Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

E-Mail: bsnguyenvanthinh@khoahoc.net

24 tháng 04 năm 2008

1/ UNG THƯ PHỔI LIÊN KẾT VỚI CÁC YẾU TỐ DI TRUYỀN

         Một vài người hút thuốc lá có nguy cơ bị ung thư phổi hơn là do profil génétique của họ, theo các kết quả của nhiều công trình nghiên cứu được công bố trong Nature. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử y học một sự biến dị di truyền (variation génétique) liên kết với nguy cơ bị ung thư phổi.

        Một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế từ 19 nước vừa chứng minh lần đầu tiên trên thế giới rằng có một tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) cho sự phát sinh ung thư phổi. 3 nhóm nghiên cứu quốc tế khác nhau, trong đó có những nhà nghiên cứu Pháp, đã công bố các công trình phù hợp với nhau trong ấn bản 3/4 của các tạp chí khoa học Nature và Nature Genetics.Tất cả 3 nhóm đều định vị biến dị di truyền có liên quan trong sự phát sinh ung thư phổi, trong một vùng của nhiễm sắc thể 15, là nơi định vị của các gènes mã hóa cho các thụ thể nicotine.
         Cần nhắc lại rằng ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong do ung thư thường xảy ra nhất trên thế giới với 1 triệu các trường hợp mới được chẩn đoán mỗi năm (hơn 25.000 trường hợp ung thư mới xảy ra hàng năm ở Pháp). Chúng ta đã biết rõ rằng khói thuốc lá là thủ phạm chủ yếu của hơn 80% các ung thư phổi và việc ngừng hút thuốc vẫn là phương cách đơn giản nhất để bảo vệ lấy mình. Ung thư phổi là một căn bệnh đặc biệt giết người với 18.000 tử vong mỗi năm và chỉ 15% các bệnh nhân còn sống sau 5 năm, bởi vì bệnh ung thư này thường được chẩn đoán quá chậm trễ và đề kháng nhất với điều trị. Nhưng sự việc chỉ rõ một tố bẩm di truyền trong sự phát sinh bệnh ung thư phổi cho thấy rằng chúng ta không bình đẳng trước nguy cơ này, mặc dầu thế chúng ta không nên nới lỏng các biện pháp phòng ngừa đối với thuốc lá.

          Để có được một kết quả như thế (tương tự với các kết quả của những nhóm nghiên cứu khác), các nhà nghiên cứu  ( Fondation Jean Dausset, Cơ quan quốc tế về ung thư ở Lyon…) đã phân tích gần 300.000 biến dị di truyền được phân phối trên toàn bộ các nhiễm sắt thể của hơn 10.000 người gốc châu Âu, mà một nửa bị ung thư phế quản (cancer bronchique). Cuối cùng họ đã nhận diện một vùng có kích thước nhỏ trên nhiễm sắc thế 15, là nơi xảy ra những biến dị di truyền (variations génétiques) tái diễn liên kết với ung thư này.

         Những người mang những biến dị di truyền này trên một bản sao nhiễm sắc thể 15 có nguy cơ mắc phải ung thư phổi  2 lần cao hơn, so với những người không có những biến dị này.“ Trên thực tiễn, trong khi nguy cơ bị một ung thư ác tính ở phổi, đối với một người hút thuốc thâm niên là 16%, tỷ lệ này sẽ tăng lên 23% nếu anh ta mang các biến dị di truyền trên cả 2 bản sao nhiễm sắc thế 15, điều này không phải là ít ỏi ”, Giáo sư Dominique Maraninchi, chủ tịch của Viện quốc gia ung thư (Inca) đã tóm tắt như vậy. “ Đối với một người hút thuốc bây giờ bỏ không hút nữa, trong khi nguy cơ mắc phải một ung thư phổi vẫn còn là 8%, thì nguy cơ này sẽ tăng lên 15% nếu anh ta có những biến dị này trên hai bản sao nhiễm sắc thể 15. Vậy chỉ với sự hiện diện cua biến dị này không thôi cũng đủ làm gia tăng nguy cơ bị ung thư phổi, đó là điều không thể chối cãi được ”. Đối với những người không hút thuốc sự việc ít rõ ràng hơn.

PHÁT TRIỂN VÀ CẢI THIỆN ĐIỀU TRỊ.

