|
1/ TỶ LỆ TỬ VONG CỦA NGHẼN MẠCH PHỔI ?
Mỗi năm ở Hoa Kỳ có hơn 600.000 người bị nghẽn mạch
phổi, dẫn đến trên 100.000-200.000 trường hợp tử vong.30% trường
hợp được chẩn đoán trước khi chết.
2/ NGHẼN MẠCH PHỐI
XUẤT PHÁT TỪ ĐÂU ?
- Hơn 90% trường
hợp xuất phái từ các cục máu đông ở các tỉnh mach sâu chi dưới
- Hầu hết các
cục huyết khối (thrombi) xuất phát từ bắp chân (calves). Khoảng
80% các cục máu đông này sẽ tự tan biến mà không gây biến chứng
làm nghẽn mạch phổi. 20% còn lại có thể lan tràn đến các tĩnh
mạch chậu đùi (iliofemoral veins). Ở đây cục huyết khối bị vỡ
cho phép một cục máu đông di chuyển lên tĩnh mạch chủ dưới và
sau cùng lên phổi. 1/3-1/2 trong số bệnh nhân bị huyết khối tĩnh
mạch sâu đùi chậu có triệu chứng lâm sàng của nghẽn mạch phổi.
3/ CÒN CÓ NHỮNG NGUỒN GỐC NÀO KHÁC NỮA KHÔNG ?
- Các cục máu đông ở vùng chậu thường xảy
ra ở các phụ nữ có tiền sử đẻ khó hoặc vừa mới trải qua phẫu
thuật phụ khoa.Các cục huyết khối gây nghẽn mạch (emboli) từ các
tĩnh mạch chậu có thể có tính chất gây nhiễm trùng máu (septic)
với nhiều ổ thương tổn ở phổi.
- Những nguồn gốc khác gồm có dịch ối
(amniotic fluid) do biến chứng thai nghén, khí (air) trong khi
đặt catheter tĩnh mạch trung tâm, và vật lạ như talc và sợi
coton ở những người sử dụng thuốc bằng đường tĩnh mạch..
4/ TỶ LỆ BỆNH NHÂN BỊ HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH
SÂU CÓ BIẾN CHỨNG NGHẼN MẠCH PHỐI ?
- Tỷ lệ cao hơn là
ta tưởng
- Trên một nghiên
cứu 101 bệnh nhân có huyết khối tĩnh mạch sâu không có triệu
chứng phổi được xác nhận , có đến 51% có high-probability lung
scan vào lúc chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch sâu..
- Trên 1/3 bệnh nhân với nghẽn mạch phổi được xác nhận có
huyết khối tĩnh mạch sâu bắp chân đơn độc (isolated calf deep
venous thrombosis)
5/ CÓ NHỮNG TRIỆU
CHỨNG HOẶC DẪU CHỨNG ĐẶC HIỆU CỦA NGHẼN MẠCH PHỔI KHÔNG ?
- Không. Các triệu chứng lâm sàng thông
thường như khó thở và đau ngực và các dấu chứng lâm sàng như thở
nhanh và tim đập nhanh đều không đặc hiệu. Bệnh cảnh lâm sàng
của bệnh nhân có thể từ khó thở nhẹ cho đến trụy tim mạch.
- Chỉ hơn ½ bệnh nhân chết vì nghẽn mạch phổi có triệu chứng
khó thở và chỉ 15% có triệu chứng đau ngực
- Hầu hết bệnh nhân (> 90%) thở nhanh
(tachypneic)
- Bộ ba triệu chứng cổ điển (khó thở, ho ra
máu,và đau ngực) chỉ xảy ra nơi 15-20% bệnh nhân
- Các bệnh nhân bị
nghẽn mạch phổi lớn ( massive pulmonary embolism) đôi khi có
thể bị ngất xỉu.
6/ KỂ NHỮNG XẾP LOẠI BỆNH HỌC CỦA BỆNH NGHẼN
MẠCH PHỐI.
