|
1/ TRÀ XANH BẢO VỆ
CHỐNG BỆNH SIDA ?
Các nhà khoa học đã nhận diện một cấu
chất trong trà xanh có khả năng đua tranh với siêu vi khuẩn HIV
bằng cách ngăn cản tác dụng của siêu vi khuẩn này lên hệ miễn
dịch.Chất cấu thành của trà xanh nêu trên là épigallocatéchine
gallate (EGCG).EGCG đến tọa vị trước các thụ thể (récepteurs)
CD4 của các T4 và như vậy ngăn cản virus HIV liên kết với hệ
miễn dịch.Theo M.Willamson,sự việc uống trà xanh có thể làm giảm
nguy cơ bị nhiễm trùng bởi HIV và giới hạn sự khuếch tán của
siêu vi khuẩn.Tuy nhiên các nhà nghiên cứu cho biết rằng nước
trà xanh không phải là một điều trị chống bệnh Sida và dầu sao
đó cũng không phải là một phương cách chắc chắn đề phòng ngừa
nhiễm trùng HIV.
Đúng hơn nếu trà
xanh kết hợp với các thuốc điều trị thường dùng có thể góp phần
tạo cho các bệnh nhân có huyết thanh dương tính một cuộc sống có
chất lượng hơn. Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng nghiên cứu của
họ đang còn ở trong một giai đoạn rất sớm sủa: còn cần phải thực
hiện các nghiên cứu trên động vật trước khi có thể rút ra những
kết luận về một hiệu quả bảo vệ khả dĩ của trà xanh.Các nhà
nghiên cứu cũng nhắc lại rằng các nghiên cứu chỉ quan tâm đến
khả năng in vitro của một thành phần hóa học của trà xanh trong
việc phong tỏa sự nối kết giữa HIV với những CD4 của người.
Nhưng đã nhiều lần được chứng tỏ rằng các chất có khá năng in
vitro ngăn cản một nhiễm trùng do HIV lại không có thể như vậy
trong tình huống thực tế.
( LE
JOURNAL DU MEDECI 17/4/2007)
2/ TỶ LỆ TỬ VONG DO UNG THƯ VÚ GIẢM RÕ
RỆT HƠN Ở NHỮNG PHỤ NỮ DƯỚI 70 TUỔI
Giữa năm 1990
và 2003,tỷ lệ tử vong do ung thư vú đã giảm 24% ở Hoa Kỳ.Sự suy
giảm này rõ rét nhất ở các phụ nữ dưới 70 tuổi có một ung thư
dương tính đối với các thụ thể nhạy cảm oestrogènes (récepteurs
aux oestrogènes).
Năm 1989,tỷ lệ tử vong do ung thư vú lên đến 33
trường hợp đối với 100.000 phụ nữ mỗi năm. 15 năm sau,tỷ lệ hạ
xuống 25/100.000/năm, hoặc một sự giảm sút 24%. « Mặc đầu sự
giảm sút xảy ra trong hầu hết các nhóm nghiên cứu, nhưng rõ rệt
nhất là ở các phụ nữ dưới 70 tuổi có khối u dương tính đối với
các thụ thể nhạy cảm oestrogènes.Ở trong nhóm này,sự giảm tỷ lệ
tử vong là 38% trong khi tỷ lệ tử vong vẫn không thay đổi đối
với các phụ nữ trên 70 tuổi có khối u âm tính với các thụ thể
này ».
Ismail Jatoi, thuộc
Trung tâm Y Khoa Hải Quân Hoa Kỳ, người đã tiến hành công trình
nghiên cứu với sự cộng tác của các nhà chuyên khoa Ung Thư Học
của Viện Ung Thư Quốc Gia,đã phát biểu như vậy.
Các kết quả đã được công bố trong Journal of
Clinical Oncology số 2/4.Các con số của Ismail Jatoi đưa ra được
căn cứ trên 234.828 bệnh nhân nữ bị ung thư vú invasif và đã
được theo dõi bởi Viện Ung Thư Quốc Gia của Hoa Kỳ.
CẢI THIỆN CHẨN ĐOÁN VÀ
ĐIỂU TRỊ.
