MARSEILLE 

(phần 1)


 

Đại Linh

26 tháng 04 năm 2007

       Marseille là hải cảng xưa nhất và lớn nhất của nước Pháp và là một thành phố quốc tế, đầy màu sắc và lý thú. Marseille được thành lập bởi các nhà hàng hải Hy Lạp đến từ vùng Phocée vào thế kỷ VII trước Thiên chúa Giáng sinh và cùng với Provence đã được hợp nhất vào nước Pháp vào năm 1481. Marseille có 797.491 dân và là đô thị lớn thứ hai của Pháp. Marseille là trung tâm cảng, công nghiệp và thương mại to lớn.

Thành phố chiếm một vị thế tuyệt vời, nằm sâu trong đáy của một cái vịnh có bốn bề là núi đá vôi trắng xóa nhưng đồng thời lại rộng mở huớng ra biến Địa Trung Hải với sóng nước màu thiên thanh. Miền duyên hải của Marseille có 57 km chiều dài trong đó Calanques chiếm 24km. Một mặt đặt chân trong nước, mặt khác lưng quay về phía các ngọn đồi bao quanh. Marseille chiếm một diện tích 240 km2 (gấp hai lần diện tích Paris. Khí hậu ở đây dịu nhờ gió nhẹ thổi vào từ biển (brise de mer). Không khí khô ráo, ít mưa nhưng nặng hạt.

 

  

LỊCH SỬ THÀNH LẬP THÀNH PHỐ MARSEILLE BẮT ĐẦU TỪ MỘT CÂU CHUYỆN TÌNH

        Với lịch sử thành lập 2600 năm, Marseille là thành phố cổ nhất của nước Pháp.Truyền thuyết lưu truyền rằng Marseille ra đời là do câu chuyện tình giữa một chàng thủy thủ trẻ tuổi phiêu lưu đến từ Hy Lạp và nàng công chúa bản địa người Ligure.Vào khoảng năm 600 trước Thiên chúa Giáng sinh một số thủy thủ lái buôn người Hy Lạp từ Phocée (một địa danh gần với Smyrme ngày nay, thuộc Turquie) mạo hiểm đổ bộ lên bờ Lacydon (tức Vieux Port ngày nay). PROTIS, thủ lãnh của các thủy thủ này đi tìm gặp thổ dân người Ligure lúc đó sống trên một ngọn đồi quay lưng ra biển. Những người Ligure bản xứ tỏ ra hiền hoà với các ngoại nhân đầy thiện ý này.

 

 

Theo truyền thuyết sự tình cờ đã đưa đẩy các thủy thủ phocéen đến vào đúng ngày thủ lĩnh người Ligure đang muốn tìm một chàng trai để kết hôn với con gái của mình là công chúa GYPTIS.Theo tục lệ, sau một buổi khiêu vũ tình tứ, nàng công chúa sẽ đặt ly ruợu dưới chân ý trung nhân mà nàng sẽ chọn. Và thế là MASSALIA ra đời do tiếng sét ái tình đánh trúng vào Protis, chàng trai phiêu bạt giang hồ đến từ Phocée. Như vậy Marseille đã trở nên thành phố đầu tiên của cái quốc gia mà sau này gọi là nước Pháp lúc đó chưa ra đời. Marseille ra đời trước cả khi mà Lutèce (tức Paris) được sinh ra từ đám sương mù đầm lầy của Ile de la Cité.

          Suốt thời thượng cổ rồi thời trung cổ, thành phố Marseille phát triển ở bờ phía bắc của Cảng.Việc chọn nơi này làm đô thị không phải là không có lý do: một mặt được che chở bởi 3 ngọn đồi (Saint-Laurent,Les Moulins và Les Carmes),một mặt được các đảo Pomègues và  Ratonneau tạo nên hàng rào phòng ngự thiên nhiên. Ngoài ra còn được hưởng nguồn nước trong lành của Lacydon (Vieux Port). Chỉ vào năm 1666 dưới thời vua Louis 14 thành phố mới được mở rộng về phía nam. Nhà vua cũng ra lệnh xây 2 thành lũy để trấn giữ lối vào Cảng: Fort Saint Nicolas ở bờ bắc và Fort Saint Jean ở bờ nam.
 

