus
cho đến một ký sinh trùng). Một nhóm nghiên cứu Anh Mỹ đã phân
tích 335 bệnh nhiễm trùng, đặt chúng trong mối tương quan với
các dữ kiện nhân khẩu học, xã hội kinh tế hay sinh thái. Kết
luận : những bệnh này có nguồn gốc chính là sự lây truyền từ
động vật qua người, được gọi là bệnh thú truyền (zoonose). Các
nhà nghiên cứu cũng đã lập bản đồ các ổ nguy cơ ( foyers à
risque) chủ yếu. Đó là những vùng quy tụ những mật độ rất cao
của dân số động vật và người. Nhưng các nước phía Bắc cũng không
tránh khỏi các bệnh thú truyền này, công trình nghiên cứu đã xác
nhận như thế. Thật vậy, GS Arnaud Fontanet , thuộc phòng dịch tễ
học của các bệnh mới phát sinh, Viện Pasteur, đã nhấn mạnh «
việc quá tiêu thụ thuốc đã dẫn đến trong các nước phát triển một
sự đề kháng vi khuẩn, nguồn gốc của những bệnh mới ».
Để hãm lại sự xuất hiện của các bệnh mới này,
các tác giả chủ trương giới hạn những tiếp xúc giữa các động vật
hoang dã và người, làm giảm nguy cơ truyền bệnh giữa các động
vật nuôi trong nhà và người bằng cách điều tiết sự chăn nuôi và
làm gia tăng tính đa dạng sinh vật (biodiversité). Ngoài ra,
việc tài trợ cho một chương trình theo dõi các ổ nguy cơ là cần
thiết.Theo Peter Daszak, giám đốc của Consortium for
Conservation Medicine, “ nếu chúng ta tiếp tục khộng cần biết
đến tầm quan trọng của sự phòng ngừa này, chúng ta sẽ chịu những
nguy cơ đại dịch quan trọng ”
Nguồn :
SCIENCES ET AVENIR 4/2008
8/ UNG THƯ VÚ: CHO BÚ CÓ LỢI,
UỐNG RƯỢU CÓ HẠI
Ung thư vú là ung
thư thông thường nhất của phụ nữ.Trên thế giới mỗi năm có 1
triệu trường hợp mới, trong đó ở Pháp có 42.000 trường hợp.
Ung thư vú cũng đang gia tăng khắp
nơi trên thế giới, ngay cả trong những nước châu Á và châu Phi,
là nơi cho đến nay ít bị ảnh hưởng hơn. Cần ghi nhận rằng ở
Pháp, lần đầu tiên, tỷ lệ mắc phải ung thư này nơi các phụ nữ
trên 50 tuổi đang hạ xuống. Sự phân bố không đồng đều về mặt địa
dư (một ung thư cho 12 phụ nữ ở châu Âu, và một cho 80 ở Nhật
bản) khiến rất làm nghi ngờ một vai trò bảo vệ khả dĩ của chè
xanh và/hoặc đậu nành. Dầu sao, báo cáo vừa qua của WCRF đã nhấn
mạnh 2 thông điệp quan trọng : thông điệp đầu tiên, đó là lợi
ích của sự cho con bú kéo dài, và điều này dầu cho lúc phát
triển ung thư là lúc nào, trước hoặc sau thời kỳ mãn kinh.Thông
điệp thứ hai xác nhận ảnh hưởng có hại của rượu, đã được nghi
ngờ từ nhiều năm nay. Một tháng sau báo cáo của WCRF, một báo
cáo khác của Pháp, từ Viện ung thư quốc gia, đã định số cho mối
nguy cơ này. Nguy cơ mắc phải ung thư vú gia tăng 10% nếu mức độ
tiêu thụ trung bình rượu mỗi ngày tăng 10g hoặc 1 ly.
9/ CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU
CHÂU ÂU TỐ CÁO TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHẤT HÓA HỌC LÊN UNG THƯ VÚ.
Để làm giảm số các trường hợp ung thư vú, cần phải
giảm sự tiếp xúc với các chất hoá học, các nhà nghiên cứu châu
Âu đã đánh giá như vậy trong một lời kêu gọi hôm 2/4 Nghị viện
châu Ấu ở Bruxelles, theo sáng kiến của Liên minh vì sức khỏe và
môi trường (HEAL). Lời kêu gọi dựa
trên một báo cáo của giáo sư Andreas Kortenkamp, trưởng khoa độc
chất học của đại học Londres, được công bố trong dịp này.
Tài liệu này nhấn mạnh rằng các
trường hợp ung thư vú mới đều gia tăng trong gần như toàn bộ các
nước phương tây và rằng ở Châu Âu, cứ mười phụ nữ thì có một phụ
nữ phát triển một ung thư vú..