Bệnh nghẽn mạch phổi có thể được xếp thành 3
loại:
a/ ACUTE MASSIVE OCCLUSION
- được định nghĩa như là nghẽn trên
50% hệ huyết quản phân thùy phổi hoặc một khối lượng tương đương
cục máu đông trung ương
- lúc giải
phẫu tử thi các cục máu gây nghẽn mạch goi là saddle emboli
thường được tìm thấy ở vùng tiếp cận của chĩa (bifurcation) động
mạch phổi chính
b /NHỒI MÁU PHỔI (PULMONARY INFARCTION)
- thường xảy ra khi cục huyết khối
gây nghẽn lưu lượng máu đến một vùng nhất định của phổi với mức
độ đủ làm chết các mô phổi.
- chỉ xảy ra với tỷ lệ 10% của
những trường hợp nghẽn mạch phổi cấp tính
c/ NGHẼN MẠCH PHỔI NHƯNG KHÔNG GÂY NÊN NHỒI
MÁU PHỔI
- loại thông thường nhất
- khó chẩn đoán nhất vì các cục máu
đông gây nghẽn không được thể hiện trên lâm sàng bằng những
triệu chứng đặc hiệu.
7/ TỶ LỆ CỦA NHỒI
MÁU PHỔI TRÊN TỔNG SỐ CÁC TRƯỜNG HỢP NGHẼN MẠCH PHỔI ?
Cứ 10 nghẽn mạch phổi thì có một
trường hợp nhồi máu phổi (pulmonary infarction)
8/ BỆNH NHÂN BỊ
NGHẼN MẠCH PHỔI THỂ HIỆN NHỮNG TRIỆU CHỨNG NHƯ THẼ NÀO ?
-Triệu chứng của nghẽn mạch phổi tùy
thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tắc nghẽn.
- nghẽn mạch phổi thường thể hiện bằng những triệu chứng
lâm sàng không điển hình và có thể không có triệu chứng hoặc dấu
chứng nào cả.
- nếu đó là
nghẽn mạch cấp tính và rất lớn (massive pulmonary embolism),
bệnh nhân sẽ bị hạ huyết áp toàn thân, kèm theo ngất xỉu
(syncope) hay không, với giảm oxy huyết (hypoxemia) nghiêm
trọng, không đáp ứng với 02. Ngừng tim xảy ra trong 2% trường
hợp massive embolism và thường được thể hiện bởi hoạt động điện
nhưng không bắt mạch đuợc (pulseless electrical activity)
- nếu bệnh nhân đã có sẵn bệnh tim hoặc
bệnh phổi thì với sự tắc nghẽn ít hơn cũng có thể ảnh hưởng đáng
kể lên huyết động học.
- bệnh nhân bị nhồi máu phổi (pulmonary
infarction) sẽ thể hiện bởi cơn đau ngực phế mạc cấp tính, kèm
theo thở nhanh và đôi khi kèm theo ho ra máu
- khám vật lý có thể nghe tiếng cọ phế
mạc (pleural friction rub,frottement pleural).
- bệnh nhân bị nghẽn mạch phổi không kèm
nhồi máu phối có thể có những triệu chứng đặc hiệu như thở
nhanh, khó thở và tim đập nhanh.
9/ CÁC TRIỆU CHỨNG VÀ DẤU CHỨNG CỦA NHỒI MÁU PHỔI ?
Đau ngực do phế mạc, ho ra máu và sốt
nhẹ hiện diện khi nhồi máu phổi xảy ra. Dấu chứng cổ điển thường
được mô tả của nhồi máu phổi là một thâm nhiễm hình nêm
(wedge-shape infiltrate) tiếp giáp với phế mạc (Hampton’s hump).
Nhồi máu phổi thường liên kết với một tràn dịch màng phổi nhỏ
thường có tính chất xuất tiết và có thể xuất huyết.
10/ THỂ NÀO LÀ MASSIVE PULMONARY EMBOLISM ?
Một massive
PE có thể được định nghĩa :
- trên phương diện sinh lý, một nghẽn
mạch với biến chứng giảm huyết áp toàn thân và giảm oxy huyết
(hypoxemia) nghiêm trọng.