 
                          MARSEILLAISE

         Marseillaise là bài quốc ca của Pháp.Bài hát này được sáng tác bởi sĩ quan công binh Pháp tên là Claude-Joseph Rouget de Lisle

   - 20/4/1792: Rouget de Lisle lúc đó là đại úy sĩ quan đồn trú ở Strasbourg vào lúc Pháp tuyên chiến với Áo rồi sau đó với Phổ.Ông thuộc Tiểu Đoàn Những Đứa Con Của Tổ Quốc.

    - 25/4/1792,Thị Trưởng của thành phố Strasbourg Frederic de Dietrich tổ chức một buổi lễ hội yêu nước trong đó có Rouget de Lisle tham dự. Ông vừa là thi sĩ vừa là nghệ sĩ tài tử đàn violon.Ở địa phương ông đã nổi tiếng với các bài hát ca ngợi tự do.Trong buổi dạ hội,ông và bà Dietrich cũng như các tướng lãnh Binh Đoàn Sông Rhin yêu cầu ông thực hiện một bài quân ca để cổ võ tinh thần binh lính.Sau đó đại úy Rouget de Lisle trở về nhà ở đường La Mésange.

 

Đêm đó ông sáng tác Bài Chiến Ca Quân Đoàn Sông Rhin. Ông đã viết 6 đoạn (couplets) và sáng tác nhạc trên chiếc đàn violon của ông. Ngày hôm sau, Rouget de Lisle đi gặp ông thị trưởng lúc đó đang ở trong vườn và trao cho ông bản nhạc mà ông đã sáng tác. Sau khi Rouget de Lisle ra về,  Dietrich liền đánh bản nhạc này trên chiếc đàn clavecin của ông và đánh giá bài hát của Rouget de Lisle là thật quá tuyệt vời. Do đó ông triệu tập các tướng lãnh và bạn bè đã hiện diện đêm hôm trước và đề nghị họ đến để thưởng thức bài hát do Rouget de Lisle vừa mới sáng tác.Thế là Bài Chiến Ca đã được Rouget de Lisle hát lần đầu tiên ở phòng khách của ông Thị trưởng, qua phần đệm đàn clavecin của bà Dietrich. Và rồi bài hát được phổ biến và lan tràn trong các buổi hội họp của các sĩ quan đồn trú.

 

Ngày 29/4/1792, Bài Chiến Ca được trình diễn công khai ở Strasbourg bởi ban nhạc Vệ Binh Quốc Gia trước sự hiện diện của 8 tiểu đoàn.Sau đó bài nầy được hát ở Lyon, Montpellier và cả nước Pháp. Bài Le Chant de Guerre Pour L’Armée du Rhin được phổ biến lan rộng đến tận miền Nam nước Pháp và được hát ở Marseille ngày 22/6/1792 bởi bác sĩ Mireur. Thật vậy, viên y sĩ trẻ tuổi này đến từ Montpellier để gia nhập tiểu đoàn các nghĩa quân marseillais. Vào lúc yến tiệc, mọi người được yêu cầu cho nghe bài hát của mình. Bác sĩ Mineur liền leo lên bàn và bắt đầu cất cao tiếng hát bài ca ngợi Quân đoàn Sông Rhin. Một lần nữa bài hát được tiếp đón một cách nồng nhiệt. Ngày hôm sau báo chí Marseillais đăng tải lời và nhạc của bài hát.Trong lúc lên đường tiến về Paris,các nghĩa quân Marseillais cùng tiểu đoàn Montpellier đã hát liên tục bài hát này.

 

Trên đường hành quân qua các phố phường làng mạc,các nghĩa quân tiếp tục cất cao tiếng hát và số người tình nguyện gia nhập đoàn quân ngày càng lớn dần lên.Cuối cùng tiểu đoàn các nghĩa quân Marseillais tiến vào Paris và tham gia vào cuộc nổi dậy ở Palais des Tuileries ngày 10/8/1792, vừa cất cao tiếng hát bài chiến ca cách mạng này.Từ đó bài hát được đặt tên là MARSEILLAISE.



                  MARSEILLE : TERRE D’ASILE 

Marseille từ bất cứ lúc nào trong lịch sử thành lập và phát triển,đã là đất tị nạn và thu nhận( Terre d’asile et d’assimilation).Thật vậy trước hết thành phố có tên là Massalia khi những người Hy lạp từ Phocée đổ bộ vào đây.Rồi sau đó vào năm 48 trước Thiên chúa Giáng sinh thành phố đổi tên là Massilia sau khi rơi vào tay Đế Quốc La Mã của César. Tiếp đến là lãnh địa của Wisigoth rồi Ostrogoth.

