|
1/ SỰ PHÁT SINH TĂNG
VỌT CỦA VI KHUẨN TRONG RUỘT TRẺ SƠ SINH
Khi một em bé vừa mới chào đời thì trong ống tiêu hóa
hoàn toàn vô trùng vì tuyệt đối không có một vi khuẩn nào cả.
Nhưng rất nhanh chóng ống tiêu hóa của
trẻ sơ sinh sẽ bị xâm chiếm bởi một hệ vi khuẩn ruột ( flore
bactérienne intestinale) với số lượng vượt quá rất nhanh một
trăm tỷ con.
Các nhà nghiên cứu của trung tâm y khoa
của đại học Stanford và của Howard Hughes Medical Center ở Hoa
Kỳ đã quan tâm về phương cách các vi khuẩn này sinh sôi nảy nở
trong môi trường ruột suốt trong năm đầu của đời sống. Công
trình nghiên cứu được công bố hôm qua trong tờ báo PlaS (Public
Library of Science Biology). Nhờ sự sử dụng các micropuce di
truyền cho phép phát hiện rất nhanh một loai vi khuẩn nào đó,
công trình nghiên cứu cho thấy mỗi trẻ sơ sinh có một profil vi
khuẩn riêng như thế nào. Và điều này xảy ra trong những giai
đoạn khác nhau của năm đầu của đời sống. Các nhà nghiên cứu nhấn
mạnh rằng có một biến thiên lớn trong thành phần hệ khuẩn ruột
của một nhũ nhi.Nhưng sau 12 tháng đầu tiên đầy chao đảo này,
profil vi khuẩn của em bé trở nên giống với profil vi khuẩn của
người lớn. Bởi vì những vi khuẩn tuyệt đối cần thiết cho sự phát
triển tốt của loài xuất hiện rất nhanh.
CẦN THIẾT CHO HỆ MIỄN
DỊCH.
Là bộ máy đặc biệt biến hóa thức ăn
thành những chất dinh dưỡng trọng yếu, ống tiêu hóa của chúng ta
chứa hàng trăm ngàn tỷ các vi khuẩn tốt tham gia vào quá trình
tiêu hóa. Các vi khuẩn này cũng tham gia vào việc điều hòa sự
hấp thụ mỡ, sự kích thích tạo nên những huyết quản mới và có lẽ
còn tham gia vào nhiều chức năng khác chưa được biết đến..
“Tôi không biết một con người sẽ trở nên như thế nào nếu
ống tiêu hóa của người này không được xâm chiếm bởi hàng tỷ vi
khuẩn này ». Nhà nữ di truyền học Chana Palmer, tác giả chính
của tài liệu xuất bản, lúc còn là nữ sinh viên trong khoa sinh
hóa của giáo sư Patrick Brown ở Stanford, đã nói đùa như vậy.”
Các vi khuẩn này không những giúp rút các chất dinh dưỡng chủ
yếu ra từ thức ăn, mà còn cần thiết cho hệ miễn dịch nhờ đó bảo
vệ chúng ta chống lại những vi khuẩn gây hại ”.
Các nhà nghiên cứu đã phân tích hệ sinh
thái (écosystème) ruột của 14 trẻ sơ sinh mạnh khỏe, sinh đủ
tháng và được nuôi bằng sữa mẹ.Việc phân tích được căn cứ trên
sự xem xét phân vào những thời điểm chủ yếu của quá trình tiến
triển của các em bé này ( bắt đầu ăn thức ăn rắn, dùng kháng
sinh..).Trung bình 26 mẫu nghiệm đã được thực hiện từ lúc sơ
sinh đến khi trẻ được một tuổi. Các mẫu nghiệm này được đem so
sánh với các mẫu nghiệm của bố mẹ và được phân tích nhờ các
micropuce ADN.