- Hai định nghĩa này không đồng nghĩa
với nhau bởi vì một người bình thường có thể mất 50% tuần hoàn
phổi mà không bị ảnh hưởng đáng kể huyết động học, trong khi đó
một bệnh nhân đã có bệnh tim phổi với mức độ nghiêm trọng đáng
kể đã có thể bị rối loạn huyết động học quan trọng ngay với một
nghẽn động mạch nhỏ hơn
11/ NHỮNG XÉT NGHIỆM
NÀO CẦN ĐƯỢC XÉT ĐẾN NẾU NGHI TẮC MẠCH PHỐI ?
a/
D-dimères :
- lợi ích chẩn đoán cao trong trường hợp cấp cứu khi kết quả âm
tính bởi vì lúc đó khả năng nghẽn mạch phổi xảy ra trở nên thấp
- D-dimères dương tính (> 500 hay 1000 mcg/L tùy theo phòng xét
nghiệm) it có giá trị tiên đoán nhất là đối với những bệnh nhân
hậu phẫu hay người già, là những thể tạng mà nghẽn mạch phổi dễ
xảy đến.
b/
GAZOMETRIE (ARTERIAL BLOOD GAS = ABS)
- những kết quả thường thấy nhất
lá nhiễm kiểm hô hấp (respiratory alkalosis) cấp tính và nhẹ,
giảm oxy-huyết (hypoxemia), hypocapnia nhưng ABG có thể hoàn
toàn bình thường
- kết quả gazométrie thường là giảm
oxy-huyết và/hoặc hypocapnie. Giảm oxy-huyết chỉ hiện diện trong
1/3 trường hợp
- ABG
không hữu ích trong việc chẩn đoán xác định hay loại trừ bệnh
nghẽn mạch phối.
- có thể dùng để đánh giá mức độ
nghiêm trọng của bệnh khi chẩn đoán nghẽn mạch phổi được nghi
ngờ.
c/ CHỤP HÌNH PHỔI
- hình phổi thường là bình thường(30%
bệnh nhân nghẽn mạch phổi có hình phổi bình thường)
- có thể có
những thay đổi nhỏ như xẹp phổi khu trú (focal atelectasis),vòm
cơ hoành hơi lên cao hoặc tăng sáng khu trú ( focal
hyperlucency) trên phế trường phổi
d/ ECG :
- mặc dầu lợi ích chẩn
đoán thấp, điện tâm đồ là khảo sát đầu tiên cần được thực hiện
trên bệnh nhân nghi ngờ nghẽn mạch phối bởi vì có thể giúp loại
trừ những nguyên nhân khác của đau ngực.
- những dấu hiệu thông thường hơn là
: tim đập nhanh xoang (sinus tachycardia) và những thay đổi
không đặc hiệu của đoạn ST và sóng T.
- các triệu chứng cổ điển liên kết
với nghẽn mạch phổi như S1,Q3,T3, bloc nhánh phải mới xuất
hiện, có thể xảy ra nơi 15% bệnh nhân bị nghẽn mạch phổi.
- tim đập nhanh xoang không những là
một yếu tố chẩn đoán thuận lợi của nghẽn mạch phổi mà sự hiện
diện của nó là bằng chứng của tim phổi cấp tính (coeur
pulmonaire aigu) do đó nói lên mức độ nghiêm trọng của nghẽn
mạch phổi.
- một điện tầm đồ bình thường không
loại trừ chẩn đoán nghẽn mạch phổi
12/ CHỤP HÌNH PHỔI
CÓ THỂ PHÁT HIỆN ĐƯỢC NGHẼN MẠCH PHỔI KHÔNG ?
- hầu như không bao giờ.
- chụp hình phổi có thể giúp loại trừ những nguyên nhân
khác của đau ngực.
- các dấu chứng làm nghi ngờ nghẽn mạch
phổi gồm có : xẹp phổi (atelectasis), tràn dịch màng phổi
(pleural effusion), một nửa cơ hoành bị nâng cao, dấu chứng
Westermark ( giảm lượng máu đến vùng phổi bị nghẽn mạch)
- có thể thấy mất một bên hệ mạch máu
phổi bị nghẽn
13/ CÁC KỸ THUẬT NÀO
GIÚP CHẨN ĐOÁN NGHẼN MẠCH PHỔI ?
a/
VENTILATION/PERFUSION SCAN :
- một V/Q Scan bình thường sẽ loại trừ
chẩn đoán nghẽn mạch phổi (mặc dầu có những trường hợp hiếm hoi
bệnh nhân có V/Q Scan bình thường nhưng về sau lại được chẩn
đoán nghẽn mạch phổi nhờ chụp mạch phổi (pulmonary angiography).