       Lần lượt đổ bộ vào đây trước hết là dân Hy Lạp,sau đó là các di dân,nạn nhân đến từ Latin,Do Thái,Arménie,Ý,Corse,Tây Ban Nha và sau hết là Maghrébin (bao gồm dân đến từ Tunisie,Algérie và Maroc), Việt Nam, Căm bốt, Phi châu...Vào năm 1822, dân Hy lạp đổ xô tới đây sau đợt thảm sát ở Chios bởi Thổ Nhĩ Kỳ. Các dân tị nạn sau đó đã trở nên thợ giày,thợ may,dân chài cá, thương gia... Vào cuối thế kỷ 19 đến lượt dân Ý ồ ạt đổ vào sau khi bị khánh kiệt bởi cuộc khủng hoảng nông nghiệp.

     Cuộc diệt chủng ở Arménie năm 1915 rồi sau đó cuộc chiến tranh giành độc lập của người Thổ năm 1922 đã kéo vào Marseille hàng ngàn người Arménien và Hy lạp. Henri Verneuil (1920-2002), nhà điện ảnh nổi tiếng thế giới, là con của một dân nhập cư người Arménie.Ông sinh ra ở Thổ Nhĩ Kỳ nhưng trải qua thời thơ ấu ở Marseille.

     Từ năm 1925 một làn sóng nhập cư khác đưa những người Ý chống fascite tới định cư ở đây. Yves Montand (1921-1991),diễn viên điện ảnh đồng thời là ca sĩ nổi tiếng, sinh ở Toscane (Ý).Gia đình của ông định cư ở Marseille và ông đã trải qua thời thơ ấu ở thành phố cảng này. Ông đã phải làm việc trong một xưởng làm xà phòng lúc 11 tuổi,rồi làm phu bến tàu.Có thời ông thất nghiệp không có việc làm.Nhưng rồi ông dần dần nổi danh.Trước hết ông là nghệ sĩ nhạc thính phòng (music-hall) trong các khu phố bắc Marseille. Đến năm 1939 ông trình diễn ở L’Alcazar. Chính nơi đây sự nghiệp sáng chói của ông bắt đầu.

Cưới Simone Signoret năm 1949, và ông là diễn viên điện ảnh trong gần 50 bộ phim. Năm 1960 ông quay phim cùng với Marilyn Monroe.Là nghệ sĩ có tư tưởng tả khuynh chịu dấn thân tranh đấu, nhưng ông đã xa lánh Liên Xô khi Hồng quân can thiệp vào Hung Gia Lợi và Tiệp Khắc.Cho đến cuối đời,ông không ngừng tranh đấu cho Nhân quyền, kề vai sát cánh bên cạnh Tổ Chức Ân Xá Quốc tế.

Việc nhập cư người Maghrebin đã có từ lâu. Đầu thế kỷ 20,dân Bắc Phi nhất là Algérien được đưa vào hàng loạt để làm việc trong các nhà máy dầu,nhà máy đường và các nhà máy chế biến kim loại.Họ sống chủ yếu trong khu phố La Porte d’aix
 


                      BOUILLABAISSE

        Ở Marseille người ta thường hay nói rằng: LES POISSONS VIVENT DANS L'EAU ET MEURENT DANS L'HUILE D'OLIVE (cá sống dưới nước và chết trong dầu olive ). Quy tắc này được áp dụng đúng nghĩa đối với món BOUILLABAISSE nổi tiếng này. Chữ Bouillabaisse phát xuất từ tiếng địa phương BOUILLABAISSO có nghĩa là « ça bout et on abaisse le feu » (sôi thì bớt lửa lại). Một lời giải thích kỳ cục hơn cho rằng nước canh (bouillon) này là do một nữ tu sĩ tạo ra. Khởi thủy món ăn này là món ăn của dân chài cá mà thành phần bao gồm những con cá quá nhỏ hay bị hỏng không bán được ở chợ cá.

BOUILLABAISSE do đó vốn là thức ăn của người nghèo. Nhưng ngày nay để ăn món BOUILLABAISSE thứ thiệt ở restaurant giá in nhất phải 40 Euro mỗi người!! Có một bài hát với lời ca: Pour faire une bonne bouillabaisse, il faut se lever de bon matin (để làm một món bouillabaisse ngon lành, phải thức dậy thật sớm vào buổi sáng).Nếu có thể phải đặt mua trước những poisssons de roche.. người ta sẽ dọn cho bạn trước hết là món canh với rouille (sauce rouge du pigment d'Espagne) và các croutons, sau đó là cá luộc sôi và nung đỏ hoe với dầu olive. Hương vị cũng quan trọng như cá : muối,tiêu,hành,cà chua,nghệ,tỏi...