           Các gènes nằm trong vùng có liên quan với sự phát sinh ung thư phổi của nhiễm sắc thể 15 cũng mã hóa cho các thụ thể nicotine (récepteurs nicotiniques) của acétylcholine. Mà các thụ thể này cũng đóng một vai trò chủ yếu trong chứng nghiện thuốc lá và hiện diện trong biểu mô của các phế quản. Các kết quả của những nhà nghiên cứu chứng tỏ rằng ngoài vai trò của chúng trong chứng nghiện thuốc lá, các  thụ thể này cũng can thiệp trong sự phát sinh ung thư phổi. Nhưng có chăng một mối liên hệ giữa sự hiện diện của các thụ thể như thế với chứng nghiện thuốc lá ? Hiện nay không thể nói được bởi vì có hàng chục, thậm chí hàng trăm những thụ thể nicotine.

         Đối với Paul Brennan, thuộc Cơ quan quốc tế về ung thư ở Lyon, một điều chắc chắn là “ những kết quả này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ những cơ chế có liên hệ trong sự phát triển bệnh và có thể mở ra những đường hướng mới để phát triển và cải thiện các điều trị .Thí dụ bằng cách phong bế vài trong số các thụ thể nicotine ”.

         Đồng thời, các nhà nghiên cứu vẫn có thái độ thực tiễn. “ Phải nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ngưng hút thuốc lá. Bởi vì ngay cả những người hút thuốc không mang các biến dị di truyền này đi nữa, vẫn có một nguy cơ quan trọng phát triển một ung thư phổi hoặc một bệnh có liên quan với thuốc lá.
           Công trình nghiên cứu này chứng tỏ rằng chúng ta không được bình đẳng trước các mối nguy cơ bị ung thư. “ Nhưng về ung thư phổi, thuốc lá đóng một vai trò chủ yếu trong khi yếu tố di truyền can thiệp một cách thứ yếu mà thôi ” , G.S Maraninchi đã kết luận rõ ràng như vậy .
                        Nguồn :  LE FIGARO 4/4/2008


2/ BẢN CHỮ CÁI ĐÃ CỨU BÁC SĨ CROHN.

           Năm 1932, Journal of the Americal Association đã công bố một bài viết ký tên bởi Burril Bernard Crohn, Gordon Oppenheimer và Leon Ginzburg trong đó 3 nhà bác học đã mô tả lần đầu tiên các triệu chứng của bệnh viêm ruột khu vực (entérite régionale). Chứng bệnh viêm nhiễm khu trú của ruột này sau đó đã đi vào hậu thế dưới tên bệnh Crohn (maladie de Crohn).

            Nếu căn bệnh viêm ruột khu vực này ngày nay mang tên của Crohn, chứ không phải của Oppenheimer hay Ginzburg, Burrill Bernard Crohn có được điều này chỉ là nhờ mẫu tự đầu tiên của họ ông. Thật vậy, trong bài báo nổi tiếng xuất hiện trong Journal of the American Medical Association, các tác giả đã được nêu tên theo thứ tự của bản chữ cái, điều này giải thích tại sao bác sĩ Crohn đã cướp mất phần nào các ngôi sao sáng của hai đồng nghiệp của mình.
          Tuy vậy, việc công nhận của giới y học đối với Burrill Bernard Crohn không phải là chuyện tình cờ chút nào. Là đứa trẻ thần đồng, Crohn sinh ngày 13 tháng 6 năm 1884 trong một gia đình của những người Đức gốc Do thái di cư và lớn lên cùng với 11 anh chị em. Cha ông vài năm trước đó đến cư trú ở Nữu Ước để sinh sống bằng nghề buôn chứng khoán (boursier). Mặc dầu gia đình Crohn sống không túng thiếu, tuy nhiên cũng không thể cho phép một chút xa hoa thừa thải nào.