Ngày sau khi sinh , ruột của trẻ sơ
sinh bị xâm chiếm bởi những vi khuẩn có nguồn gốc rất khác nhau,
phát xuất từ âm đạo của người mẹ lúc sổ thai, từ núm vú mẹ khỉ
bú hoặc do tiếp xúc thân thể với những người thân sờ mó nâng
niu. Do đó các colonies vi khuẩn này nở rất nhanh trong ruột của
trẻ sơ sinh. Ngoại trừ trẻ sinh bằng césarienne không được tiếp
xúc với niêm mạc âm đạo của người mẹ.Vào tuần lễ đầu sau khi
sinh, hệ vi khuẩn của trẻ sinh bằng césarienne it phong phú hơn
so với trẻ sinh bằng đường tự nhiên.
Nhưng những colonies vi khuẩn này chịu
những thay đổi rất quan trọng với ngày tháng trôi qua. ”Chúng
tôi không có giải thích có giá trị cho sự kiện vì sao một họ vi
khuẩn này thay thế một họ khác ”
Ngược lại nghiên cứu này mang lại một điều ngạc nhiên có
tầm cỡ về nhóm Bifidus, một loài có tiếng về những tác dụng có
lợi. Một vài nghiên cứu đã cho thấy rằng ruột của một trẻ được
nuôi bằng sữa mẹ chứa lượng vi khuẩn Bifidus nhiều hơn. Phải cần
nhiều tháng để họ vi khuẩn này xuất hiện. Nhưng sau cùng trẻ sơ
sinh cần 12 tháng để ruột của chúng có một hệ sinh thái gần
giống với người trưởng thành (LE FIGARO 26/6/2007)
2/ MORPHINE CÓ TÁC DỤNG CỰC NHANH DÙNG BẰNG ĐƯỜNG MŨI.
Các chuyên gia hy vọng chẳng bao lâu
nữa sẽ sử dụng những dạng morphine có tác dụng rất nhanh để
chống lại những con đau kịch phát.
Những phương thức điều trị mới hoặc
đúng hơn những hình thức cho thuốc mới (sử dụng morphine bằng
đường mũi hoac lợi răng) với tác dụng trong vài phút ( trong khi
đó bơm morphine tác dụng trong 15 đến 20 phút) đang được thực
nghiệm trên những bệnh nhân bị ung thư. Khám phá này cho phép
cải thiện việc điều trị những đau đớn đôi khi không chịu nỗi
trên nhiều bệnh nhân, nhờ thời gian tác đúng rất ngắn.” và nhất
là trong những trường hợp đau đớn không ổn định. Các chuyên gia
đã nhấn mạnh trong hội nghị Eurocancer ở Paris cuối tháng 6 vừa
qua.
Bởi vì sự đau đớn trong ung thư không
luôn luôn ổn định : người bệnh đang không đau đớn gì cả hoặc chỉ
đau chút ít nhờ một điều trị chống đau duy trì và đột nhiên trở
thành nạn nhân cho những cơn kịch phát đau đớn gây nên do cử
động (ví dụ từ tư thế nằm sang tư thế ngồi), đặc biệt trong
trường hợp ung thư xương ở đốt sống, háng, chi dưới, hoặc những
đau đớn được gọi là cuối liều (douleurs de fin de dose), khi
những chất chống đau được cho trong một thời gian dài có tác
dụng chấm dứt sớm. 66% những bệnh nhân có những cơn kịch phát
đau đớn ngay cả khi điều trị duy trì có hiệu quả. Tuy vậy, “ 30%
những người bị dằn vặt bởi ung thư hoặc các di chứng trên thực
tế đã không nhận một điều trị chống dau nào cả ”. BS Thierry
Delorme bs chuyên khoa của trung tâm chống ung thư, phụ trách
phòng khám chống đau của Viện Curie, Paris, đã phát biểu như
vậy.
CÁC BÁC SĨ GIA ĐÌNH Ở TUYẾN ĐẦU.