 
                                   ZINEDINE ZIDANE

        ZINEDINE ZIDANE sinh năm 1972 trong các khu phố Bắc của Marseille.Gốc Algérie, anh lớn lên trong một khu cư xá nghèo,ở đây anh đã say mê bóng tròn từ hồi còn rất trẻ. Ở trường anh chỉ nghĩ đến bóng đá. Với sự đồng ý của bố, anh hết mình lao vào đam mê của mình và đầu quân vào Đội Bóng Thiếu Nhi của Pháp. Năm 16 tuổi anh là trung vệ cho đội bóng thành phố Cannes. Năm 18 tuổi anh trở nên cầu thủ thực thụ của đội bóng đá.

 

Là cầu thủ dẫn bóng  (meneur de jeu) của Đôi Tuyển Pháp trong trận chung kết Giải Vô Địch Bóng Đá Thế Giới năm 1998, ZIdane đã ghi 2 bàn thắng quyết định trước đội tuyển Brésil và giành cúp vô địch cho nước Pháp. Tòan thể nước Pháp đã hô to ZIZOU (biệt hiệu của Zidane). Đêm hôm chiến thắng, chân dung khổng lồ của Zidane được chiếu lên KHẢI HOÀN MÔN và Zidane trở nên biểu tượng cho sự hội nhập (intégration) kiểu Pháp. Ở Marseille chân dung của anh chễm chệ trên La Corniche de Marseille.

 

                         FORT SAINT JEAN

     Fort Saint Jean bao gồm Tour Carré (còn gọi là Tour du Roi René), Tour du Phare (còn gọi là Tour du Fanal) và các thành luỹ (fortifications) mà nhiệm vụ là trấn giữ cửa bắc của cảng và là nơi xưa nhất của thành phố.Vào thế kỷ 13, ở lối vào cảng (Port),ở ngay chỗ mà ngày nay là Tour Saint Jean đã có một tháp canh gọi là Maubert. Sau khi Marseille bị cướp phá bởi quân của Alphonse Aragon năm 1423, vua René quyết định cho xây một công trình quan trọng hơn để thay thế Tour Maubert: đó là Tour Carré và Tour du Phare  (nhìn ra biển).

         Vào thế kỷ 17,các thành lũy mới được xây dựng và bao gồm hai tháp này trong một tổng thể gọi là Fort Saint Jean. Vào thời đó, việc xây dựng các thành lũy Saint Jean cũng như Saint Nicolas là nhằm hai mục đích: răng đe dân Marseillais (có tiếng hay làm loạn) và bảo vệ cảng chống ngoại xâm. Việc chống xâm lăng thì chưa bao giờ xảy ra vì vậy pháo đài chỉ đóng vai trò răng đe đối với dân chúng mà thôi. Ngày nay FORT SAINT JEAN còn có một lối đi dạo dọc theo thành mà từ đây du khách có thể chiêm ngưỡng Jardin du Pharo ở bờ nam đối diện.

 



                     FORT SAINT NICOLAS

       Vào thời trung cổ ở đây có một nhà thờ nhỏ gọi là Chapelle Saint Nicolas và một tháp phòng ngự (tour de défense) được vua Charles d’Anjou cho xây vào thế kỷ 13 .Vào thế kỷ sau đó tháp được làm lớn ra và thành luỹ được xây dựng thêm. Tháp này nằm đối diện với một tháp khác ở bờ bắc của Vieux Port gọi là Tour Maubert. Cả hai tháp có nhiệm vụ bảo vệ lối vào cảng. Năm 1660 sau khi khuất phục được Marseille, vua Louis 14 cho xây một pháo đài hình sao thay cho tháp phòng ngự cũ. 

Pháo đài Saint Nicolas được xây dựng từ năm 1660 đến 1664.Cũng như Fort Saint Jean và Fort du Château d’If, pháo đài Saint Nicolas chỉ đóng vai trò răng đe đối với dân Marseille và chưa bao giờ được sử dụng để chống lại ngoại xâm. Mặc dầu bị cắt đôi bởi Boulevard de l’Empereur năm 1862, Fort Saint Nicolas vẫn là thành trì đẹp nhất của vùng Provence.
                                 

                            Đại Linh (18.4.2007)
                            

(Còn tiếp 1 kỳ nữa)

 

Trở về Trang Chính