MỘT THIÊN CHỨC SỚM.
          Vào năm 13 tuổi, chàng thanh niên Crohn ghi tên vào học tại đại học Nữu Ước và ra trường với mảnh bằng trong tay lúc chỉ mới 18 tuổi. Sau đó, ông tiếp tục theo học một cách thành công ở Collège des médecins et chirurgiens của đại học Columbia trước khi thi đậu kỳ thi tuyển vào Mount Sinai Hospital .Ở đây ông trở thành phụ tá (assistant) trong phòng thí nghiệm lâm sàng của Emmanuel Libman ( tên của ông này đã được dùng để đặt tên cho căn bệnh nội tâm mạc Libman-Sachs). Năm 1932, cùng với Leon Gunzburg và Gordon Oppenheimer, ông thực hiện một công trình nghiên cứu về một căn bệnh còn tương đối ít được biết đến vào hồi đó. Ba nhà khoa học đã tường thuật trong công trình này 14 trường hợp (một bộ phận mẫu không được nhiều, vì vậy công trình nghiên cứu  này đã gây nên một ít hoài nghi) và trước hết đã gọi tên bệnh là viêm ruột tận cùng (entérite terminale) trước khi đổi thành viêm ruột khu vực (entérite régionale)

MỘT ĐẦU ÓC BƯỚNG BỈNH
          Khi nói đến chuyện bảo vệ quan điểm, lập trường của mình, Crohn có thể chứng tỏ một sự bướng bỉnh cực đoan. Thầy thuốc quang tuyến Richard Marshak đã biết được điều này qua kinh nghiệm xương máu của mình.Trong suốt nhiều năm, Richard Marshak đã cố gắng thuyết phục đồng nghiệp của mình rằng viêm ruột khu vực không những chỉ gây thương tổn cho dạ dày, mà còn cả ruột già nữa. Nhưng Crohn chỉ chịu chấp nhận điều này khi cộng đồng khoa học nhất trí theo luận điểm này. Năm 1935, Crohn được chỉ định làm chủ tịch của American Gastroenterological Association, một sự thừa nhận công trình của ông bởi các đồng nghiệp.

           Mặc dầu ông là một người có đầu óc bướng bỉnh nhưng Crohn tỏ ra hết sức khiêm tốn. Ông không bao giờ phát biểu “ bệnh Crohn ” mà luôn luôn thích dùng thuật ngữ khoa học “ viêm ruột khu vực ” hơn. Người ta cũng nói về ông rằng ông xuất sắc trong nghề thầy thuốc chuyên khoa dạ dày ruột, chứ không hẳn chỉ biết đóng khung trong các nghiên cứu phòng thí nghiệm mà thôi. Sự thành công của ông có được phần lớn là nhờ chất lượng của các hồ sơ mà ông đã thiết lập cho các bệnh nhân của mình.

          Sau khi về hưu, ông rút lui về dinh cơ đầy tiện nghi của mình ở Connecticut ; ở đây ông đã sống những năm tháng cuối của cuộc đời ẩn dật của mình, xa lánh thế giới, trước khi mất ở đó vào tháng 7 năm 1983, lúc ông được 99 tuổi. Sau khi ông mất, Rose, bà vợ thứ của ông, đã quyết định lập nên Burrill B.Crohn Foundation.Tổ chức này đến nay vẫn hỗ trợ cho những công trình nghiên cứu về bệnh tật ở Mount Sinai Hospital.
                                       Nguồn : SEMPER 4/2008


3/ COLOMB ĐÃ KHÔNG MANG BỆNH SỐT CHẨY RẬN VÀO CHÂU MỸ   

          Sự phân tích chấy rận nơi các xác ướp của người Pérou chứng tỏ rằng nguồn gốc của bệnh sốt chấy rận (typhus) không liên kết, như người ta tưởng, với việc đến châu Mỹ của Christophe Colomb.

        Christophe Colomb hẳn đã bị buộc tội về mọi điều xấu xa. Nhà hàng hải và các người đương thời của ông, những người đã chinh phục Tân Thế Giới, ngoài những chuyện khác ra, đã làm dễ sự xuất hiện của bệnh sốt chấy rận. Thật vậy, việc đến châu Mỹ năm 1492 của họ đã cho phép sự gặp gỡ giữa vi trùng gây bệnh sốt chấy rận, một rickettsie có nguồn gốc châu Mỹ, và côn trùng vecteur truyền bệnh, một con rận (poux de corps) gốc châu Âu. Nhưng ngày nay, sự phân tích ADN của các con rận lấy từ các xác ướp người Pérou, bởi các nhà nghiên cứu người Pháp và Mỹ, đã đặt lại vấn đề về tính đúng đắn của giả thuyết này. Nguồn gốc châu Mỹ của rickettsie có thể chấp nhận được từ khi nhận diện được nó (năm 2005) trong các con ve (tiques) mễ tây cơ hiện nay. Nhưng còn về cuộc du hành xuyên Đại tây dương của rận thì sao ? “ Thật khó mà vạch lại lộ trình bởi vì loại rận này hiếm khi được bảo quản trong các di hài khảo cổ học ”, một trong các tác giả của công trình nghiên cứu, Didier Raoult, chủ nhiệm đơn vị rickettsies thuộc đại học Marseille, đã giải thích như vậy.

