|
1/GIÀ,TRẦM
CẢM,RỒI ĐÁI ĐƯỜNG
Các công
trình nghiên cứu đã chứng tỏ rằng sự việc có những triệu chứng
trầm cảm quan trọng được liên kết với một sự gia tăng nguy cơ
mắc bệnh đái đường loại 2.Carnethon (Chicago) và các cộng sự
viên đã muốn biết xem rằng chỉ cần một ghi nhận có các triệu
chứng trầm cảm nặng,một gia tăng các triệu chứng trầm cảm hoặc
các triệu chứng trầm cảm nặng và kéo dài có được liên kết với sự
phát sinh đái đường loại 2 hay không.Các nhà nghiên cứu này của
Hoa Kỳ đã phân tích các dữ kiện từ 4500 người tham dự công trình
Cardiovascular Health Study, tuổi bằng hoặc hơn 65.Mỗi năm,từ
năm 1989 đến 1999,các người này phải trả lời một trắc nghiệm về
bệnh trầm cảm.Các kết quả cho thấy rằng những người già có những
triệu chứng trầm cảm cấp tính hơn (dầu là tạm thời hay dai dẳng)
có nguy cơ bị bệnh đái đường loại 2 hơn những người khác (nguy
cơ 50-60% cao hơn đối với những người có triệu chứng trầm
cảm).Các tác giả đưa ra nhận xét rằng sự liên kết này không thể
hoàn toàn được giải thích bởi các yếu tố nguy cơ của bệnh đái
đường. (LE JOURNAL DU MEDECIN 11/5/2007)
2/ ÍT TIẾP XÚC VỚI MẶT TRỜI TỐT HƠN LÀ DÙNG KEM
BẢO VỆ.
Sự phơi nắng là nguyên nhân quan trọng nhất của quang sinh ung
thư(photocarcinogenèse),sự lão hóa sớm của da và sự nhạy cảm với
ánh sáng (photosensibilité).Do đó tránh ánh nắng mặt trời là mối
quan tâm thường xuyên mỗi khi hè đến.Sử dụng kem chống
nắng(crème solaire) có độ bảo vệ cao là một bộ phận của chiến
lược cổ điển chống ung thư da.Theo Lautenschlager và các cộng sự
viên, việc mặc quần áo thích ứng, đội mũ và giới hạn sự phơi
nắng đã tỏ ra có hiệu quả hơn nhiều.Trong lối sống hiện nay của
chúng ta với chủ trương sống ngoài trời và tìm ánh nắng mặt trời
trong những tháng mùa hè,thì các biện pháp « đơn giản « này
tưởng như không được ưa chuộng cho lắm, điều này có thể giải
thích tại sao kem chống nắng được sử dụng ồ ạt.Nhưng nếu kem
chống nắng là biện pháp được chấp nhận để bảo vệ chống nắng thì
không nên tỏ ra dè xẻn..Để được hiệu quả cần phải bôi lên da
những lớp kem dày.Việc bôi trải kem đều đặn lên da cũng như tính
đặc hiệu của phổ hấp thụ cũng đóng một vài trò quan trọng.Mặc
đầu thế,việc sử dụng quá đáng kem chống nắng để kéo dài cực độ
việc phơi nắng là điều hoàn toàn không nên làm.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 11/5/2007)
3/ GHÉP CƠ QUAN Ở VƯƠNG QUỐC ANH.
Vào tháng 3
năm 2007,có 7.234 người nằm trên danh sách chờ đợi để được ghép
cơ quan.Nhưng trong khi bảng danh sách chờ đợi trước đây đã
không bao giờ đạt được những con số cao như vậy, thì giải phẫu
ghép cơ quan trong khi đó đã đạt mức kỷ lục.Giữa tháng 3 năm
2006 và tháng 3 năm 2007,có 3.074 cuộc giải phẫu ghép cơ quan đã
được thực hiện ở Anh, hoặc tăng thêm 10% so với năm trước.Theo
giới hữu trách về ghép cơ quan, hiện nay rất cần đến người cho
cơ quan nếu muốn thỏa mãn số bệnh nhân chờ được ghép ngày càng
gia tăng.
