|
Marseille là hải cảng xưa nhất và lớn nhất của nước Pháp
và là một thành phố quốc tế, đầy màu sắc và lý thú. Marseille
được thành lập bởi các nhà hàng hải Hy Lạp đến từ vùng Phocée
vào thế kỷ VII trước Thiên chúa Giáng sinh và cùng với Provence
đã được hợp nhất vào nước Pháp vào năm 1481. Marseille có
797.491 dân và là đô thị lớn thứ hai của Pháp. Marseille là
trung tâm cảng, công nghiệp và thương mại to lớn.
Thành phố chiếm một vị thế tuyệt vời, nằm sâu trong đáy của một
cái vịnh có bốn bề là núi đá vôi trắng xóa nhưng đồng thời lại
rộng mở huớng ra biến Địa Trung Hải với sóng nước màu thiên
thanh. Miền duyên hải của Marseille có 57 km chiều dài trong đó
Calanques chiếm 24km. Một mặt đặt chân trong nước, mặt khác lưng
quay về phía các ngọn đồi bao quanh. Marseille chiếm một diện
tích 240 km2 (gấp hai lần diện tích Paris. Khí hậu ở đây dịu nhờ
gió nhẹ thổi vào từ biển (brise de mer). Không khí khô ráo, ít
mưa nhưng nặng hạt.

LỊCH
SỬ THÀNH LẬP THÀNH PHỐ MARSEILLE BẮT ĐẦU TỪ MỘT CÂU CHUYỆN TÌNH
Với lịch sử thành lập 2600 năm,
Marseille là thành phố cổ nhất của nước Pháp.Truyền thuyết lưu
truyền rằng Marseille ra đời là do câu chuyện tình giữa một
chàng thủy thủ trẻ tuổi phiêu lưu đến từ Hy Lạp và nàng công
chúa bản địa người Ligure.Vào khoảng năm 600 trước Thiên chúa
Giáng sinh một số thủy thủ lái buôn người Hy Lạp từ Phocée (một
địa danh gần với Smyrme ngày nay, thuộc Turquie) mạo hiểm đổ bộ
lên bờ Lacydon (tức Vieux Port ngày nay). PROTIS, thủ lãnh của
các thủy thủ này đi tìm gặp thổ dân người Ligure lúc đó sống
trên một ngọn đồi quay lưng ra biển. Những người Ligure bản xứ
tỏ ra hiền hoà với các ngoại nhân đầy thiện ý này.

Theo truyền thuyết sự tình cờ đã đưa đẩy các
thủy thủ phocéen đến vào đúng ngày thủ lĩnh người Ligure đang
muốn tìm một chàng trai để kết hôn với con gái của mình là công
chúa GYPTIS.Theo tục lệ, sau một buổi khiêu vũ tình tứ, nàng
công chúa sẽ đặt ly ruợu dưới chân ý trung nhân mà nàng sẽ chọn.
Và thế là MASSALIA ra đời do tiếng sét ái tình đánh trúng vào
Protis, chàng trai phiêu bạt giang hồ đến từ Phocée. Như vậy
Marseille đã trở nên thành phố đầu tiên của cái quốc gia mà sau
này gọi là nước Pháp lúc đó chưa ra đời. Marseille ra đời trước
cả khi mà Lutèce (tức Paris) được sinh ra từ đám sương mù đầm
lầy của Ile de la Cité.
Suốt thời thượng cổ rồi thời trung cổ, thành phố Marseille phát
triển ở bờ phía bắc của Cảng.Việc chọn nơi này làm đô thị không
phải là không có lý do: một mặt được che chở bởi 3 ngọn đồi
(Saint-Laurent,Les Moulins và Les Carmes),một mặt được các đảo
Pomègues và Ratonneau tạo nên hàng rào phòng ngự thiên nhiên.
Ngoài ra còn được hưởng nguồn nước trong lành của Lacydon (Vieux
Port). Chỉ vào năm 1666 dưới thời vua Louis 14 thành phố mới
được mở rộng về phía nam. Nhà vua cũng ra lệnh xây 2 thành lũy
để trấn giữ lối vào Cảng: Fort Saint Nicolas ở bờ bắc và Fort
Saint Jean ở bờ nam.
MARSEILLAISE
Marseillaise là bài quốc ca của
Pháp.Bài hát này được sáng tác bởi sĩ quan công binh Pháp tên là
Claude-Joseph Rouget de Lisle
- 20/4/1792: Rouget de Lisle lúc đó là đại úy
sĩ quan đồn trú ở Strasbourg vào lúc Pháp tuyên chiến với Áo rồi
sau đó với Phổ.Ông thuộc Tiểu Đoàn Những Đứa Con Của Tổ Quốc.