- một V/Q scan bình thường hàm ý rằng nguy cơ mắc phải
nghẽn mạch phổi thấp ngay cả đối với những bệnh nhân với high
pretest probability và rằng chẩn đoán nghẽn mạch phổi được loại
trừ.
- Một high-probability V/Q scan có giá
trị chẩn đoán nghẽn mạch phổi đối với những bệnh nhân với
intermediate và high pretest probability.
- indeterminate lung scan thường là
trường hợp khi phim phổi không bình thường hoặc khi bệnh nhân có
bệnh tim phổi tiềm tàng. Bệnh nhân có V/Q Scan khộng thể xác
định được phải được chụp mạch phổi
b/ CHỤP MẠCH PHỔI
: là gold standard để chẩn đoán.
c/ SPIRAL CT :
- trong trường hợp chụp phim phổi bất
thường, spiral CT có thể hữu ích không những để chẩn đoán nghẽn
mạch phổi mà còn để xác định những bệnh lý khác.
- xét nghiệm này nhanh chóng và không
cần đến những hỗ trợ kỹ thuật bổ sung.
- xét nghiệm không được sử dụng ở những
bệnh nhân có chống chỉ định với tiêm chích chất cản quang và đòi
hỏi chuyên viên để đọc kết quả.
- tuy rất nhạy cảm trong chẩn đoán nghẽn
mạch phổi trung tâm (central emboli), nhưng spiral CT lại không
đủ nhạy cảm để loại trừ chẩn đoán nghẽn mạch phổi ngoại biên
(peripheral clots).
- với sự ra đời của CT scanner thế hệ thứ tư, khả năng
phát hiện nghẽn mạch phổi ở mức dưới phân thùy (subsegmental) có
thể thực hiện được.
d/ MAGNETIC
RESONANCE ANGIOGRAM (MRA)
- các nghiên cứu đã chứng tỏ MRA có
độ nhạy cảm và đặc hiệu tương đương với chụp mạch phổi
- Angiographie-IRM : cho những hình
ảnh có chất lượng tương đương với chụp mạch phổi và ngoài ra còn
cho phép thấy rõ các tĩnh mạch chủ, chậu và đùi
14 /NHỮNG KỸ THUẬT
CHẨN ĐOÁN NÀO CÓ THỂ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG TRƯỜNG HỢP NGHI NGHẼN
MẠCH PHỔI ?
Có 5 imaging
techniques có thể được dùng để chẩn đoán nghẽn mạch phổi:
a/
ventilation/perfusion(V/Q) scanning
( scintigraphie pulmonaire avec couplage
ventilation/perfusion) :
- đóng vai trò chủ chốt trong chẩn đoán nghẽn mạch phổi
bởi vi đây là một kỹ thuật chẩn đoán non invasive đã được đánh
giá trong nhiều nghiên cứu lâm sàng và rất ít phản ứng dị ứng
gây nên do kỹ thuật:
- V/Q Scan cải thiện tính đặc hiệu chẩn
đoán bởi vì nghẽn mạch phổi là bệnh lý duy nhất trong đó sự
thông khí (ventilation) được bảo tồn còn sự bơm máu ( perfusion)
bị hủy bỏ.Trong trường hợp này nếu nghi ngờ chẩn đoán nghẽn mạch
phổi trên lâm sàng thi khả năng chẩn đoán đúng trên 90% và điều
trị có thể bắt đầu ngay mà không cần phải chờ đợi kết quả của
chụp hình phổi
- trong trường
hợp kết quả âm tính, chẩn đoán nghẽn mạch phổi có thể được loại
trừ
b/ spiral CT scanning of the pulmonary
arteries
( scanner spiralé)
- angioscanner hay scanner héloidal
với tiêm chất cản quang cho phép thấy rõ các động mạch phối phân
thùy (segmentaire).
- kỹ thuật này hữu ích trong việc phát hiện nghẽn mạch
phổi trung tâm hoặc thùy hơn là phân thùy.