Chinh phủ yêu cầu các công dân Anh sẵn sàng cống hiến một bộ
phận của cơ thể mình sau khi chết và thông báo điều đó với thân
nhân của họ cũng như đăng ký ở văn phòng có liên quan của NHS.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 11/5/2007)
4/
CHỨNG TINH HOÀN ẨN VÀ UNG THƯ TINH HOÀN
Chứng tinh hoàn ẩn (cryptorchidie), yếu tố nguy cơ của ung thư
tinh hoàn, thường được điều trị bằng ngoại khoa.Nhưng tuổi vào
lúc phẫu thuật có ảnh hưởng đến nguy cơ bị ung thư tinh hoàn hay
không? Petterson và các cộng sự viên đã nghiên cứu mối liên hệ
giữa tuổi vào lúc phẫu thuật và nguy cơ mắc phải ung thư tinh
hoàn.Các nhà nghiên cứu ở Thụy Điển đã thống kê,từ năm 1964 đến
1969, có 16.983 người bị chứng tinh hoàn ẩn được giải phẫu cố
định tinh hoàn (orchidopexie).Các kết quả ghi nhận 56 trường hợp
ung thư tinh hoàn trong thời kỳ theo dõi.Nguy cơ đối với những
người được phẫu thuật cố định tinh hoàn trước 13 tuổi là 2,23 so
với dân chúng tổng quát.Đối với những bệnh nhân được điều trị ở
tuổi 13 hoặc lớn hơn thì nguy cơ là 5,40.Theo các tác giả,điều
trị tinh hoàn ẩn trước tuổi dậy thì làm giảm nguy cơ mắc phải
ung thư tinh hoàn. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 15/5/2007)
5/ RESONANCE MAGNETIQUE NUCLEAIRE VÀ UNG THƯ
VÚ.
Hơn 10% phụ nữ bị ung thư vú một bên(vú bên đối diện có
vẻ bình thường lúc làm mammographie) về sau này sẽ phát triển
ung thư ở vú đối diện bình thường này.Thế mà theo nhiếu nhà lâm
sàng, ổ ung thư thứ hai này đôi khi có thể được phát hiện bằng
RMN ngay vào lúc chẩn đoán ban đầu.Điều này cho phép không phải
điều trị hai khối u ung thư cách xa nhau vào những thời điểm
khác nhau. Một công trình nghiên cứu quốc tế được thực hiện ở
nhiều trung tâm (ở Hoa Kỳ,Canada và Đức) bao gồm 969 phụ nữ vừa
được phát hiện ung thư vú một bên bằng mammographie.Những bệnh
nhân này hai tháng sau đó đều đã được khám RMN bổ túc và trong
trường hợp có hình ảnh khả nghi ở vú bên đối diện,người ta đã
thực hiện sinh thiết trong 12 tháng sau đó để kiểm tra mô
học.Kết quả : 33 phụ nữ (khoảng 3% dân số được khảo sát) đã có
ung thư ở bên vú đối diện.Những ung thư này đã không được phát
hiện trong mammographie được thực hiện lúc khởi đầu.Thế có nghĩa
là mammographie không đáng tin cậy chăng? Chắc chắn là không
phải thế. Mammographie vẫn là khám nghiệm chuẩn bởi vì ngoài
những ưu thế khác ra, chụp quang tuyến vú phát hiện các
microcalcifications, một trong những dấu hiệu sớm của ung thư vú
mà RMN không thấy được.Ngược lại,RMN có thể phát hiện những khối
u có thể tích rất nhỏ mà mammographie không phải luôn luôn có
thể phát hiện được lúc ban đầu mà chỉ sau này mà thôi.Thông điệp
của các nhà nghiên cứu là không nên xét nghiệm phát hiện bằng
RMN một cách đại trà mà chỉ đề nghị xét nghiệm này nơi các phụ
nữ có nguy cơ mà thôi.(LA LIBRE MATCH 9/5-15/5/2007)
6/ ĐIỀU TRỊ CHỨNG TRẦM CẢM CỦA NHỮNG BỆNH NHÂN ĐÁI ĐƯỜNG.