Các yếu
tố môi trường là những yếu tố chính chịu trách nhiệm về sự phát
sinh ung thư vú ; yếu tố di truyền có một góp phần được ước tính
là 27% các trường hợp. Các oestrogènes đóng một vai trò quyết
định trong sự xuất hiện ung thư vú, một hiện tượng được minh họa
bởi sự giảm tỷ lệ mắc phải ung thư vú khi số điều trị chứng mãn
kinh bằng hormone thay thế giảm xuống.
Tuy nhiên, Andreas Kortenkamp nhắc
lại mối lo ngại đối với các chất hoá học có tác dụng của hormone
« hiện diện trong thực phẩm, các sản phẩm vệ sinh hoặc trong các
chất làm ô nhiễm môi trường »
Trong số các chất này là những thuốc trừ sâu
organochloré như DDT, PCB (polychlorobiphényles), các
polychlorodibenzodioxines, các tác nhân lọc chống tia tử ngoại
của kem chống nắng, các chất bảo quản và các chất chống oxy hóa
như các parabens… « Hầu hết các chất này có tác dụng như hormone
sinh dục nữ oestradiol ».
Các công trình nghiên cứu được thực
hiện về mối liên hệ giữa các chất hóa học này và ung thư vú đã
không được xác chứng, nhưng số các nghiên cứu không được nhiều.
Hai vấn đề phải được bàn đến : vấn đề tiếp xúc tích lũy với các
chất có tác dụng giống với các oestrogènes và sự tiếp xúc xảy ra
trong những thời kỳ quyết định như tuổi dậy thì và giai đoạn
trong tử cung.
Về thời kỳ dậy thì, một công trình nghiên cứu của Hoa
Kỳ mới đây về sợi dây liên hệ giữa ung thư vú và DDT, đã minh
họa « tầm quan trọng của việc tiếp xúc với các chất hóa học
trước và trong thời kỳ dậy thì ».
Tổng giám
đốc của Liên minh vì sức khỏe và môi trường, Bà Génon Jensen yêu
cầu các nghị viên châu Âu làm giảm sự tiếp xúc với các chất hoá
học, bằng cải cách các thuốc trừ sâu và chỉ thị về các mỹ phẩm,
hiện đang được nghiên cứu.
Nguồn : LE MONDE 3/4/2008
10/ CỔ TỬ CUNG DÀI VÀ
NGUY CƠ BỊ MỔ CÉSARIENNE LÚC CHUYỂN DẠ.
Các công trình nghiên cứu gợi ý rằng việc sinh đủ
tháng bình thường tùy thuộc vào sự chương trình hóa của sự phát
triển tử cung vào đầu thai kỳ. Người ta biết rằng một cổ tử cung
ngắn vào giữa thai kỳ được liên kết với một gia tăng sinh non tự
phát. Một công trình nghiên cứu của Anh đã đưa ra giả thuyết
rằng một cái cổ tử cung dài vào giữa thai kỳ có thể được liên
kết với một nguy cơ gia tăng sinh đủ tháng bằng césarienne trong
lúc chuyển dạ.
Đó là lý do tại sao, Gordon Smith và các cộng sự
viên đã nghiên cứu 27.472 phụ nữ, con so, vào giữa thai kỳ (
khoảng 23 tuần) có chiều dài của cổ tử cung trên 16 mm và những
phụ nữ này cuối cùng đã sinh đủ tháng.
Các kết quả chứng tỏ rằng tỷ lệ mổ
césarienne đủ tháng là thấp nhất (16%) nơi các phụ nữ có chiều
dài cổ tử cung vào giữa thai kỳ từ 16 đến 30mm.Tỷ lệ này cao hơn
đáng kể (18,4%) nơi các phụ nữ có chiều dài cổ tử cung từ 31 đến
35 mm. Đối với các phụ nữ có chiều dài
cổ tử cung ở giữa thai kỳ từ 36 đến 39 mm, tỷ lệ này là 21,7%.
Tỷ lệ này lên 25 ,7% khi chiều dài cổ tử cung từ 40 đến 67 mm.
Như vậy, theo các tác giả, nơi các phụ nữ con so sinh
đủ tháng, chiều dài của cổ tử cung vào giữa thời kỳ thai nghén
là một yếu tố tiên đoán độc lập của nguy cơ bị mổ césarienne
Nguồn : LE JOURNAL
DU MEDECIN 11/4/2008
BS
NGUYỄN VĂN THỊNH
( 18/4/2008 )
Trở về Trang Chính
|