- scanner spiralé càng lúc càng được
sử dụng như là kỹ thuật chẩn đoán đầu tiên trong nhiều trung tâm
nhưng đến nay vẫn không có một nghiên cứu có quy mô lớn nào đã
hợp thức hóa thật sự phương thức chẩn đoán này.
- mức độ nhạy cảm của angioscanner
chỉ được 70% (một scanner âm tính không đủ để loại trừ chẩn đoán
nghẽn mạch phổi) nhưng mức độ đặc hiệu đến 90%.Vẫn còn tranh cải
trong thái độ điều trị trong trường hợp kết quả scanner spiralé
bình thường mặc dầu một nghiên cứu gần đây đã kết luận giá trị
chẩn đoán của một scanner bình thường cũng ngang bằng với một
V/P Scan hoặc chụp mạch phối bình thường
c/ Siêu âm tâm ký (echocardiography) :
(échocardiographie cardiaque)
- hữu ích trong trường hợp nghi ngờ
massive embolism.
- có thể tìm thấy giãn tâm thất phải( right ventricular
dilatation).
- có thể được thực hiện bên cạnh
giường bệnh nhân
d/ Chụp mạch phổi (pulmonary
angiography):
- là phương pháp chẩn đoán độc nhất
có thể xác định tắc nghẽn động mạch phổi và đánh giá mức độ quan
trọng và vị trí của các cục máu đông.
- kết quả âm tính loại trừ nghẽn
mạch phổi
- nên chụp mạch phổi khi các triệu
chứng lâm sàng rất làm nghi ngờ nghẽn mạch phổi nhưng kết quả
những khảo sát thăm dò khác không kết luận được
e/ Siêu âm doppler tĩnh mạch chi dưới
(Echodoppler veineux des membres
inférieurs)
- có thể được sử dụng để đánh giá huyết khối tĩnh
mạch sâu.
- ở dàn bà có thai nghi nghẽn mạch
phổi, siêu âm doppler tĩnh mạch chi dưới là kỹ thuật thăm dò đầu
tiên được thực hiện.Kết quả dương tính xác nhận chẩn đoán nghẽn
mạch phổi. Nếu âm tính cần thực hiện V/Q scan và một high
probability scan sẽ xác định chẩn đoán
15/ NHỮNG GÌ LÀM
GIỚI HẠN ĐỘ CHÍNH XÁC CỦA V/Q SCAN ?
- các bất thường tìm thấy trên chụp hình
phổi như xẹp phổi (atelectasis), tràn dịch màng phổi và viêm
phổi.
- một số bệnh lý (thông thường là COPD) có thể đưa đến một
V/Q scan bất thường, làm kết quả trở nên không đặc hiệu (
indeterminate). Do đó đối với những bệnh nhân được biết có bệnh
tim phổi, một spiral CT angiography có thể là bước đầu khôn
ngoan hơn trong đánh giá nghẽn mạch phổi
16/ NẾU NHỮNG ƯU ĐIỂM CỦA V/Q SCAN ?
- có thể được sử dụng ở những bệnh nhân
bị suy thận và dị ứng với chất cản quang.
17/ VAI TRÒ CỦA SPIRAL CT SCANNING ĐỘNG MẠCH PHỔI TRONG CHẨN
ĐOÁN NGHẼN MẠCH PHỔI ?
- còn được gọi là helical CT và CT
pulmonary angiography hay CT scan thoracique spiralé.
- vài nghiên cứu đã chứng tỏ rằng độ
nhạy cảm và đặc hiệu của spiral CT khoảng 90%, hơn hẳn V/Q
scanning trong chẩn đoán nghẽn mạch phổi ở mức hơn phân thuỳ.
Đối với những nghẽn động mạch phổi nhỏ hơn hoặc dưới phân thuỳ
(subsegmental) thì độ nhạy cảm của spiral CT scan thấp hơn.
Những ưu điểm khác của spiral CT là có thể cung cấp những thông
tin chẩn đoán khác lúc scanning đồng thời trung thất
(mediastinum), thành ngực và nhu mô phổi. Một ưu điểm khác nữa
là có thể scanning đồng thời chi dưới (venography có thể thực
hiện đồng thời với spiral CT scanning động mạch phổi).