          Tuy nhiên người ta có thể đi ngược dòng lịch sử của con rận này nhờ ADN của nó. Rận và chí (poux du corps et de la tête) là đối tượng của một phân tích di truyền năm 2002 và 2004. “ Có ba dòng chí rận : A, B và C, Didier  Raoult nói tiếp. Các con rận (poux du corps) độc nhất chỉ thuộc dòng A, trong khi các con chí (poux de la tête) thuộc cả 3 dòng. Ngoài ra, trong dòng A, con rận dường như có thể đi từ thân lên đầu, và ngược lại. Nói một cách khác, hãy tìm kiếm các con chí của dòng A, và bạn sẽ có các con rận. Sự xếp loại này cho phép dựng lên một bản đồ địa lý thế giới về con côn trùng này. Dòng A được phổ biến khắp nơi trên thế giới. Dòng C thì chỉ là thứ yếu. Sau hết, dòng B sống chủ yếu ở châu Mỹ. Từ đó nói rằng loại B là dòng nguyên thủy của lục địa châu Mỹ và dòng A được mang đến bởi Christophe Colomb, thì chỉ có một bước mà thôi.Tuy nhiên cần phải kiểm chứng điều đó. Giữa năm 1999 và 2002, một nhà khảo cổ học người Pérou đã phát hiện hai xác ướp có niên đại 1025 sau công nguyên, trong đó các sợi tóc được phủ bởi nhiều trăm con rận, được bảo quản nhờ khí hậu lạnh và khô. Nhà khảo cổ này đã giao cho nhóm nghiên cứu Pháp Mỹ phân tích. Nhóm nghiên cứu này đi đầu trong việc séquençage ADN có của các côn trùng như thế. Sự phân tích của họ vừa chứng tỏ rằng, các con rận này thuộc loại A , dòng mà các người Tây ban nha đã được cho là đã mang đến 400 năm sau đó ! Trừ phi cho rằng dòng này được mang đến bởi các Viking vào mỗi đợt tiếp xúc của họ với Bắc Mỹ, bằng không có thể là dòng này đã đến châu Mỹ vào đợt định cư đầu tiên của lục địa châu Mỹ qua eo Béring, cách nay 12.000 đến 15.000 năm. Như vậy phải chăng Colomb không có một chút trách nhiệm gì trong lịch sử của bệnh sốt chấy rận.? Không hẳn thế. Các trận dịch đầu tiên được chứng nhận ở châu Âu có từ năm 1546. Vẫn có thể là căn bệnh được phát sinh ra ở châu Mỹ và rằng những người Tây ban nha đã mang trở lại ở châu Âu.
                                 Nguồn : LA RECHERCHE 4/2008


4/ UỐNG RƯỢU VANG ĐỂ TRÁNH CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ.

         Các phụ nữ uống đều đặn rượu vang ít bị nguy cơ trở thành sa sút trí tuệ hơn so với các phụ nữ không bao giờ uống. Trái lại các rượu mạnh làm gia tăng nguy cơ này. Đó là kết quả của một công trình nghiên cứu Thụy Điển. Lauren Lissner (Đại học Goteborg) và nhóm nghiên cứu đã thu thập các dữ kiện liên quan đến 1.462 phụ nữ tuổi từ 36 đến 60 trong những năm 1968-1969. Các phụ nữ này đã được theo dõi cho đến năm 2002. Ngay từ đầu của thời kỳ theo dõi và 3 lần trong lúc thực hiện công trình nghiên cứu, các phụ nữ này đã được hỏi về việc uống rượu của họ. 164 phụ nữ tham dự đã được chẩn đoán sa sút trí tuệ trong thời kỳ nghiên cứu. Các tác giả đã có thể chứng nhận rằng nguy cơ bị sa sút trí tuệ là 40% thấp hơn nơi các phụ nữ đã uống rượu vang ; nguy cơ này ngay cả 70% thấp hơn nơi các phụ nữ chỉ uống rượu vang và không uống những đồ rượu khác. Tác dụng bảo vệ lại còn rõ rệt hơn nơi những người hút thuốc. Trái lại, các rượu mạnh làm gia tăng nguy cơ bị sa sút trí tuệ 50% .Vì lẽ chỉ có rượu vang, chứ không phải các đồ uống có chất rượu khác, dường như bảo vệ chống lại chứng sa sút trí tuệ, nên các tác giả kết luận rằng hiệu quả bảo vệ không được quy cho rượu mà cho các thành phần khác của rượu vang.