Bệnh đái đường thường kèm theo những rồi loạn trầm
cảm.Khi những rối loạn này nghiêm trọng thì sự điều trị chúng
cũng quan trọng như sự điều trị bệnh đái đường.Theo một công
trình nghiên cứu trong đó tham dự 100 người bệnh đái đường ở
tuổi trưởng thành và bị chứng trầm cảm mức độ quan trọng, việc
giảm thể trọng trong điều trị bệnh đái đường đóng một vai trò
quyết định để nồng độ hémoglobine glycosylée A1c giảm trong
máu.Nhưng sau 6 tháng,chính sự cải thiện chứng trầm cảm nhờ điều
trị bằng thuốc chống trầm cảm tuồng như là đảm bảo tốt để ổn
định nồng độ đường huyết.Một công trình nghiên cứu thứ hai trên
1000 người bi bệnh động mạch vành trong số đó có 1/3 bệnh nhân
bị bệnh đái đường.Sau hơn 4 năm theo dõi,nguy cơ tử vong trong
số những người bị bệnh đái đường tăng 25% khi các bệnh nhân động
mach vành có kèm theo những triệu chứng lâm sàng của chứng trầm
cảm mức độ vừa hoặc nặng.( SCIENCES ET AVENIR 5/2007)
7/ ĐIỀU TRỊ BAN ĐÊM CHỐNG BỆNH XƠ CỨNG RẢI
RÁC.
Điều trị vào ban đêm thay vì ban ngày.Được gọi tên là
Chronothérapie (điều trị theo nhịp thời gian),cách cho thuốc
theo đồng hồ sinh học có hiệu quả đối với những bệnh nhân bị xơ
cứng rải rác.Đó là kết quả của một công trình nghiên cứu được
thực hiện bởi những nhà nghiên cứu Israel thuộc Technion Center
de Haifa và được công bố trong Journal of Neurology,Neurosurgry
and Psychiatry. BS Ariel Miller,một trong
những tác giả của công trình nghiên cứu giải thích : « Chúng ta
biết rằng ở người,nồng độ của cortisone cao hơn vào buổi sáng
nhưng thấp hơn vào buổi chiều ».Thế mà điều trị bệnh xơ cứng rải
rác chủ yếu cần đến corticoides. Vì vậy cho thuốc có tính đến
rythme circadien có vẻ là điều đáng được quan tâm.Các
corticoides đã được tiêm truyền tĩnh mạch trong vòng 4 giờ,hoặc
từ 10 giờ đến 16 giờ,hoặc từ 22 giờ đến 2 giờ.Kết quả : đợt điều
trị vào ban đêm đã tỏ ra không những có hiệu quả hơn mà cón được
dung nạp tốt hơn bởi các bệnh nhân.(SCIENCES ET AVENIR 7/2007)
8/ TÁC DỤNG BẢO VỆ CỦA ASPIRINE.
Dùng aspirine với liều lượng nhỏ cải thiện rất rõ rệt khả năng
sống sót sau một nhồi máu cơ tim và một tai biến mạch máu
não.Thật vậy,được cho trong giai đoạn cấp tính của một nhồi máu
cơ tim, thì cứ mỗi 1000 bệnh nhân được điều trị trong tháng đầu
tiên của trị liệu, aspirine sẽ ngăn ngừa 38 trường hợp tai biến
mạch máu và 23 trường hợp tử vong có nguồn gốc huyết quản.Đối
với các tai biến mạch máu não,thì cứ mỗi 1000 bệnh nhân được
điều trị, aspirine được cho ở giai đoạn cấp tính sẽ ngăn ngừa 9
tai biến mạch máu nghiêm trọng.Do đó ,aspirine phải được cho nơi
mỗi bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não là
điều rất hợp lý.