- Spiral CT scan là kỹ thuật chẩn đoán được lựa chọn để đánh
giá nghẽn mạch phổi nơi những bệnh nhân có bệnh tim phổi kèm
theo hoặc có hình chụp phổi bất bình thường
- những bệnh nhân suy thận, không thể
nằm dài hoặc không thể chuyển tới phòng scanner đều là những ứng
viên tồi của kỹ thuật chẩn đoán này.
18/ VAI TRÒ CỦA SIÊU
ÂM TÂM KÝ NGỰC (TRANSTHORACIC ECHOCARDIOGRAPHY) TRONG CHẤN ĐOÁN
NGHẼN MẠCH PHỐI ?
- 40% bệnh nhân nghẽn mạch phổi có những
bất thường ở tâm thất phải, bao gồm loạn năng tâm thất phải (RV
dysfunction) và cục huyết khối (thrombus) trong tâm thất. Những
dấu chứng quá tải (overload) thể tích và áp lực bao gồm cử động
bất thường của vách liên thất (interventricular septum), giãn
tâm thất phải và hypokinésie tâm thất phải.
- Siêu âm tâm ký cũng có thể chẩn đoán
những bệnh lý gây nhầm với nghẽn mạch phổi như phình động mạch
chủ (aortic aneurysm), nhồi máu cơ tim và
chèn ép tâm mạc (pericardial tamponade).
- Siêu âm tâm ký nhất là bằng đường thực
quản có thể phát hiện những cục huyết khối trong xoang tâm thất
hoặc trong động mạch phổi
19/ VAI TRÒ CỦA CHỤP
MẠCH PHỐI TRONG CHẤN ĐOÁN NGHẼN MẠCH PHỔI ?
- chụp mạch phổi (angiographie
pulmonaire) được xem là gold standard bởi vì đó là phương pháp
chẩn đoán chắc chắn nhất.
- các biến chứng chết người hay nghiêm
trọng hiếm thấy và phần lớn xảy ra ở các bệnh nhân ICU.
- để tránh độc tính của chất cản quang
(produit de contraste), cần bảo đảm hydratation tốt trước khi
thực hiện thủ thuật.
- từ khi CT scan thoracique spiralé xuất
hiện, chụp mạch phổi chỉ được chỉ định trong những trường hợp
nghi ngờ chẩn đoán hoặc trong trường hợp các kỹ thuật thăm dò
khác âm tính nhưng lại rất nghi ngờ chẩn đoán nghẽn mạch phổi
trên bình diện lâm sàng.
20/ TỶ LỆ BỆNH NHÂN
HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH SÂU KHÔNG CÓ TRIỆU CHỨNG TẮC NGHẼN MẠCH
PHỐI, CÓ HIGH-PROBABILITY V/Q SCAN ?
- Các triệu chứng lâm sàng của huyết
khối tĩnh mạch sâu được nhận thấy nơi khoảng 50% bệnh nhân,
nhưng huyết khối tĩnh mạch sâu có thể được phát hiện bằng chụp
tĩnh mạch nơi 80% bệnh nhân với nghẽn mạch phổi.
21/ NHỮNG BỆNH NÀO
CÓ THỂ GÂY NÊN MỘT HIGH-PROBABILITY V/Q SCAN DƯƠNG TÍNH GIẢ ?
- Không phải tất cả high-probability V/Q
Scan đều gây nên bởi nghẽn mạch phổi.
- Những bệnh gây nên V/Q Scan dương tính
giả gồm có: hạch vùng trung thất hay rốn phổi, viêm trung thất
hóa sợi (fibrosing mediastinitis), thâm nhiễm một huyết quản bởi
khối u, không có một động mạch phổi bẩm sinh, hoặc dissection
động mạch chủ lên.
- nghẽn mạch phổi thường xảy ra ở nhiều
nơi và hai bên phổi còn những bệnh lý trên chỉ xảy ra ở một bên
phổi
22/ ĐIỀU GÌ XẢY RA KHI NGHẼN MẠCH PHỐI KHÔNG
ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN ?
- Nghẽn mạch
phổi là một trong những nguyên nhân thường xảy ra nhất ở Hoa Kỳ.
(Ở Hoa Kỳ mỗi năm có khoảng 630.000 trường hợp nghẽn mạch
phổi).Tuy vậy chỉ có khoảng 25% trường hợp được chẩn đoán..