Các nhà nghiên cứu phát hiện hai khuynh hướng quan trọng cho
phép họ giải thích các kết quả. Sử dụng kỹ thuật chụp quang
tuyến vú (mammographie) như là dụng cụ để phát hiện thứ hai và
sự đưa vào sử dụng tamoxène, một chất có tác dụng kềm hãm một
cách đặc hiệu lên sự tăng trưởng các tế bào ung thư nhạy cảm với
oestrogènes. »tuy nhiên các nhà nghiên cứu không thể giải thích
tại sao tỷ lệ tử vong giảm ít nhanh hơn ở các phụ nữ lớn tuổi
hơn.Có lẽ điều này có thể được giải thích là trong thực tế, một
điều trị bổ trợ (thérapie adjuvante) ở các phụ nữ lớn tuổi này
được thực hiện chậm hơn.
CÁC THUỐC MỚI
Ismail Jatoi dự kiến rằng những con số tỷ lệ
tử vong này sẽ tiến triển hoàn toàn khác trong 10 năm đến: sự
thương mãi hoá mới đây cũng như sự thử nghiệm các dược phẩm mới
có thể mang lại lợi ích, nhất là đối với các phụ nữ có ung thư
vú âm tính đối với các thụ thể nhạy cảm oestrogènes, là nhóm
bệnh nhân ít được nghiên cứu cho mãi đến tận ngày nay.Thật vậy
nhiều ung thư âm tính đối với các thụ thể nhạy cảm oestrogènes
lại dương tính đối với yếu tố tăng trưởng biểu bì (facteur de
croissance épidermique) HER2. Bắt đầu từ năm qua,các ung thư có
HER2 dương tính có thể được điều trị bổ trợ (traitement
adjuvant) bằng trastuzumab,một kháng thể monoclonal chống lại
thụ thể của yếu tố tăng trưởng biểu bì(HER2).Vì lẽ công trình
nghiên cứu của Viện Ung Thư Quốc Gia của Hoa Kỳ diễn ra từ 1990
đến 2003,nên tác động của loại thuốc mới chống ung thư này chưa
được đánh giá rõ ràng.
( LE
JOURNAL DU MEDECIN 17/4/2007)
3/ SẢN XUẤT TINH DỊCH TỪ
CÁC TẾ BÀO GỐC?
Một nhóm nghiên
cứu người Đức đã thành công trên người một thí nghiệm đã được
thực hiện ở loài chuột.Các áp dụng được dự kiến để điều trị vài
trường hợp vô sinh ở nam giới.
Các nhà nghiên cứu của Đại Học Đức Gottingen
loan báo là đã thành công chế tạo các tế bào tiền thân
(précurseur) của tinh trùng từ các tế bào gốc của tủy xương
(cellules souches de moelle oseuse) lấy ở những người tình
nguyện nam.Nghĩa là những tế bào gốc trưởng thành. Nếu như điều
này được công nhận thì thông tin được công bố trong tạp chí
Reproduction: Gamete Biology số 13/4,sẽ mở ra những triển vọng
đáng phấn khởi để chữa vài trường hợp vô sinh nam giới,nhất là
sau khi đã trải qua hoá học trị liệu pháp.
Kỹ thuật này cũng có thể tạo khả năng cho
các đồng tính luyến ái nữ có thể sinh con đẻ cái mà không cần
đến một người đàn ông nếu có thể thu được các tế bào tiền thân
của tinh trùng từ các tế bào tủy xương lấy ở một phụ nữ » Giáo
Sư Karim Nayernia,tác giả chính của công trình nghiên cứu đã
phát biểu như vậy. Nhà nghiên cứu này đã rời bỏ nước Đức để theo
đuổi công trình nghiên cứu tại North East England Stem Cell
Institute(Nesci) ,ở Newcastle,Anh Cát Lợi.Đây là lần đầu tiên
người ta thành công thu được bằng phương pháp nhân tạo các tế
bào bào mầm(cellules germinales) như thế.Những nguyên tinh bào
(spermatogonie) là những tế bào tiền thân đầu tiên thân của các
tính trùng.Để thực hiện điều này,các nhà nghiên cứu trước hết đã
thành công phân lập được các tế bào trung mô (cellules
mésenchymateuses) của tủy xương và cấy chúng trong môi trường.