                  Nguồn : LE JOURNAL DU MEDECIN 11/4/2008



5/ UNG THƯ GAN VÀ LIỆU PHÁP TIA X PHỐI HỢP VỚI HÓA HỌC TRỊ LIỆU. MỘT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TRUNG QUỐC.    

           Việc cắt bỏ mô ung thư bằng tần số phóng xạ nhiệt (radiofréquence thermale), kết hợp với hóa học trị liệu, cho phép giành được 50% sự sống.

Phối hợp vài hóa học trị liệu với một điều trị bằng tần số phóng xạ nhiệt đã cho phép kéo dài rõ rệt tỷ lệ sinh tồn của các bệnh nhân bị một ung thư gan tiến triển không thể phẫu thuật được, theo một công trình nghiên cứu của Journal of the American Medical Association.
         Người ta có thể làm chậm sự tiến triển của ung thư bằng cách kết hợp những tác dụng của một hóa học trị liệu được gọi là “ Tac ”  (phong bế tiếp vận máu đến khối u), và một sự cắt bỏ các mô ung thư bằng tần số phóng xạ nhiệt     (RFA : ablation par radiofréquence thermique), một kỹ thuật mới nảy sinh. Sự cắt bỏ bằng tần số phóng xạ là một điều trị tại chỗ, không phải ngoại khoa, nhằm hủy diệt các tế bào ung thư bằng nhiệt đồng thời tránh mổ gan lành mạnh. Thầy thuốc quang tuyến hướng một mũi kim bé nhỏ xuyên qua da vào trong  khối u . Mô ung thư chết teo rút lại và từ từ tạo nên một vết sẹo.

         Tỷ lệ mắc phải ung thư gan gia tăng trên thế giới và hầu hết các khối u được phát hiện ở một giai đoạn trung gian hay tiến triển.
            Mãi đến ngày nay không có một điều trị được xác lập nào đối với ung thư gan.Một nhóm nghiên cứu các thầy thuốc được lãnh đạo bởi bs Bao Quan Cheng  thuộc đại học Shandong ở Jinan, Trung Quốc, đã tiến hành một thử nghiệm lâm sàng để đánh giá những lợi ích của phép trị liệu phối hợp này (Tace và RFA) trên các bệnh nhân bị một ung thư quan trọng của gan, kích thước trên 3 cm. Các bệnh nhân được chia thành ba nhóm. Nhóm đầu tiên được điều trị bằng sự kết hợp của 2 liệu pháp ( Tace-RFA), nhóm thứ hai với Tace và nhóm thứ ba với RFA.
           Vào cuối thời kỳ theo dõi, thời gian sống sót trung bình trong nhóm Tace-RFA là dài nhất với 37 tháng, so với 24 tháng đối với những bệnh nhân được điều trị với Tace mà thôi và 22 tháng đối với những bệnh nhân được điều trị chỉ với RFA, hoặc 50% lâu hơn. “ Thử nghiệm lâm sàng này chứng tỏ rằng phép điều trị phối hợp Tace-RFA là một điều trị hiệu quả và không có nguy cơ, có thể cải thiện tỷ lệ sống sót của những bệnh nhân bị một ung thư gan tiến triển với kích thước khối u hơn 3 cm ”, các tác giả đã nhấn mạnh như thế.  
                                Nguồn : LE SOIR 10/4/2008


6/ BỆNH LOÉT BURULI : NHỮNG CON ĐƯỜNG BÍ HIỂM CỦA MỘT CĂN BỆNH NHIỆT ĐỚI SAU CÙNG ĐÃ ĐƯỢC KHÁM PHÁ.

           Bệnh loét Buruli từ lâu vẫn là một bí ẩn . Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra rằng vi khuẩn gây ra bệnh này được truyền vào người bởi một côn trùng.