Hai công
trình nghiên cứu được thực hiện cuối những năm 1980 rồi vào năm
2002, đã chứng tỏ rằng 57% những bệnh nhân bị ung thư bị đau đớn
nhưng đã không được xem xét đến hoặc không được điều trị đúng
cách. 60% trong số những bệnh nhân này có mức độ đau đớn được
đánh giá từ trung bình đến mạnh. “Sự việc đã chẳng tiến triển
bao nhieu nếu chúng ta không biết thật sự là tại sao”
Ngày nay một số lượng lớn những bệnh nhân này được điều
trị tại gia. Chỉ một thiểu số là được nhập viện mà phần lớn là
bệnh viện một ngày (hopital de jour). Họ có thể trở về nhà buổi
chiều tối sau khi đã nhận phóng xạ trị liệu, hóa học trí liệu và
những điều trị khác.
( LE
FIGARO 30/6/2007)
3/ VÀI LOẠI THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM CÓ TÁC
DỤNG XẤU LÊN MẬT ĐỘ XƯƠNG.
Những công trình nghiên cứu mới đã
nhận thấy rằng việc sử dụng các thuốc chống trầm cảm thuộc loại
SSRI được liên kết với sự gia tăng tốc độ mất tỷ trọng xương
(bone density) nơi người già.
Các nhà nghiên cứu đã khảo sát 2.722 phụ nữ có tuổi trung
bình 78 và theo dõi họ trong vòng 4,9 năm. Sau khi đã xét đến
thể trọng, chế đó ăn uống, việc nghiện thuốc lá và những vấn để
sức khỏe khác, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng những người
dùng SSRI có tỷ trọng xương háng bị giảm trung bình 0,82% mỗi
năm, so với tỷ lệ 0,47% mỗi năm nơi những người không sử dụng
loại thuốc này. Đối với những phụ nữ sử dụng thuốc chống trầm
cảm thuộc loại tricyclic thì mức độ giảm tỷ trọng xương cũng
giống như đối với những người không hề dùng thuốc chống trầm
cảm.Các tác giả thừa nhận rằng bệnh trầm cảm tự bản thân có thể
liên kết với việc mất tỷ trọng xương và nhấn mạnh rằng những
điều họ tìm thấy không thể được tổng quát hóa.
Trong một công trình nghiên cứu thứ
hai tiến hành trên 5.995 đàn ông 65 tuổi hoặc hơn, mật độ chất
khoáng của xương thấp hơn 3,9% ở xương háng và 5,9% ở xương sống
vùng thắt lưng (lumbar spine) nơi những người dùng thuốc so với
những người không sử dụng.Tuy nhiên trong nghiên cứu này,chỉ có
160 người là sử dụng SSRI, một tỷ lệ nhỏ hơn dân số tổng quát.
Và kết quả chỉ căn cứ trên một phân tich chứ không phải dựa trên
sự tiến triển với thời gian.
“ Những nghiên cứu này không chứng tỏ mối
liên hệ nhân quả giữa SSRI và việc mất tỷ trọng xương”. BS
Elizabeth Haney, tác giả lãnh đạo công trình nghiên cứu thứ hai
đã phát biểu như vậy.Và bà nói thêm rằng không ai được phép
ngừng dùng thuốc chống trầm cảm căn cứ trên kết quả của những
tìm thấy này.
Cả hai công trình nghiên cứu được công
bố trên số 25/6 của tờ The Archives of Internal Medicine.(
INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 12/7/2007)
4/ SELENIUM VÀ NGUY CƠ MẮC BỆNH
ĐÁI ĐƯỜNG.
Các kết quả của công trình nghiên
cứu trên động vật đã gợi ý rằng selenium với tính chất chống oxi
hóa đã cải thiện chuyển hóa đường. Do đó các nhà nghiên cứu đã
quyết định xem selenium có làm giảm tỷ lệ mắc bệnh đái đường
loại 2 hay không. Họ đã nhận thấy rằng selenium trái lại có thể
làm gia tăng thật sự nguy cơ bị bệnh này. .
Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các dữ
kiện từ 1.250 người với tuổi trung bình 63, nguyên khởi đã được
tuyển mộ để trắc nghiệm selenium như là tác nhân phòng ngừa ung
thư. 1/2 trong số những người tình nguyện này uống một liều
lượng 200 microgram selenium mỗi ngày và ½ kia uống một viên
thuốc giống hệt nhưng là thuốc giả. Những người tình nguyện này
được theo dõi trong vòng 7,7 năm. 58 người uống selenium và 39
người trong số những người uống thuốc giả, đã mắc phải bệnh đái
đường loại 2.
Công trình đã được công bố on line,sẽ xuất hiện trên ẩn
bản 21/8 của tờ the Annals of Internal Medicine.
Một cách tổng quát, những người uống
selenium bổ sung có nguy cơ mắc phải đái đường loại hai 1,5 lần
cao hơn so với những người không uống, và nồng độ selenium trong
máu càng cao thi nguy cơ mắc phải đái đường càng lớn.
(INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE
12/7/2007).
5/ BỆNH MIGRAINE VÀ LỢI TỨC THẤP.
Một công trình nghiên cứu trên 32.000
thiếu niên khắp Hoa Kỳ đã nhận thấy rằng chứng đau nửa đầu
(migraine) thường được thấy nhiều hơn trong những gia đình có
lợi tức thấp, khi không có tiền sử gia đình về chứng đau đầu như
thế.
Công trình nghiên cứu cũng nhận thấy rằng migraine
thường thấy ở con gái nhiều hơn ở con trai và ở thiếu niên da
trắng hơn là da đen.Tỷ lệ mắc bệnh migraine ở người trưởng thành
cũng cao hơn nhiều trong những nhóm có trình độ giáo dục thấp
hoặc lợi tức thấp.
Công trình
nghiên cứu được công bố trong số 3/7 của tờ Neurology. Các nhà
nghiên cứu đã sử dụng một bảng câu hỏi để nghiên cứu một mẫu
khảo sát gồm 120.000 hộ, phân tích các dữ kiện từ các trả lời
của 18.714 trẻ em tuổi từ 12 đến 19.
Khi cha hoặc
mẹ bị bệnh thì không có sự liên quan giữa tỷ lệ mắc bệnh
migraine với lợi tức thấp.Nhưng khi cả cha lẫn mẹ không bị
migraine thì tỷ lệ mắc bệnh migraine trong các thiếu niên giảm
khi lợi tức gia đình tăng cao.
2,9 % các thiếu niên trong các gia đình có lợi tức 90.000
dollar hoặc hơn bị migraine, so với 5,5% các thiếu niên trong
gia đình có lợi tức dưới 22.500 dollar.
Các tác giả công nhận rằng mối liên hệ có thể
không phải do lợi tức thấp nhưng do bệnh trầm cảm hoặc những yếu
tố khác.Thế nhưng bảng câu hỏi đã không đánh giá những vấn đề
như vậy.
« Dầu lợi tức thế nào chăng nữa,
migraine vẫn là một bệnh sinh học. Nhưng stress là một yếu tố
nguy cơ và những kỹ thuật xử lý stress sẽ có ích trong điều trị
migraine ». BS Marcelo Bigal, tác giả lãnh đạo công trình và phó
giáo sư thần kinh học thuộc trường Y Khoa Albert Einstein ở Nữu
Ước đã phát biểu như vậy.( INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE
12/7/2007)
6/ ĐỘC TỔ CỦA MỘT LOÀI
NHỆN LÀ MỘT « VIAGRA » CÓ TÁC DỤNG MẠNH.