Nhưng chỉ định của aspirine không chỉ có thế mà thôi.bởi vì
aspirine cũng có tác dụng phòng ngừa thứ cấp các huyết khối
(thrombose). Được sử dụng cho 1000 bệnh nhân có tiền sử nhồi máu
cơ tim hoặc tai biến mạch máu não, aspirine trung bình ngăn ngừa
từ 15 đến 18 trường hợp huyết khối tái phát mỗi năm. Đối với
những bệnh nhân có nguy cơ cao như cơn đau thắt ngực,tiền sử
angioplastie, thấm tách máu (hémodialyse), đái đường, hẹp động
mạch cổ (sténose carotidienne), aspirine cũng có lợi ích tương
tự ( ngăn ngừa hơn 10 tai biến cho mỗi 1000 bệnh nhân được điều
trị trong 1 năm).
Sau cùng,aspirine cũng có thể được sử dụng trước khi
huyết khối động mạch xảy ra, trên những bệnh nhân không có tiền
sử huyết khối (phòng ngừa nguyên phát).
6 công trình
nghiên cứu rộng rãi đã đánh giá các lợi ích và các nguy cơ khi
điều trị phòng ngừa bằng aspirine.Tất cả các nghiên cứu này đã
chứng tỏ rõ ràng rằng những lợi ích của việc dùng aspirine và sự
giảm nguy cơ bị huyết khối càng quan trọng khi bệnh nhân càng
kiêm nhiệm nhiều yếu tố nguy cơ.Tuy nhiên ,quyết định điều trị
nguyên phát bằng aspirine phải dựa trên sự tính toán hơn thua
giữa các lợi ích của điều trị và các biến chứng có thể xảy ra do
phép điều trị này.(
LE JOURNAL DU MEDECIN 4/5/2007)
9/ CHÚNG TA CÓ THỂ NGƯNG CHO ASPIRINE ?
Những trường hợp cần phải ngưng sử dụng
aspirine không phải là hiếm. Nhất là những động tác can thiệp
ngoại khoa hay những thủ thuật gây nhiều xuất huyết.Tuy nhiên
ngừng cho aspirine không phải là không có những nguy cơ.
Ngoại
trừ một vài loại phẫu thuật ( tiền liệt tuyến, hệ thần
kinh),hầu hết các can thiệp ngoại khoa và các thủ thuật có thể
được thực hiện với một liều lượng nhỏ aspirine (100 mg mỗi
ngày).
Nếu phải ngừng cho aspirine trước phẫu thuật, cần phải xét đến
nhip độ hồi phục của các tiểu cầu (10% mỗi ngày).Do đó nên ngừng
cho aspirine 5 ngày trước khi can thiệp ngoại khoa và sau đó sử
dụng trở lại càng nhanh càng tốt.
Trái với aspirine,clopidogrel thường được ngừng cho trước mọi
phẫu thuật ngoại trừ angioplastie percutanée.( LE JOURNAL DU
MEDECIN 4/5/2007)
10/ CÁC LỢI ÍCH CỦA CHỌC HÚT TẾ BÀO.
Trong ung thư phổi, chọc hút tế bào (cytoponction) dưới
sự hướng dẫn của siêu âm qua thực quản (échographie
transoesophagienne) nhằm lấy một « lõi carotte « nhỏ mô hạch
(tissu ganglionnaire) dưới sự kiểm soát của siêu âm từ một ống
thăm dò (sonde) được đưa vào trong thực quản .Thủ thuật này cho
phép xác định mức độ lan rộng của khối u. Bổ sung cho
scanner,thủ thuật vi sinh thiết có siêu âm hướng dẫn này là một
phương tiện đáng tin cậy để phát hiện các di căn đồng thời tránh
khỏi phải mở lồng ngực bằng giải phẫu ngoại khoa hoặc
thoracotomie.( SCIENCE ET AVENIR 5/2007)
BS NGUYỄN VĂN
THỊNH
(20/5/2007)
Trở về Trang Chính
|