Mãi cho đến nay,các tế bào rất đặc biệt này biến hóa thành rất
nhiều loại tế bào cơ.Nhưng bây giờ đây,bằng một hiện tượng gọi
là chuyển biệt hóa (transdifférenciation), các nhà nghiên cứu đã
thành công làm các tế bào này tiến hoá thành các nguyên tinh
bào.
« Mục tiêu sắp đến của chúng ta sẽ là xem
có khả nàng biến đổi các tế bào tiền thân này thành các tinh
trùng trưởng thành trong phòng thí nghiệm hay không ».Karim
Nayernia giải thích như vậy. Một công trình nghiên cứu sẽ phải
cần 3 đến 5 năm thí nghiệm. Chúng ta sẽ cộng tác với các nhà
khoa học khác của Nesci để đẩy nhanh những nghiên cứu này »
( LE FIGARO
18/4/2007)
4/ PHÁT HIỆN TRISOMIE
Một ngày nào đó xét nghiệm máu
sẽ thay thế chọc dò màng ối (amniocentèse) để phát hiện trisomie
21? Chúng ta đang tiến gần đến điều đó, nếu tin vào các công
trình của Ravinder Dhallan và các cộng sự viên.Các nhà nghiên
cứu này đã xác lập một phương thức cho phép phân biệt trong máu
mẹ các nhiễm sắc thể 13 và 21 của thai nhi (mang những bất
thường là nguyên nhân của chứng trisomie) và nhận biết các lệch
lạc nhiễm sắc thế (aberrations chromosomiques).Được thử nghiệm
trên 60 phụ nữ,kỹ thuật này đã cho phép phát hiện 3 trường hợp
trisomie,trong đó 2 trường hợp được xác nhận.Độ nhạy cảm của kỹ
thuật là 66,2% và cần phải được xác nhận trên một thử nghiệm có
quy mô lớn hơn.
( LA RECHERCHE 4/2007)
5/ 2,34
Đó là thừa số gia tăng của nguy cơ tai biến
mạch máu não trong trường hợp bệnh võng mạc do đái đường
(rétinopathie diabétique),theo các dữ kiện thu được trên 1600
bệnh nhận được theo dõi trong gần 8 năm.Bệnh võng mạc do đái
đường là một bệnh của mao mạch võng mạc.Là nguyên nhân đầu tiên
gây mù loà trong các nước phát triển,bệnh võng mạc do đái đường
gây nên bởi tăng đường huyết kinh niên và không được điều trị
đúng cách.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2007)
6/ CAI THUỐC LÁ CÓ LỢI
Một nhóm nhà nghiên cứu Ái Nhĩ Làn
đã khảo sát một nhóm 554 người bị cao huyết áp.Những người này
lại được chia thành 3 nhóm: nhóm 1 gồm 150 người nghiện
thuốc,nhóm 2 gồm 268 người không bao giờ hút thuốc và nhóm 3 gồm
136 người trước đây đã hút thuốc.Nhóm 3 lại được chia thành 3
nhóm: những người nghiện thuốc đã dừng hút thuốc từ dưới 1
năm,từ 1 đến 10 năm ,từ hơn 10 năm.Bằng cách đo sóng của mạch
động mạch (onde du pouls artériel) (phản ánh tốt bề dày của
động mạch),các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng thuốc lá
làm dày thành động mạch tỷ lệ với thời gian nhiễm độc thuốc lá
nhưng thành động mạch này có thể mỏng đi sau khi ngừng thuốc và
ngay cả có thể trở lại bình thường trong vòng 10 năm.