Vết cắn gây nên bởi nhện Phoneutria nigriventer của xứ
Brésil (Ba tây) sẽ gây nên ở các ông một tình trạng cương cứng
kéo dài. Các nhà nghiên cứu Ba tây và Hoa kỳ đã nhận diện được
thủ phạm của chứng cương đau dương vật (priapisme) này : chất
Tx2-6 tác dụng bằng cách kích thích thần kinh. Các thử nghiệm
lâm sàng sẽ nghiên cứu những tác dụng phụ có thể xảy ra, nhưng
độc tố này sẽ mở đường cho một phương thức điều trị mới chống
lại những rối loạn cương. ( SCIENCE ET
VIE 7/2007)
7/ UNG THU HỌNG LIÊN HỆ
VỚI PAPILLOMAVIRUS
Mang một papillomavirus
miệng làm tăng nguy cơ phát sinh ung thư miệng hầu(cancer de
l’oropharynx), nằm phía sau lưỡi. Đó là điều vừa được tiết lộ từ
một công trình nghiên cứu được tiến hành trên 100 bệnh nhân và
200 người khỏe mạnh bởi Maura Gillison thuộc đại học
John-Hopkins (Maryland).
Papillomavirus (cũng là nguyên nhân của phần lớn các
trường hợp ung thư cổ tử cung) càng gây bệnh nhiều hơn đối với
những người có những giao hợp miệng-sinh dục với hơn 6 bạn đường
phối ngẫu trong suốt cuộc đời. Rượu và thuốc lá không phải là
những yếu tố gia trọng. ( SCIENCE ET VIE 7/2007)
8/ ASPIRINE VÀ PHÒNG NGỪA UNG THƯ ĐẠI
TRÀNG
Uống aspirine 300mg mỗi ngày suốt
trong 5 năm sẽ bảo vệ chống lại sự phát sinh ung thư dai tràng
10 năm sau đó.Đó là kết quả của công trình nghiên cứu được điều
hành bởi John Ạ.Baron thuộc Dartmouth Medical School (Hoa Kỳ).
Mặc dầu việc sử dụng aspirine mỗi ngày dường như là một cách tốt
đề phòng ngừa một trong những khối u ác tình thường xảy ra nhất,
tuy nhiên các nhà ung thư học không khuyên uống aspirine vì mục
đích này cho tất cả mọi người : việc uống aspirine lâu dài có
thể gây nên xuất huyết dạ dày và ruột. Chỉ những người có nguy
cơ cao bị ung thư đại tràng mới phải uống mà thôi ( SCIENCE ET
VIE 7/20007)
9/ SỰ GIA TĂNG NHỮNG CHỨNG NGHIỆN KHÔNG PHẢI DO MA TUÝ
Càng ngày càng có nhiều người nghiện
nhà chơi (casino), Net, tình dục...
Những trường hợp này cũng là những chứng
nghiện ma túy (toxicomanies) bởi vì cũng có cùng những vùng não
bộ bị hoạt hóa như trong trường hợp dùng chất ma túy. Điều này
làm sáng tỏ dưới một ánh sáng mới những bí ẩn của chứng nghiện
ngập.
Chúng ta đang ở trong một nhà chơi bé
nhỏ của bờ biển Normandie. Trong phòng chơi có machines à sous,
các ông cac bà đủ mọi lứa tuổi, đôi mắt dán vào màn ảnh của máy
đánh bạc và không ngừng đặt cuộc. Những cử chỉ của họ chính xác,
nhanh nhẹn và máy móc. Nhiều người trong số họ ở lại cho đến tối
khuya, hững hờ đối với những gì xảy ra chung quanh họ.Trên toàn
bộ những người chơi cờ bạc này, ít nhất có 2-6% là nạn nhân của
điều mà các nhà tâm thần học gọi là trò chơi bệnh lý (jeu
pathologique). Đó là một sự phụ thuộc (dépendance) thuộc một
loại rất đặc biệt bởi vì sự phụ thuộc này không bao hàm một chất
ma túy nào như alcool, cocaine hoặc những chất gây nghiện khác.