           Bí ẩn 60 năm về bệnh loét Buruli vừa được giải quyết. Năm 1948, một nhóm nghiên cứu người Úc, đã mô tả lần đầu tiện bệnh loét này nơi những bệnh nhân sống gần Melbourne. Những nhà nghiên cứu này là những người đầu tiên đã phân lập được vi khuẩn gây bệnh, Mycobacterium ulcerans, phát xuất cùng họ với các vi khuẩn gây bệnh lao và hủi.

          Từ đó, chẳng có ai đã thành công nhận diện nguồn gốc và các đường truyền bệnh của tác nhân gây bệnh này.Từ nay, đó là điều đã được giải quyết với sự công bố hôm thứ tư 26/3, trên site của tờ tạp chí PloS Neglected Tropical Diseases, một công trình được tiến hành bởi một nhóm 17 nhà nghiên cứu Bỉ ,Bồ Đào Nha, Hoa Kỳ và Ghana.
           Trong những năm 1960, nhiều trường hợp tương tự với các trường hợp được mô tả ở Úc đã được ghi nhận ở Ouganda, trong quận Buruli, từ đó có tên là bệnh loét Buruli. Đây là một bệnh nhiễm trùng được đặc trưng bởi một sự hủy hoại lan rộng của da và các phần mềm, kèm theo sự tạo thành các vết loét có những kích thước lớn, nói chung định vị ở cẳng chân hoặc cánh tay. 

         Sự phá hủy mô được gây nên bởi một độc tố được sản xuất bởi mycobacterium ulcerans. Nếu không được điều trị sớm bằng các kháng sinh thích ứng, bệnh sẽ gây nên những bất túc chức năng lâu dài cũng như những khuyết tật về thẩm mỹ.

          Bệnh loét Buruli chủ yếu gây bệnh cho dân sống ở vùng nông thôn trong khoảng 30 nước nhiệt đới và á nhiệt đới. Bệnh nhiễm trùng này, không được đánh giá đúng bởi công chúng, từ 30 năm nay hoành hành một cách gia tăng ở Tây Phi, khiến OMS vào năm 1998 đã khởi động một chương trình theo dõi và chống lại bệnh này.

MÔI TRƯỜNG NƯỚC.
         Nhiều yếu tố dịch tễ học khiến nghĩ rằng Mycobacterium ulcerans hiện diện trong một vài môi trường nước. Ví dụ người ta quan sát thấy rằng bệnh loét Buruli hiện diện gần các mặt nước, các con sông có lưu lượng nước chảy chậm, các ao, đầm và hồ. Nhưng cách truyền bệnh của nó cho người vẫn còn bí ẩn. Công trình nghiên cứu được điều phối bởi Françoise Portaels (Viện y học nhiệt đới Anvers, Bỉ) cho phép vén lên bức màn bí mật. “ Từ một điều tra được tiến hành ở Bénin, lần đầu tiên, các tác giả đã thành công phân lập được một giống gốc của vi khuẩn gây bệnh nơi một côn trùng sống dưới nước. Đó là water strider, côn trùng chích người một cách hung hãn.”
           Vậy khác với bệnh hủi hoặc lao, bệnh nhiễm vi khuẩn này không được lây truyền do tiếp xúc giữa người với người, mà theo mô hình của một bệnh ký sinh trùng như bệnh sốt rét, hoặc bệnh do virus như West Nile. Khám phá này hẳn phải cho phép trang bị những phương tiện hiệu quả hơn chống lại bệnh này.
                                     Nguồn : LE MONDE 27/3/2008         

  
7/ CÁC TAI ƯƠNG MỚI CỦA THẾ KỶ XXI.

          HIV, SARS, Chikungunya, Ebola, các vi khuẩn đề kháng thuốc... danh sách của các bệnh nhiễm trùng mới hẳn phải được kéo dài ra trong những năm đến nếu như không thực hiện các biện pháp nhanh chóng. Một công trình nghiên cứu, được công bố trong tạp chí Nature số 21 tháng 2, đã kiểm điểm các trận dịch bùng nổ từ năm 1940 đến 2004, liên quan đến một loài mới ( hay một biến dị mới) của tác nhân gây bệnh ( từ virus cho đến một ký sinh trùng). Một nhóm nghiên cứu Anh Mỹ đã phân tích 335 bệnh nhiễm trùng, đặt chúng trong mối tương quan với các dữ kiện nhân khẩu học, xã hội kinh tế hay sinh thái. Kết luận : những bệnh này có nguồn gốc chính là sự lây truyền từ động vật qua người, được gọi là bệnh thú truyền  (zoonose). Các nhà nghiên cứu cũng đã lập bản đồ các ổ nguy cơ ( foyers à risque) chủ yếu. Đó là những vùng quy tụ những mật độ rất cao của dân số động vật và người. Nhưng các nước phía Bắc cũng không tránh khỏi các bệnh thú truyền này, công trình nghiên cứu đã xác nhận như thế. Thật vậy, GS Arnaud Fontanet , thuộc phòng dịch tễ học của các bệnh mới phát sinh, Viện Pasteur, đã nhấn mạnh « việc quá tiêu thụ thuốc đã dẫn đến trong các nước phát triển một sự đề kháng vi khuẩn, nguồn gốc của những bệnh mới ».