(LA LIBRE MATCH ,19/4-26/4/2007)
7/ CÁ và OMEGA-3 NGĂN NGỪA BỆNH ALZHEIMER
Hai công trình nghiên cứu mới chứng tỏ rằng sự cung cấp đầy đủ
oméga-3 trong dinh dưỡng cho phép làm giảm sự suy thoái khả năng
nhận thức xảy ra khi tuổi càng cao
Bệnh Alzheimer là một trong trong mối đe
dọa đối với sức khỏe của ngươi già và do đó đối với ngân sách
của Y Tế Cộng Đồng.Thật vậy người ta ước lượng rằng 20 đến 40%
những người trên 80 tuổi có thể bị bệnh này.Trong bối cảnh như
thế ta có thể tự hỏi xem liệu có những phương tiện để phòng ngừa
sự suy thoái của quá trình nhận thức xảy ra trong bệnh này hay
không.Cá và dầu cá giàu 2 chất acide béo oméga-3 có khá nhiều
hứa hẹn về điểm này, đó là acide-docosahéxaénoique(DHA) và acide
eicosapentaénoique (EPA).
Loại acide béo này chủ yếu được tìm thấy trong cá và tôm ốc
ngao sò(fruits để mer), nước ngọt hay nước mặn. DHA cũng có thể
được tổng hợp từ acide alpha-linolénique(ALA), hiện diện trong
vài loại dầu thực vật,nhưng sự tổng hợp này không được hiệu quả
lắm.Ngoài ra ở những người bị bệnh Alzheimer,chất xám của thuỳ
trán và của ngư mã (hippocampe) có nồng độ DHA ít hơn so với
người lành manh.
Ngay từ đầu những năm 90,các công trình
nghiên cứu đã được tiến hành để xem việc ăn cá có cho phép làm
chậm lại sự suy thoái của khả năng nhận thức của người già hay
không. Trong ấn bản số tháng 4 của American Journal of Clinical
Nutrition,William và Sonja Connor thuộc Đaị Học Portland (Hoa
Kỳ) cho biết rằng các nhà nghiên cứu vừa mới chứng tỏ rằng các
người có nồng độ DHA trong huyết thanh cao nhất ít có nguy cơ bị
sa sút trí tuệ (démence) hơn những người khác và rằng nếu ăn cá
3 lần mỗi tuần thì khả năng nhân thức được bảo vệ hơn là chỉ ăn
cá một lần mỗi tuần mà thôi.
Một công trình được thực hiện bởi những
nhà nghiên cứu Hoà Lan, Boutje Maria van Gelder và các công sự
viên, nhằm vào sự liên hệ giữa việc ăn cá và acide béo oméga-3
(EPA và DHA) và sự suy thóai khả năng nhận thức trong vòng 5
năm. Các nhà nghiên cứu đã phân tích các dữ kiện liên quan đến
việc ăn cá của 210 người tham gia công trình nghiên cứu này
(tuổi từ 70 đến 89 tuổi vào năm 1990). Họ cũng đã đánh giá các
chức năng nhận thức vào năm 1990 và 1995. Các kết quả cho thấy
rằng những người thích ăn cá,trong vòng 5 năm đã ít bị suy thoái
khả năng nhận thức hơn nhiều so với những người không ăn cá.
(LE
JOURNAL DU MEDECIN 20/4/2007)
8/ NHỮNG HẬU QUẢ CỦA SỰ SUY DINH DƯỠNG TRONG THỜI KỲ CÓ THAI
Bị nạn đói (famine) trong thời kỳ thai nghén sẽ liên kết với sự
gia tăng thể trọng và tình trạng tích mỡ (adiposité) nơi các thế
hệ về sau (nữ giới) khi chúng lớn lên.
Nạn đói phải chăng đóng một vai trò
trên hậu duệ? Ít có nghiên cứu đã phân tích những hậu quả của
tình trạng kém dinh dưỡng của phụ nữ có thai lên kích thước con
cái mình lúc chúng trưởng thành. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ và
Tân Tây Lan (Aryeh Stein và các cộng sự viên) đã muốn biết xem
sự giảm hấp thụ năng lượng của các phụ nữ có thai trong thời kỳ
nạn đói hoành hành ở Hoà Lan năm 1944- 45 đã có những hậu quả
lên kích thước, thể trọng và các dấu hiệu tích mỡ của con cái họ
lúc chúng trưởng thành hay không. Các nhà nghiên cứu đã tuyển mộ
những người sinh ra ở miền Tây Hoà Lan từ tháng giêng 1945 đến
tháng ba 1946. Các bà mẹ của những người này đã bị nạn đói (dưới
900 kcal/ngày) ngay trước khi thai nghén hoặc suốt trong thời kỳ
này).