- 25/4/1792,Thị Trưởng của thành phố
Strasbourg Frederic de Dietrich tổ chức một buổi lễ hội yêu nước
trong đó có Rouget de Lisle tham dự. Ông vừa là thi sĩ vừa là
nghệ sĩ tài tử đàn violon.Ở địa phương ông đã nổi tiếng với các
bài hát ca ngợi tự do.Trong buổi dạ hội,ông và bà Dietrich cũng
như các tướng lãnh Binh Đoàn Sông Rhin yêu cầu ông thực hiện một
bài quân ca để cổ võ tinh thần binh lính.Sau đó đại úy Rouget de
Lisle trở về nhà ở đường La Mésange.
Đêm đó ông sáng tác Bài Chiến Ca Quân Đoàn Sông
Rhin. Ông đã viết 6 đoạn (couplets) và sáng tác nhạc trên chiếc
đàn violon của ông. Ngày hôm sau, Rouget de Lisle đi gặp ông thị
trưởng lúc đó đang ở trong vườn và trao cho ông bản nhạc mà ông
đã sáng tác. Sau khi Rouget de Lisle ra về, Dietrich liền đánh
bản nhạc này trên chiếc đàn clavecin của ông và đánh giá bài hát
của Rouget de Lisle là thật quá tuyệt vời. Do đó ông triệu tập
các tướng lãnh và bạn bè đã hiện diện đêm hôm trước và đề nghị
họ đến để thưởng thức bài hát do Rouget de Lisle vừa mới sáng
tác.Thế là Bài Chiến Ca đã được Rouget de Lisle hát lần đầu tiên
ở phòng khách của ông Thị trưởng, qua phần đệm đàn clavecin của
bà Dietrich. Và rồi bài hát được phổ biến và lan tràn trong các
buổi hội họp của các sĩ quan đồn trú.
Ngày 29/4/1792, Bài Chiến Ca được trình diễn
công khai ở Strasbourg bởi ban nhạc Vệ Binh Quốc Gia trước sự
hiện diện của 8 tiểu đoàn.Sau đó bài nầy được hát ở Lyon,
Montpellier và cả nước Pháp. Bài Le Chant de Guerre Pour L’Armée
du Rhin được phổ biến lan rộng đến tận miền Nam nước Pháp và
được hát ở Marseille ngày 22/6/1792 bởi bác sĩ Mireur. Thật vậy,
viên y sĩ trẻ tuổi này đến từ Montpellier để gia nhập tiểu đoàn
các nghĩa quân marseillais. Vào lúc yến tiệc, mọi người được yêu
cầu cho nghe bài hát của mình. Bác sĩ Mineur liền leo lên bàn và
bắt đầu cất cao tiếng hát bài ca ngợi Quân đoàn Sông Rhin. Một
lần nữa bài hát được tiếp đón một cách nồng nhiệt. Ngày hôm sau
báo chí Marseillais đăng tải lời và nhạc của bài hát.Trong lúc
lên đường tiến về Paris,các nghĩa quân Marseillais cùng tiểu
đoàn Montpellier đã hát liên tục bài hát này.
Trên đường hành quân qua các phố phường làng
mạc,các nghĩa quân tiếp tục cất cao tiếng hát và số người tình
nguyện gia nhập đoàn quân ngày càng lớn dần lên.Cuối cùng tiểu
đoàn các nghĩa quân Marseillais tiến vào Paris và tham gia vào
cuộc nổi dậy ở Palais des Tuileries ngày 10/8/1792, vừa cất cao
tiếng hát bài chiến ca cách mạng này.Từ đó bài hát được đặt tên
là MARSEILLAISE.
MARSEILLE : TERRE
D’ASILE
Marseille từ bất cứ lúc nào trong lịch sử thành
lập và phát triển,đã là đất tị nạn và thu nhận( Terre d’asile et
d’assimilation).Thật vậy trước hết thành phố có tên là Massalia
khi những người Hy lạp từ Phocée đổ bộ vào đây.Rồi sau đó vào
năm 48 trước Thiên chúa Giáng sinh thành phố đổi tên là Massilia
sau khi rơi vào tay Đế Quốc La Mã của César. Tiếp đến là lãnh
địa của Wisigoth rồi Ostrogoth.
