|
1/
RUỘT THỪA ? VÔ ÍCH ?
Từ lâu người ta cho rằng ruột thừa là
một cơ quan không có ích. Ruột thừa có thể dùng như chỗ chứa các
vi khuẩn « tốt ». Thật vậy một vài người đã gợi ý vai trò miễn
dịch của ruột thừa, trong khi những người khác xem ruột thừa như
là một vết tích của sự tiến hoá. Lý thuyết được bảo vệ bởi các
nhà nghiên cứu của Duke University Medical School là : ruột thừa
là một loại nhà máy vi khuẩn (usines à bactéries) mà vai trò là
làm tái sinh sôi ống tiêu hóa lúc có nhiễm trùng ruột. Sau một
nhiễm trùng như dịch tả hoặc ly amibe, hệ vi khuẩn (flore
bactérienne) có thể bị biến đổi rất nhiều.Trong vùng dân cư đông
đúc, ống tiêu hóa nhanh chóng được tái định cư nhờ sự hiện diện
của những vi khuẩn ruột trong môi trường. Người ta có thể tưởng
tượng rằng trong những hoàn cảnh khác (dịch bệnh, cách ly...) cơ
thể khó tìm lại được hệ khuẩn cộng sinh (flore commensale).
Trong suốt thời kỳ tiến hoá của chúng ta, ruột thừa có lẽ là nơi
dùng để phát khởi lại hệ vi khuẩn ruột sau một đợt nhiễm trùng
ruột.( LE JOURNAL U MEDECIN 16/10/2007)
2/ TỐT HƠN NÊN NGỦ 7 GIỜ.
Người nào
ngủ ít sẽ bị nguy cơ mắc phải bệnh tim mạch chết người hai lần
nhiều hơn. Đó là kết quả được chứng tỏ bởi một công trình nghiên
cứu quy mô lớn mới đây của người Anh. Mặt khác công trình này
gợi ý rằng ngủ quá lâu cũng sẽ liên kết với các vấn đề sức khỏe.
Các nhà nghiên cứu của đại học
Warwick và của University College ở Londres đã theo dõi trong
hai thập niên 10.308 người trưởng thành người Anh tuổi từ 35 đến
55 tuổi để phát hiện mối liên hệ khả dĩ giữa sơ đồ giấc ngủ và
sự xuất hiện một bệnh lý tim mạch. Để làm điều này, các nhà
nghiên cứu đã thu thập các dữ kiện về thói quen ngủ của những
người tham dự suốt trong thời kỳ 1985-1988 và sau đó suốt trong
những năm 1992-1993, đồng thời theo dõi tiến triển các trường
hợp tử vong cho đến năm 2004.
Các kết quả của họ đã được trình bày tại hội nghị thường
niên của British Sleep Society ở Cambridge.Trong suốt thời kỳ
quan sát, những người đã giảm số giờ ngủ ban đêm từ 7 giờ xuống
5 giờ có nguy cơ bị một biến cố tim mạch chết người hai lần
nhiều hơn những người ngủ 7 giờ mỗi đêm.Về nguy cơ tử vong toàn
thể, nhóm ngủ ít có nguy cơ 1,7 lần cao hơn.
Francesco
Cappccio của đại học Warwick, người đã lãnh đạo công trình
nghiên cứu, gợi ý rằng giấc ngủ về đêm có số giờ bị giảm hoặc có
chất lượng xấu thường xảy ra hơn ở các nước công nghiệp, nơi mà
áp lực của những thú tiêu khiển và sự hiện diện của những toán
trực đêm có thể làm phương hại cái vốn của giấc ngủ. “ So sánh
cách nay vài thập niên, sự mệt nhọc và chứng ngủ gà vào lúc ban
ngày là những lời kêu ca thường gặp nhất ngày nay ”.
THẾ CÒN SỰ LẠM DỤNG GIẤC NGỦ ?
Một điều chứng nhận lý thú khác là
những người tham dự đã gia tăng thời gian ngủ từ 7 lên 9 giờ
trong thời kỳ quan sát cũng chịu nhiều nguy cơ tử vong trong
lúc công trình nghiên cứu hơn là nhóm ngủ 7 giờ.
“ Có thể là việc ngủ lâu có quan hệ với
những vấn đề sức khỏe khác trong đó có chứng trầm cảm hoặc sự
mệt nhọc liên kết với bệnh ung thư.”