Một nhóm thứ hai gồm những người sinh vào năm
1943 hay 1947 và những bà mẹ của những người này không bị nạn
đói trong lúc có thai.
Một nhóm thứ ba gồm những trẻ sinh đôi cùng
giống tính mà các bà mẹ không bị đói kém trong lúc thai nghén.
Các kết quả, xuất hiện trong American Journal of Clinical
Nutrition cho thấy rằng bị đói kém trong thời kỳ thai nghén liên
kết với sự gia tăng (xảy ra ở nữ giới chứ không phải nam giới)
về thể trọng và lượng mỡ có thể cao hơn trong vài tổ chức mô.
Trái lại tình trạng đói kém không ảnh hưởng lên kích thước. Theo
các tác giả, sự kém dinh dưỡng có thể gây nên sự gia tăng tích
mỡ trên hậu duệ nữ khi chúng lớn lên.
( LE JOURNAL DU MEDCIN 20/4/2007)
9/ NHIỄM ĐỘC THUỐC LÁ
THỤ ĐỘNG (TABAGISME PASSIF) VÀ BỆNH LÝ TAI MŨI HỌNG CỦA TRẺ EM
Sự ảnh hưởng của nghiện thuốc lá thụ
động trên bệnh lý phổi đã được nghiên cứu tương đối tốt ở người
lớn và trẻ em.Ảnh hưởng của yếu tố nguy hại này lên bệnh lý tai
mũi họng của trẻ em trái lại ít được nghiên cứu đầy đủ.
Theo các dữ kiện của Trung Tâm Kiểm Tra
và Phòng Bệnh (Centers for Disease Control and Prevention) thì
cứ 3 trẻ tuổi từ 2 tháng đến 5 năm sẽ có một trẻ tiếp xúc với
nhiễm độc thuốc lá thụ động trong gia đình.
Ở các thiếu niên, nhiễm độc thuốc lá thụ
động kèm theo nguy cơ gia tăng các triệu chứng cấp tính và mãn
tính của vùng mũi và thường ho về đêm hơn.
Ở trẻ em 4-11 tuổi cảm cúm và các triệu chứng của bệnh lý
xoang (pathologie sinusale) thường xảy ra hơn. Người ta cũng ghi
nhận tỷ lệ viêm tai giữa gia tăng trong 6 tháng đầu sau khi sinh
với nguy cơ bị các vấn đề thính giác.Có đến 2 triệu viêm tai mỗi
năm được gán cho nhiễm độc thuốc lá thụ động và đối với các trẻ
sống trong một môi trường mà người ta hút hơn 3 gói thuốc mỗi
ngày thì nguy cơ nhập viện để đặt « diabolo » được nhân gấp 4
lần so với các trẻ không bị nhiễm.
Nhiễm thuốc lá thụ động cũng là nguyên
nhân của viêm họng (angine),nhất là viêm họng tái diễn và tỷ lệ
cắt bỏ hạch hạnh nhân và sùi vòm họng (adénoido-amygdalectomie)
cao hơn.
Ở mọi lứa tuổi của trẻ em và thiếu niên,
chứng ngáy lúc ngủ thường xảy ra hơn. Điều này có lẽ là do gia
tăng sức cản đối với luồng khí vào đường mũi.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 17/4/2007)
10/ BỆNH PARKINSON,
MỘT NGUY CƠ NGHỀ NGHIỆP
Nhà nông,thợ mỏ, thợ làm thùng xe
(carrossier), thợ hàn (soudeur) và giáo viên dễ có nguy cơ hơn
mắc bệnh Parkinson. Những người làm 4 nghề nghiệp đầu, trái với
những nghề nghiệp khác, phải tiếp xúc với các thuốc trừ sâu
bệnh(pesticide) và các chất kim loại có độc tính đối với thần
kinh ( métaux neurotoxiques).Còn những giáo viên thì thường
xuyên bị stress.
(LE
GENERALISTE 19/4/2007)
BS
Nguyễn Văn Thịnh
23/4/2007
Trở về Trang Chính
|