Những người này phụ thuộc vào sự khoái lạc thích thú do kỳ vọng
thắng cuộc mang lại cho họ. Nhà tâm thần học Marc Valleur, giám
đốc bệnh viện Marmottan (Paris) và chuyên gia về vấn đề này, đã
giải thích như vậy.Và đúng đó là một sự phụ thuộc theo ý nghĩa
là họ dành càng ngày càng nhiều thời gian vào hoạt động này, đến
độ họ không còn có thể kiềm chế được nữa.
Nói một cách khác, những người mê
say (accros) này đúng là những người nghiện ma túy (toxicomanes)
nhưng không dùng thuốc ma túy (drogue).
Mặc dầu cờ
bạc là hình thức phổ biến nhất của hành vi bệnh lý (comportement
pathologique) này (liên quan đến 1-3% toàn thể dân chúng), tuy
nhiên đây không phải là chứng nghiện không ma túy (addiction
sans drogue) duy nhất. Không hẳn là như thế. Thật vậy các nhà
tâm thần học đánh giá rằng có những hình thức phụ thuộc Internet
(dépendance à internet). Tình trạng một người không còn có thể
giới hạn được nữa thời gian dành cho Net được gọi là
Cyberdépendance. Có sự phụ thuộc vào công việc (dépendance au
travail) và những người không thể không dành gần như toàn bộ
thời gian vào hoạt động nghề nghiệp của họ được gọi là
workalcoholic. Cũng có sự phụ thuộc vào việc mua sắm thôi thúc
(dépendance aux achats compulsifs) khiến cho nạn nhân chi tiêu
bất kể và việc tiêu xài không tương xứng với ngân sách mà họ
thật sự có.
Người ta cũng biết những người phụ
thuộc vào một quan hệ tình ái bệnh lý (une relation amoureuse
pathogène), như trong truờng hợp một người đàn bà quyến luyến
ngoài ý muốn, với một người chồng nghiện rượu và hung bạo. Đừng
quên là có sự phụ thuộc vào tình dục (dépendance au sexe), một
bệnh lý thật sự trong đó nạn nhân có một nhu cầu thôi thúc (un
besoin compulsif) muốn có một hoạt động tình dục hết sức liên
tục. Lại có chứng nghiện thể thao (addiction au sport) thúc đẩy
người vận động viên jogging thích hoạt động thể dục hơn là cuộc
sống gia đình và xã hội của họ. Tất cả chứng nghiện không ma túy
này đều có cùng một điểm chung là mất sự kiểm soát của hành vi
(perte de controle du comportement).” cũng như đối với những
chứng nghiện ma túy cổ điển, loại phụ thuộc này có đặc điểm là
mất sự tự do kiêng cữ (perte de la liberté de s’abstenir). Có
nghĩa là nạn nhân ý thức về hành vi của mình , công nhận rằng có
những vấn đề đang xảy ra với mình, nhưng không thể nào chấm dứt
được mặc dầu hết sức cố gắng ». Như thể có một thế lực đen tối,
mạnh mẽ hơn ý chí, buộc phải theo đuổi mãi mãi với hành vi
này.Và chứng nghiện không ma túy này cũng có những hậu quả trên
bình diện xã hội như trong trường hợp nghiện rượu và nghiện
héroine : mất việc, ly dị, khó khăn về tài chánh.
Mặc dầu không có các thống kê chứng
minh rõ ràng, các chuyên gia đều nói rằng loại nghiện này đang
càng ngày càng nhiều.Một hiện tượng có liên quan trực tiếp với
ngày càng nhiều những tình hình thuận lợi cho những hành vi phụ
thuộc như sự tăng thêm các sòng bạc, phát triển internet, kích
thích tiêu thụ … đến độ từ một thập niên nay, các cơ sở y tế đã
mở những khoa chuyên điều trị loại nghiện này.Trước hết là bệnh
viện Marmottan, được thành lập năm 1971 bởi nhà tâm thần học nổi
tiếng Claude Olievenstein.Từ năm 2001, bệnh viện này có một khoa
dành cho điều trị cyberdépendance. Còn có Bệnh Viện Pasteur ở
Nice tiếp nhận những người cờ bạc bệnh lý (joueurs
pathologiques).