Để hãm lại sự xuất hiện của các bệnh mới này, các tác giả chủ trương giới hạn những tiếp xúc giữa các động vật hoang dã và người, làm giảm nguy cơ truyền bệnh giữa các động vật nuôi trong nhà và người bằng cách điều tiết sự chăn nuôi và làm gia tăng tính đa dạng sinh vật (biodiversité). Ngoài ra, việc tài trợ cho một chương trình theo dõi các ổ nguy cơ là cần thiết.Theo Peter Daszak, giám đốc của Consortium for Conservation Medicine, “ nếu chúng ta tiếp tục khộng cần biết đến tầm quan trọng của sự phòng ngừa này, chúng ta sẽ chịu những nguy cơ đại dịch quan trọng ”
                        Nguồn : SCIENCES ET AVENIR 4/2008


8/ UNG THƯ VÚ: CHO BÚ CÓ LỢI, UỐNG RƯỢU CÓ HẠI

         Ung thư vú là ung thư thông thường nhất của phụ nữ.Trên thế giới mỗi năm có 1 triệu trường hợp mới, trong đó ở Pháp có 42.000 trường hợp.

         Ung thư vú cũng đang gia tăng khắp nơi trên thế giới, ngay cả trong những nước châu Á và châu Phi, là nơi cho đến nay ít bị ảnh hưởng hơn. Cần ghi nhận rằng ở Pháp, lần đầu tiên, tỷ lệ mắc phải ung thư này nơi các phụ nữ trên 50 tuổi đang hạ xuống. Sự phân bố không đồng đều về mặt địa dư (một ung thư cho 12 phụ nữ ở châu Âu, và một cho 80 ở Nhật bản) khiến rất làm nghi ngờ một vai trò bảo vệ khả dĩ của chè xanh và/hoặc đậu nành. Dầu sao, báo cáo vừa qua của WCRF đã nhấn mạnh 2 thông điệp quan trọng : thông điệp đầu tiên, đó là lợi ích của sự cho con bú kéo dài, và điều này dầu cho lúc phát triển ung thư là lúc nào, trước hoặc sau thời kỳ mãn kinh.Thông điệp thứ hai xác nhận ảnh hưởng có hại của rượu, đã được nghi ngờ từ nhiều năm nay. Một tháng sau báo cáo của WCRF, một báo cáo khác của Pháp, từ Viện ung thư quốc gia, đã định số cho mối nguy cơ này. Nguy cơ mắc phải ung thư vú gia tăng 10% nếu mức độ tiêu thụ trung bình rượu mỗi ngày tăng 10g hoặc 1 ly.

 

9/ CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU CHÂU ÂU TỐ CÁO TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHẤT HÓA HỌC LÊN UNG THƯ VÚ.
          Để làm giảm số các trường hợp ung thư vú, cần phải giảm sự tiếp xúc với các chất hoá học, các nhà nghiên cứu châu Âu đã đánh giá như vậy trong một lời kêu gọi hôm 2/4 Nghị viện châu Ấu ở Bruxelles, theo sáng kiến của Liên minh vì sức khỏe và môi trường (HEAL).
Lời kêu gọi dựa trên một báo cáo của giáo sư Andreas Kortenkamp, trưởng khoa độc chất học của đại học Londres, được công bố trong dịp này.

          Tài liệu này nhấn mạnh rằng các trường hợp ung thư vú mới đều gia tăng trong gần như toàn bộ các nước phương tây và rằng ở Châu Âu, cứ mười phụ nữ thì có một phụ nữ phát triển một ung thư vú..