Lần lượt đổ bộ vào đây trước hết là dân
Hy Lạp,sau đó là các di dân,nạn nhân đến từ Latin,Do
Thái,Arménie,Ý,Corse,Tây Ban Nha và sau hết là Maghrébin (bao
gồm dân đến từ Tunisie,Algérie và Maroc), Việt Nam, Căm bốt, Phi
châu...Vào năm 1822, dân Hy lạp đổ xô tới đây sau đợt thảm sát ở
Chios bởi Thổ Nhĩ Kỳ. Các dân tị nạn sau đó đã trở nên thợ
giày,thợ may,dân chài cá, thương gia... Vào cuối thế kỷ 19 đến
lượt dân Ý ồ ạt đổ vào sau khi bị khánh kiệt bởi cuộc khủng
hoảng nông nghiệp.
Cuộc diệt chủng ở Arménie năm 1915 rồi sau
đó cuộc chiến tranh giành độc lập của người Thổ năm 1922 đã kéo
vào Marseille hàng ngàn người Arménien và Hy lạp. Henri Verneuil
(1920-2002), nhà điện ảnh nổi tiếng thế giới, là con của một dân
nhập cư người Arménie.Ông sinh ra ở Thổ Nhĩ Kỳ nhưng trải qua
thời thơ ấu ở Marseille.
Từ năm 1925 một làn sóng nhập cư khác đưa
những người Ý chống fascite tới định cư ở đây. Yves Montand
(1921-1991),diễn viên điện ảnh đồng thời là ca sĩ nổi tiếng,
sinh ở Toscane (Ý).Gia đình của ông định cư ở Marseille và ông
đã trải qua thời thơ ấu ở thành phố cảng này. Ông đã phải làm
việc trong một xưởng làm xà phòng lúc 11 tuổi,rồi làm phu bến
tàu.Có thời ông thất nghiệp không có việc làm.Nhưng rồi ông dần
dần nổi danh.Trước hết ông là nghệ sĩ nhạc thính phòng
(music-hall) trong các khu phố bắc Marseille. Đến năm 1939 ông
trình diễn ở L’Alcazar. Chính nơi đây sự nghiệp sáng chói của
ông bắt đầu.
Cưới Simone Signoret năm 1949, và ông là diễn
viên điện ảnh trong gần 50 bộ phim. Năm 1960 ông quay phim cùng
với Marilyn Monroe.Là nghệ sĩ có tư tưởng tả khuynh chịu dấn
thân tranh đấu, nhưng ông đã xa lánh Liên Xô khi Hồng quân can
thiệp vào Hung Gia Lợi và Tiệp Khắc.Cho đến cuối đời,ông không
ngừng tranh đấu cho Nhân quyền, kề vai sát cánh bên cạnh Tổ Chức
Ân Xá Quốc tế.
Việc nhập cư người Maghrebin đã có từ lâu. Đầu
thế kỷ 20,dân Bắc Phi nhất là Algérien được đưa vào hàng loạt để
làm việc trong các nhà máy dầu,nhà máy đường và các nhà máy chế
biến kim loại.Họ sống chủ yếu trong khu phố La Porte d’aix
BOUILLABAISSE
Ở
Marseille người ta thường hay nói rằng: LES POISSONS VIVENT DANS
L'EAU ET MEURENT DANS L'HUILE D'OLIVE (cá sống dưới nước và chết
trong dầu olive ). Quy tắc này được áp dụng đúng nghĩa đối với
món BOUILLABAISSE nổi tiếng này. Chữ Bouillabaisse phát xuất từ
tiếng địa phương BOUILLABAISSO có nghĩa là « ça bout et on
abaisse le feu » (sôi thì bớt lửa lại). Một lời giải thích kỳ
cục hơn cho rằng nước canh (bouillon) này là do một nữ tu sĩ tạo
ra. Khởi thủy món ăn này là món ăn của dân chài cá mà thành phần
bao gồm những con cá quá nhỏ hay bị hỏng không bán được ở chợ
cá.
BOUILLABAISSE do đó vốn là thức ăn của người nghèo. Nhưng ngày
nay để ăn món BOUILLABAISSE thứ thiệt ở restaurant giá in nhất
phải 40 Euro mỗi người!! Có một bài hát với lời ca: Pour faire
une bonne bouillabaisse, il faut se lever de bon matin (để làm
một món bouillabaisse ngon lành, phải thức dậy thật sớm vào buổi
sáng).Nếu có thể phải đặt mua trước những poisssons de roche..
người ta sẽ dọn cho bạn trước hết là món canh với rouille (sauce
rouge du pigment d'Espagne) và các croutons, sau đó là cá luộc
sôi và nung đỏ hoe với dầu olive. Hương vị cũng quan trọng như
cá : muối,tiêu,hành,cà chua,nghệ,tỏi...