Francesco Cappuccion kết luận rằng
một sơ đồ giấc ngủ đều đặn khoảng 7 giờ mỗi đêm là lý tưởng đối
với sức khỏe. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 12/10/2007)
3/ PHÁT HIỆN SỚM PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ BỤNG.
Theo GS Robert Verhelst (trưởng
khoa ngoại tim mạch và ngực, UCL Saint-Luc), cần phát hiện các
phình động mạch chủ bụng bằng siêu âm khi một bệnh nhân hội đủ
vài yếu tố
Thái độ này cho phép can thiệp kịp
thời và tránh vỡ phình động mạch với tiên lượng đen tối. Sau 65
tuổi, nguy cơ tìm thấy một phình động mạch chủ bụng (anévrysme
de l’aorte abdominale) là 4 đến 8 % nơi đàn ông và 1 đến 3% nơi
phụ nữ .Với sự hiện diện của những yếu tố nguy cơ cổ điển, nguy
cơ vỡ phình động mạch có thể tăng gấp đôi. Những tiền sử gia
đình về phình động mạch nhân nguy cơ từ 2 đến 5 lần. “ Vậy rất
hợp lý đề nghị phát hiện bằng siêu âm khi bệnh nhân thuộc vào
một trong 3 loại này ”. GS Verhelst giải thích như vậy.
Kích thước của một phình động mạch xác định nguy cơ bị
vỡ của nó. Một phình động mạch có đường kính dưới 5cm, nguy cơ
tương đối thấp và chỉ cần kiểm tra hàng năm bằng siêu âm.Với
phình động mạch có đường kính từ 4 đến 5 cm, phải thực hiện một
scan ngực-bụng để xác định hình dạng của phình động mạch (cũng
ảnh hưởng lên nguy cơ vỡ) và để chẩn đoán sự hiện diện của những
định vị khác của phình động mạch. Sau đó bệnh nhân sẽ được theo
dõi mỗi 6 tháng , nhưng đôi khi sẽ được phẫu thuật trong trường
hợp có những yếu tố nguy cơ vỡ liên kết ( phình mạch tăng trưởng
nhanh > 1cm/năm, nữ giới, nghiện thuốc lá tích cực, cao huyết
áp, tiền sử gia đình, viêm phế quản mãn tính gây tắc, tính chất
túi (sacculaire) của phình động mạch chủ bụng )
Có chỉ định phẫu thuật đối với phình
động mạch chủ với đường kính trên 5cm, trừ phi có chống chỉ định
quan trọng.( LE JOURNAL DU MEDECIN 16/10/2007)
4/ STRESS LÚC LÀM VIỆC VÀ CHỨNG TRẦM CẢM.
Những người bị stress mãn tính lúc
làm việc có một nguy cơ bị chứng trầm cảm gia tăng. Đó là kết
luận của một nghiên cứu được công bố on line trên American
Journal of Public Health trước khi xuất hiện trong ấn bản tháng
11.
Emma Robertson Blackmore (University
of Rochester Medical School, New York) và nhóm nghiên cứu đã xem
xét các dữ kiện của 24.324 người làm việc trưởng thành người
Canada. Họ đã xác nhận rằng gần 5% những người này đã bị chứng
trầm cảm quan trọng trong năm trước đó. Đặc biệt là những người
bị stress quan trọng trong lúc làm việc có nhiều khuynh hướng
phát triển chứng trầm cảm.
Kết quả của công trình nghiên cứu cho thấy rằng những
người chịu một áp lực lớn trong công việc ( được định nghĩa là
một công việc có yêu cầu cao được thực hiện bởi một người ít độc
lập và ít có quyền quyết định) có nguy cơ mắc phải chứng trầm
cảm nhân lên gấp hai lần so với những người chịu ít stress (hoặc
không ) do công việc.Trái lại nơi các phụ nữ, chính việc thiếu
quyền quyết định có liên quan với chứng trầm cảm.
Sau hết, sự thiếu nâng đỡ về mặt xã
hội từ phía các đồng nghiệp và những người giám sát liên kết với
sự trầm cảm ở đàn ông cũng như phụ nữ. Để kết luận, các tác giả
chủ trương xây dựng chiến lược phòng ngừa và sự nâng đỡ xã hội
các người lao động.( LE JOURNAL U MEDECIN 12/10/2007)
5/ MỠ,THỊT VÀ NGUY CƠ UNG THƯ TIỀN LIỆT
TUYẾN.
Nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm về
những nguy cơ tiềm tàng của mỡ thức ăn và thịt trong sự phát
triển ung thư tiền liệt tuyến. Song-Yi Park và nhóm nghiên cứu
đã nghiên cứu sự liên kết giữa việc tiêu thụ mỡ và thịt và ung
thư tuyến tiền liệt trong Multiethnic Cohort Study. Công trình
phân tích được thực hiện trên 82.483 người (45 tuổi) gốc Hawai
và Los Angeles. Các người tham dự đã điền một bảng câu hỏi chi
tiết về các thói quen ăn uống của họ suốt trong thời kỳ
1993-1996. Trong quá trình theo dõi (keo dài 8 năm), các nhà
nghiên cứu đã ghi nhận được 4.404 trường hợp ung thư tiền liệt
tuyến (trong đó có 1.278 trường hợp ung thư có mức độ cao).
Việc ăn các loại mỡ khác nhau ( lipides toàn phần,
lipides bảo hoà, lipides mono- hay poly-insaturés), acides béo
n-6, cholestérol, các loại thịt và mỡ khác nhau, đã không tỏ ra
là những yếu tố làm dễ của ung thư tuyến tiền liệt nói chung,
cũng như của ung thư tiền liệt tuyền có mức độ cao. Các kết quả
tương tự nhau trong 4 nhóm chủng tộc.Tuy nhiên các tác giả gợi ý
một tác dụng bảo vệ nào đó của acide béo n-3.Tuy nhiên tác dụng
này chỉ xảy ra ở nhóm latino và da trắng. ( LE JOURNAL DU
MEDECIN 12/10/2007)
6/
TOÀ ÁN HOA KỲ TRỪNG PHẠT NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐIỀU TRỊ MÃN KINH BẰNG
HORMONE THAY THẾ.
Lần đầu tiên
hãng dược phẩm Wyeth ở Hoa kỳ đã bị xử phạt phải trả gần 134
triệu dollars cho 3 phụ nữ bị ung thư vú sau một điều trị bằng
hormone thay thế.
Năm 2002, công
trình nghiên cứu Women Health Initiative (WHI) trên 16.000 phụ
nữ đã làm phần nào mất uy tín phép điều trị chứng mãn kinh bằng
hormone, do việc làm sáng tỏ một nguy cơ gia tăng bị ung thư vú,
rối loạn tim mạch và huyết khối tĩnh mạch nơi những phụ nữ được
điều trị.
Những phân tích tinh tế hơn đã phần nào làm tiến triển điều xác
nhận này, nhất là về nguy cơ tim mạch nơi các phụ nữ trẻ
nhất.Tuy nhiên sau công trình nghiên cứu này, hàng ngàn phụ nữ
bị ung thư vú ở Hoa Kỳ đã đưa đơn kiện hãng dược phẩm Wyeth đã
thương mãi hóa thuốc hormone chính yếu trong điều trị mãn kinh
(Prempro và Prémarin).
Lần đầu tiên, ngày 15 tháng 10 vừa qua, một ban bồi thẩm
của Nevada đã tuyên phạt nhóm dược phẩm Hoa Kỳ Wyeth phải trả
134 triệu dollars cho 3 phụ nữ đã phát triển một ung thư vú mà
họ cho là bị gây nên do các điều trị bằng hormone chống lại các
triệu chứng của mãn kinh.
Theo các bồi
thẩm, nhóm dược phẩm Wyeth đã tỏ ra vừa cẩu thả vừa lừa đảo
trong việc sản xuất, marketing và bán thuốc hormone. Mỗi người
khiếu nại phải được bồi thường từ 43 đến 47 triệu dollars.Wyeth
đã quyết định phá án, tái xác nhận trong một thông cáo rằng
những điều trị đang bị kiện tụng, nhưng đã được chấp nhận bởi
các nhà hữu trách y tế Hoa Kỳ, là “ đáng tin cậy và hiệu quả khi
được sử dụng theo đúng chỉ định.”