          Các yếu tố môi trường là những yếu tố chính chịu trách nhiệm về sự phát sinh ung thư vú ; yếu tố di truyền có một góp phần được ước tính là 27% các trường hợp. Các oestrogènes đóng một vai trò quyết định trong sự xuất hiện ung thư vú, một hiện tượng được minh họa bởi sự giảm tỷ lệ mắc phải ung thư vú khi số điều trị chứng mãn kinh bằng hormone thay thế giảm xuống.

          Tuy nhiên, Andreas Kortenkamp nhắc lại mối lo ngại đối với các chất hoá học có tác dụng của hormone « hiện diện trong thực phẩm, các sản phẩm vệ sinh hoặc trong các chất làm ô nhiễm môi trường »
          Trong số các chất này là những thuốc trừ sâu organochloré như DDT, PCB (polychlorobiphényles), các polychlorodibenzodioxines, các tác nhân lọc chống tia tử ngoại của kem chống nắng, các chất bảo quản và các chất chống oxy hóa như các parabens… « Hầu hết các chất này có tác dụng như hormone sinh dục nữ oestradiol ».

         Các công trình nghiên cứu được thực hiện về mối liên hệ giữa các chất hóa học này và ung thư vú đã không được xác chứng, nhưng số các nghiên cứu không được nhiều. Hai vấn đề phải được bàn đến : vấn đề tiếp xúc tích lũy với các chất có tác dụng giống với các oestrogènes và sự tiếp xúc xảy ra trong những thời kỳ quyết định như tuổi dậy thì và giai đoạn trong tử cung.
          Về thời kỳ dậy thì, một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ mới đây về sợi dây liên hệ giữa ung thư vú và DDT, đã minh họa « tầm quan trọng của việc tiếp xúc với các chất hóa học trước và trong thời kỳ dậy thì ».

         Tổng giám đốc của Liên minh vì sức khỏe và môi trường, Bà Génon Jensen yêu cầu các nghị viên châu Âu làm giảm sự tiếp xúc với các chất hoá học, bằng cải cách các thuốc trừ sâu và chỉ thị về các mỹ phẩm, hiện đang được nghiên cứu.

                                        Nguồn : LE MONDE 3/4/2008

 

10/ CỔ TỬ CUNG DÀI VÀ NGUY CƠ BỊ MỔ CÉSARIENNE LÚC CHUYỂN DẠ.
           Các công trình nghiên cứu gợi ý rằng việc sinh đủ tháng bình thường tùy thuộc vào sự chương trình hóa của sự phát triển tử cung vào đầu thai kỳ. Người ta biết rằng một cổ tử cung ngắn vào giữa thai kỳ được liên kết với một gia tăng sinh non tự phát. Một công trình nghiên cứu của Anh đã đưa ra giả thuyết rằng một cái cổ tử cung dài vào giữa thai kỳ có thể được liên kết với một nguy cơ gia tăng sinh đủ tháng bằng césarienne trong lúc chuyển dạ.
            Đó là lý do tại sao, Gordon Smith và các cộng sự viên đã nghiên cứu 27.472 phụ nữ, con so, vào giữa thai kỳ ( khoảng 23 tuần) có chiều dài của cổ tử cung trên 16 mm và những phụ nữ này cuối cùng đã sinh đủ tháng.

           Các kết quả chứng tỏ rằng tỷ lệ mổ césarienne đủ tháng là thấp nhất (16%) nơi các phụ nữ có chiều dài cổ tử cung vào giữa thai kỳ từ 16 đến 30mm.Tỷ lệ này cao hơn đáng kể (18,4%) nơi các phụ nữ có chiều dài cổ tử cung từ 31 đến 35 mm. Đối với các phụ nữ có chiều dài cổ tử cung ở giữa thai kỳ từ 36 đến 39 mm, tỷ lệ này là 21,7%. Tỷ lệ này lên 25 ,7% khi chiều dài cổ tử cung từ 40 đến 67 mm.
         Như vậy, theo các tác giả, nơi các phụ nữ con so sinh đủ tháng, chiều dài của cổ tử cung vào giữa thời kỳ thai nghén là một yếu tố tiên đoán độc lập của nguy cơ bị mổ césarienne
                   Nguồn : LE JOURNAL DU MEDECIN 11/4/2008

                             
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
                                        ( 18/4/2008 )

        

 

Trở về Trang Chính