Làm sao giải thích bệnh lý kỳ lạ này. Kỳ lạ bởi vì chứng
nghiện này khác nhiều với chứng nghiện cổ điển : không thể quy
cho một chất ma túy nào hết. “Có thể giải thích bằng hóa học của
não bộ ». Các nhà khoa học đã trả lời như thế. Mặc dầu không có
bằng cớ chính thức nhưng vài công trình nghiên cứu đã đi theo
chiều hướng này. Đặc biệt là nghiên cứu được tiến hành năm 2001
ở Bệnh Viện Toàn Khoa Massachusetts (Hoa Kỳ) trên những người
say mê cờ bạc : nhờ chụp ảnh não bộ, các nhà nghiên cứu đã quan
sát thấy rằng sự mong chờ thắng cuộc được thể hiện bởi sự hoạt
hóa nhiều vùng não bộ trong đó có noyau accumbens. Thế mà người
ta đã biết rằng những vùng này được hoạt hoá lúc dùng chất ma
túy. Ngoài ra, vào năm 1998, G.S Montserrat Estorch của bệnh
viện Santa Creu (Barcelone) đã chứng tỏ rằng sự việc thực hiện
một cuộc chạy bộ làm gia tăng 3 lần nồng độ beta-endorphines
trong máu. Endomorphines là những chất dẫn truyền thần kinh có
tác dụng làm giảm đau đớn và mang lại cảm giác khoái lạc. Hoạt
tính não bộ này ( bao hàm sự phóng thích dopamine trong não bộ)
đặc biệt mạnh ở những người nghiện.Chính sự kích thích các
circuit này là điều mà những người nghiện mong mỏi tìm kiếm.
Jean-Pol Tassin thuộc Collège de France
đánh giá rằng « chứng nghiện không ma túy dựa trên sự hoạt hóa
các hệ thống stress, đặc biệt là sự tiết hormone de stress , các
corticoides ».Sự tiết này tạo nên một sự bất quân bình giữa các
đường vòng neurone thần kinh ( circuits neuronaux). Chỉ có sự
lặp đi lặp lại các hành vi bệnh lý mới có thể tái lập sự quân
bình này. Đối với ông sự nghiện ngập có thể được xem như là một
đáp ứng với sự trầm cảm. Bởi vì trong vài trường hợp, stress do
hoạt hóa những hệ thống bị suy yếu đã đem lại giải pháp : stress
gây sự phóng thích corticoides và mang lại một khoái lạc.SCIENCE
ET VIE 5/2007)
10/ MỞ RA MỘT HƯỚNG MỚI CHỐNG
LẠI MỘT LOẠI UNG THƯ XƯƠNG.
Làm ngừng sự phát triển sarcome Ewing
bằng cách buộc các tế bào ung thư trở lại bình thường : đó là
hướng điều trị mới được đề nghị bởi các nhà nghiên cứu người
Pháp.Là ung thư xương thứ hai thường gặp ở các thiếu niên,
sarcome Ewing xuất hiện do hậu quả của việc trao đổi chất di
truyền giữa các nhiễm sắc thế, do đó sinh ra một protéine bất
thường . Bằng cách ngăn cản sự sản xuất protéine này bằng kỹ
thuật “ARN interférant”,các nhóm nghiên cứu của Olivier Delattre
(Viện Curie, Paris) và của Pierre Chabord (Inserm,Tours) trên
thực nghiệm đã buộc các tế bào ung thư tìm lại cương vị những tế
bào gốc trung mô có khả năng biệt hóa thành những tế bào xương
và mỡ. Công trình nghiên cứu đã phát hiện những tế bào là nguồn
gốc của sarcome. ( SCIENCES ET VIE
7/2007)
B.S NGUYỄN VĂN THỊNH
( 17/7/2007)
Trở về Trang Chính
|