VÀI TRƯỜNG HỢP KHIẾU NẠI Ở PHÁP
Tính đến hôm nay, 6 vụ kiện đã được đưa đơn chống lại
hãng dược phẩm Wyeth với cùng lý do : trong 3 trường hợp các
người kiện đã bị bác đơn, trong hai trường hợp khác thủ tục tố
tụng bị hủy bỏ, sau cùng, trong một trường hợp còn lại, bệnh
nhân được bồi thường 1,5 triệu dollar nhưng hãng dược phẩm đã
kháng án. Gần 9000 vụ kiện tương tự đã được đưa đơn trước các
toà án Hoa Kỳ chống lại những điều trị bằng hormone thay thế của
hãng Wyeth. Hãng này hiện có vị thế nổi bậc nhất trên thị trường
thuốc chống mãn kinh ở Hoa Kỳ.
Ở Pháp vài đơn kiện đang được thẩm
cứu, nhằm chống lại các thầy thuốc chứ không phải các hãng dược
phẩm. Công trinh nghiên cứu WHI đã khiến cho các nhà hữu trách y
tế các nước phương Tây khuyên các thầy thuốc giới hạn lại thời
gian cho toa các thuốc hormone điều trị mãn kinh. Mặt khác nhiều
phụ nữ đã ngưng sử dụng các thuốc hormone này.
Theo các dữ kiện của CDC, số ung thư vú đã giảm vào năm
2005 ở Hoa Kỳ, đặc biệt là do giảm sử dụng hormone thay thế điều
trị mãn kinh. Nhưng vài người cũng đưa ra ý kiến là việc giảm
bớt chụp hình vú để phát hiện ung thư (mammographie de
dépistage) có thể là cách giải thích của sự thoái lui này. Cơn
sốt tư pháp về điều trị mãn kinh bằng hormone vẫn không thuyên
giảm ở Hoa Kỳ, là nước mà tỷ lệ phụ nữ mãn kinh được điều trị đã
đạt đến cao điểm vào đầu những năm 2000. Hàng chục triệu phụ nữ
đã theo một điều trị như thế khi phép điều trị này đã bắt đầu
phát triển ở Hoa Kỳ trong những năm 1960. ( LE JOURNAL DU
MEDECIN 17/10/2007)
7/ ĐIỆN THOẠI CẦM TAY LÀM DỄ SỰ PHÁT SINH NHỮNG KHỐI U NÃO BỘ.
Việc sử dụng điện thoại cầm tay là có
hại đối với sức khỏe, và không chỉ vào lúc cầm lái không thôi.
Một phân tích trên 18 công trình nghiên cứu đã kết luận rằng với
điện thoại cầm tay được sử dụng trên 10 năm, nguy cơ phát triển
một khối u não bộ ác tính (gliome) về phía mà điện thoại được
đặt vào tai, sẽ nhân lên gấp hai. Mỗi năm bệnh này xảy ra theo
tỷ lệ khoảng 6 người trên 100.000. Về các thương tổn dây thần
kinh thính giác (neurome), nguy cơ sẽ 2 lần rưỡi cao hơn, trong
cùng điều kiện.
Được công bố on line bởi tạp chí
Occupational and Environmental Medicine (OEM), công trình phân
tích này, được lãnh đạo bởi các nhà nghiên cứu Thụy Điển Lennart
Hardell (đại học Orebro) và Kjell Hansson (đại học Umea) đã nói
ngược lại một nghiên cứu được công bố vào tháng 9 ở Anh, theo đó
sự việc các điện thoại cầm tay được liên kết với các tác dụng
sinh học hoặc hại sức khỏe là điều đã không được chứng minh ».
Nhưng nhật báo The Independence báo cáo
rằng Lawrie Challis, người lãnh đạo công trình nghiên cứu của
Anh, công nhận rằng vì lý do số bệnh nhân đã sử dụng một điện
thoại di động từ hơn 10 năm nay thấp, nên « vào giai đoạn này
không thể loại bỏ khả năng là các ung thư có thể xuất hiện trong
những năm sắp đến. ». Việc không chắc chắn liên quan đến thời
gian tiềm tàng giữa lúc tiếp xúc với điện từ trường và lúc phát
triển một khối u vẫn là một trong những trở ngại chính trong
việc tiến hành nghiên cứu dịch tễ « mang tính chất kết luận ».
« CÁC NHÀ ĐẠI TIÊU THỤ »
Ở Pháp, nơi điện thoại cầm tay phát
triển từ năm 1992 và là nơi hiện nay có hơn 52 triệu người đăng
ký sử dụng, nghiên cứu mới đây nhất , được công bố vào tháng 9
trong Revue d’épidémiologie et de santé publique, cũng bị cùng
những hạn chế. Nghiên cứu này nhằm vào những bệnh nhân bị các u
não từ năm 2001 và 2003.