ZINEDINE ZIDANE
ZINEDINE ZIDANE sinh năm 1972 trong các khu phố Bắc của
Marseille.Gốc Algérie, anh lớn lên trong một khu cư xá nghèo,ở
đây anh đã say mê bóng tròn từ hồi còn rất trẻ. Ở trường anh chỉ
nghĩ đến bóng đá. Với sự đồng ý của bố, anh hết mình lao vào đam
mê của mình và đầu quân vào Đội Bóng Thiếu Nhi của Pháp. Năm 16
tuổi anh là trung vệ cho đội bóng thành phố Cannes. Năm 18 tuổi
anh trở nên cầu thủ thực thụ của đội bóng đá.
Là cầu thủ dẫn bóng (meneur de jeu) của Đôi Tuyển Pháp trong
trận chung kết Giải Vô Địch Bóng Đá Thế Giới năm 1998, ZIdane đã
ghi 2 bàn thắng quyết định trước đội tuyển Brésil và giành cúp
vô địch cho nước Pháp. Tòan thể nước Pháp đã hô to ZIZOU (biệt
hiệu của Zidane). Đêm hôm chiến thắng, chân dung khổng lồ của
Zidane được chiếu lên KHẢI HOÀN MÔN và Zidane trở nên biểu tượng
cho sự hội nhập (intégration) kiểu Pháp. Ở Marseille chân dung
của anh chễm chệ trên La Corniche de Marseille.
FORT SAINT JEAN
Fort Saint Jean bao gồm Tour Carré (còn gọi
là Tour du Roi René), Tour du Phare (còn gọi là Tour du Fanal)
và các thành luỹ (fortifications) mà nhiệm vụ là trấn giữ cửa
bắc của cảng và là nơi xưa nhất của thành phố.Vào thế kỷ 13, ở
lối vào cảng (Port),ở ngay chỗ mà ngày nay là Tour Saint Jean đã
có một tháp canh gọi là Maubert. Sau khi Marseille bị cướp phá
bởi quân của Alphonse Aragon năm 1423, vua René quyết định cho
xây một công trình quan trọng hơn để thay thế Tour Maubert: đó
là Tour Carré và Tour du Phare (nhìn ra biển).
Vào thế kỷ 17,các thành lũy mới được
xây dựng và bao gồm hai tháp này trong một tổng thể gọi là Fort
Saint Jean. Vào thời đó, việc xây dựng các thành lũy Saint Jean
cũng như Saint Nicolas là nhằm hai mục đích: răng đe dân
Marseillais (có tiếng hay làm loạn) và bảo vệ cảng chống ngoại
xâm. Việc chống xâm lăng thì chưa bao giờ xảy ra vì vậy pháo đài
chỉ đóng vai trò răng đe đối với dân chúng mà thôi. Ngày nay
FORT SAINT JEAN còn có một lối đi dạo dọc theo thành mà từ đây
du khách có thể chiêm ngưỡng Jardin du Pharo ở bờ nam đối diện.

FORT
SAINT NICOLAS
Vào thời trung cổ ở đây có một nhà thờ
nhỏ gọi là Chapelle Saint Nicolas và một tháp phòng ngự (tour de
défense) được vua Charles d’Anjou cho xây vào thế kỷ 13 .Vào thế
kỷ sau đó tháp được làm lớn ra và thành luỹ được xây dựng thêm.
Tháp này nằm đối diện với một tháp khác ở bờ bắc của Vieux Port
gọi là Tour Maubert. Cả hai tháp có nhiệm vụ bảo vệ lối vào
cảng. Năm 1660 sau khi khuất phục được Marseille, vua Louis 14
cho xây một pháo đài hình sao thay cho tháp phòng ngự cũ.
Pháo đài Saint Nicolas được xây dựng từ năm 1660 đến 1664.Cũng
như Fort Saint Jean và Fort du Château d’If, pháo đài Saint
Nicolas chỉ đóng vai trò răng đe đối với dân Marseille và chưa
bao giờ được sử dụng để chống lại ngoại xâm. Mặc dầu bị cắt đôi
bởi Boulevard de l’Empereur năm 1862, Fort Saint Nicolas vẫn là
thành trì đẹp nhất của vùng Provence.
Đại Linh (18.4.2007)
(Còn tiếp 1 kỳ nữa)
Trở về Trang Chính
|