« Việc sử dụng đều đặn điện thoại di
động không liên kết với một sự gia tăng nguy cơ u thần kinh đệm
ngoại biên (neurinome), u màng não (méningiome) hoặc u thần
kinh đệm (gliome). Mặc dầu các kết quả này không đáng kể, nhưng
tuồng như có một khuynh hướng chung gia tăng nguy cơ u thần kinh
đệm nơi những « người tiêu thụ lớn nhất » điện thoại di động :
những người sử dụng với thời gian dài, với thời gian liên lạc
bằng dây nói cao và đã sử dụng một số lượng lớn nhất các máy
điện thoại »
Vì sức mạnh về mặt thống kê của công
trình nghiên cứu Pháp không đủ để quyết định, các tác giả nhờ
đến công trình nghiên cứu quốc tế, được tiến hành năm 1999.
Elisabeth Cardis, người điều hành Interphone ở Trung tâm quốc tế
nghiên cứu ung thư (CIRC) ở Lyon, không ngạc nhiên bởi những kết
quả của công trình nghiên cứu của Lennart Hardell và Kjell
Hansson. « Họ dựa trên nhiều nghiên cứu gồm trong Interphone.
Thật vậy các nghiên cứu này đã ghi nhận một gia tăng, có ý nghĩa
hoặc không có ý nghĩa, của các u thần kinh đệm nơi những người
sử dụng điện thoại cầm tay », bà chấp nhận như vậy. « Tất cả khó
khăn là ở chỗ lý giải các kết quả », bà nói thêm như vậy.
Nghiên cứu Interphone cũng sẽ cố gắng
xác định vị trí của các khối u. Nếu 20 đến 30% liều lượng điện
từ được phát ra bởi điện thoại được hấp thụ bởi não bộ, « sự
tiếp xúc phóng xạ này rất là khu trú », Elisabeth Cardis đã chỉ
rõ như vậy. Do đó ít có khả năng một khối u trong vùng trán hoặc
chẩm có thể được quy cho các tần số phóng xạ ( LE MONDE
13/10/2007)
8/ CHỨNG BÉO PHÌ VÀ VIỆC PHÁT HIỆN NHỜ NẾP
GẤP DA
Như một nghiên cứu đã theo dõi 350
người nam và nữ trong 24 năm xác nhận, việc đo bề dày của những
nếp gấp da (plis cutanés) trong thời kỳ thiếu niên là một phương
tiện tốt để tiên đoán nguy cơ xảy ra chứng béo phì (obésité) về
sau này.Trái với chỉ dấu về khối lượng cơ thể (indice de masse
corporelle), phương pháp đo lường này cho phép phân biệt giữa
khối mỡ (masse grasse) và khối gầy (masse maigre) trong cơ thể.
Nguy cơ mắc phải chứng béo phì sau 35 tuổi càng quan trọng khi
những nếp gấp da dày ở tuổi 13.Việc đo lường đáng tin cậy nhất
dường như là bề dày của nếp gấp da dưới mũi của xương bả vai
(omoplate) nơi thiếu niên trai và ở mặt sau cánh tay nơi thiếu
nữ. ( SCIENCES ET AVENIR 10/2007)
9/ 7% NHỮNG NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở HOA KỲ BỊ CHỨNG TRẦM CẢM
Một công trình nghiên cứu của
chính phủ Hoa Kỳ trên hơn 15.000 người từ năm 2004 đến 2006
chứng tỏ rằng 7% những người Mỹ làm việc bị trầm cảm.
Nghiên cứu đã quan sát 21 loại nghề nghiệp,
phát hiện tỷ lệ trầm cảm mỗi năm cao nhất (10,8%) trong số những
người chăm sóc người già và trẻ em. Những người làm việc trong
ngành thực phẩm (công nghệ nông phẩm và các dịch vụ) cũng chịu
những đợt trầm cảm quan trọng (10,3%) hơn là người thường .
Báo cáo này được công bố bởi Agence
publique des services de santé mentale, định nghĩa những đợt
trầm cảm như là “ một sự biến đổi tính khí và
một sự mất thích thú ít nhất 2 tuần, liên kết
với những vấn đề về giấc ngủ, ăn uống, năng lượng và sự tự tin ”
Chứng trầm cảm mỗi năm cũng liên quan đến khoảng một
người trên mười (9,1%) trong lãnh vực giải trí và thông tin đại
chúng.
Những nghề nghiệp được bảo vệ chống
lại trầm cảm là các kỹ sư, kiến trúc sư và thợ khoan
(sondeurs), theo sau là những nhà khoa học (4,4%) và những thợ
thiết đặt sửa chữa (installeurs-réparateurs) tất cả các loại
(4,4%).
Các phụ nữ bị ảnh hưởng nhiều bởi
chứng trầm cảm hơn đàn ông : 10,1% những người bị trầm cảm là
phụ nữ so với 4,7% các đồng nghiệp nam giới từ 18 đến 64 tuổi.
Tổn phí
đối với các xí nghiệp của bệnh này nơi những người làm công được
ước tính 30 và 44 triệu dollars mỗi năm.
Tỷ lệ trầm cảm lại còn lớn hơn nơi
những người không có việc làm (12,7%) và cũng cao hơn mức trung
bình nơi những người có một việc làm bán thời gian (9,3%)
(METRO 16/10/2007)
10/ ĂN CÁ HAI LẦN MỖI TUẦN TRONG THỜI KỲ THAI
NGHÉN.
VIỆC TIÊU THỤ CÁ TRONG THỜI KỲ CÓ THAI CÓ LỢI KHÔNG ?
Vâng, nhất là bởi vì cá mang lại những
acide béo có chuỗi dài thuộc họ oméga 3 (như EPA và DHA) cần
thiết cho sự phát triển của thai nhi. Nhưng oméga 3 này đặc biệt
quan trọng trong tam cá nguyệt cuối cùng của thai nghén, bởi vì
đặc biệt chính vào lúc đó mà các tế bào của não bộ được thành
hinh. Ở các phụ nữ có thai, những nhu cầu DHA được nhân lên 2,5
lần và việc tiêu thụ cá có thể đáp ứng những nhu cầu này. Nhưng
cá cũng mang lại vitamine D cần cho sự khoáng hóa
(minéralisation) khung xương, iode cần cho sự phát triển của não
bộ thai nhi và sắt cần cho sự tăng trưởng của thai nhi.
CÓ NGUY CƠ LÚC ĂN CÁ TRONG THỜI KỲ THAI NGHÉN KHÔNG ?
Nguy cơ
được biết là do méthylmercure đi xuyên qua hàng chắn nhau
(barrière placentaire) và đi vào trong sữa mẹ .Các nghiên cứu đã
chứng tỏ rằng tiếp xúc với méthylmercure trong tử cung có thể
gây nên những triệu chứng thần kinh nơi trẻ em : vấn đề thị
giác, thính giác, vận động và ngôn ngữ.
CÓ PHẢI NHỮNG NGUY CƠ NÀY NGĂN CẢN VIỆC TIÊU THỤ CÁ LÚC CÓ THAi?
Hoàn toàn không phải vậy ! Với điều
kiện tôn trọng những lời khuyên về tiêu thụ của AFSSA, những lợi
ích cao hơn nhiều những nguy cơ. AFSSA đã khuyên các phụ nữ có
thai giới hạn một lần mỗi tuần ăn cá mồi (poissons prédateurs)
như cá sói (bar), cá vây chân (baudroie), cá lưỡi bò (flétan)
hoặc cá ngừ (thon) bởi vì đó là những loại cá thường bị nhiễm
méthylmercure nhất.Trong thời kỳ thai nghén, để phòng ngừa, nên
tránh cá kiếm (espadon), cá marlin, cá siki bởi vì chúng có nồng
độ methylmercure cao. Cần nhắc lại rằng đưa vào tiêu thụ những
loại cá mỡ giàu oméga 3 như cá thu (maquereau), cá sardine hoặc
cá hồi (saumon) cũng quan trọng.
LƯỢNG CÁ CÓ THỂ KHUYÊN TIÊU THỤ NƠI ĐÀN BÀ CÓ
THAI ?
Lý tưởng là ta có thể
khuyên họ ăn ít nhất hai suất (portion) mỗi tuần. Điều quan
trọng là đa dạng hóa các loại cá ăn , cấm ăn hơn một lần mỗi
tuần những cá mồi (poisson prédateur) và chọn ít nhất một cá mỡ
(poisson gras).
(SCIENCES ET AVENIR 10/2007)
BS
NGUYỄN VĂN THỊNH
( 18/10/2007)
Trở về Trang Chính
|