- Trong số 75%
trường hợp không được chẩn đoán, chỉ có một tỷ lệ nhỏ những bệnh
nhân chết trong vòng một giờ sau khi có triệu chứng.Vì vậy trong
nhóm này chẩn đoán và can thiệp điều trị không thể cải thiện
tiên lượng.Tuy nhiên trong số còn lại, tỷ lẽ tử vong do không
điều trị khoảng 30%
23/ ĐIỀU TRỊ NGHẼN
MẠCH PHỐI VÀ HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH SÂU NHƯ THỂ NÀO ?
-
Cần tiến hành điều trị nghẽn mạch phổi ngay một khi chẩn đoán
được xác định. Bắt đầu điều trị chống đông (anticoaguation) với
hoặc là unfractionated heparin (UFH) tiêm tĩnh mạch hoặc với
héparine trọng lượng phân tử thấp (LMWH). Cần bắt đầu điều trị
bằng héparine những bệnh nhân có những triệu chứng nghẽn mạch
phổi rất đáng nghi ngờ nhưng không có chống chỉ định với điều
trị chống đông , trong khi chờ đợi kết quả của những xét nghiệm
chẩn đoán
-Điều trị chống đông máu bằng sự kết hợp héparine và
warfarin là nền tảng chính của điều trị đối với hầu hết các
trường hợp nghẽn mạch phổi.
- Điều trị với héparine có tác dụng cản thrombin và ngăn
chặn sự lan rộng của cục nghẽn mạch (thrombus)
- Héparinothérapie được chỉ định trong
trường hợp nghẽn mạch phổi thể ít nghiêm trọng hoặc trường hợp
chẩn đoán nghi ngờ và trong trường hợp chống chỉ định sử dụng
thuốc làm tan huyết khối (thrombolyse).
- Phải điều trị chống đông ở phòng cấp
cứu với unfractionated heparin hay LMWH (low-molecular-weight
heparin).
- Liều lượng
của unfractionated heparin phải được căn cứ trên thể trọng. Liều
lượng khởi đầu là 80 U/kg tiêm tĩnh mạch trực tiếp.Liều lượng
tiếp theo là 18 U/kg/h.
- LMWH đã được chứng tỏ là an toàn và
hiệu quả trong điều trị nghẽn mạch phổi. Enoxaparin (Clexane) 1
mg/kg tiêm dưới da là liều lượng khởi đầu được cho ở phòng cấp
cứu.
- Điều trị với warfarin được chỉ định để
chống đông máu trong thời gian dài đối với những bệnh nhân bị
nghẽn mạch phổi .Tuy nhiên, bởi vì có một tình trạng tăng đông
máu tạm thời do sự thiếu hụt protein C trong những ngày đầu điều
trị với warfarin nên trước khi điều trị với warfarin luôn luôn
phải điều trị chống đông máu bằng héparine..
- Các bệnh nhân với huyết khối tĩnh mạch
sâu của phần gần của chi và có các yếu tố nguy cơ tạm thời, có
thể được điều trị chống đông bằng héparine và warfarin trong
vòng 3 tháng, còn những bệnh nhân với huyết khối tĩnh mạch sâu
vùng bắp chân chỉ cần điều trị 6 tuần.
- Các bệnh nhân có yếu tố nguy cơ thường
trực có thể cần điều trị suốt đời.
24/ CÁC BIẾN CHỨNG
CỦA ĐIỀU TRỊ CHỐNG ĐÔNG ?
Biến chứng thông thường và nghiêm
trọng nhất của điều trị chống đông là xuất huyết .Nguy cơ xuất
huyết tương ứng với mức độ kéo dài của INR hay PTT, tuổi trên
65, bệnh sử trước đây có xuất huyết vị tràng hoặc bệnh nhân đang
được điều trị chống tiểu cầu (antiplatelet therapy). Chứng giảm
tiểu cầu đó nguyên nhân miễn dịch (immune-mediated
thrombocytopenia) đã được ghi nhận trong 3% số bệnh nhân được
điều trị với héparine. Biến chứng này thường xảy ra trong trường
hợp bệnh nhân trước đây bị bệnh huyết khối nghẽn mạch kéo dài.
Một biến chứng thường được nói đến và
hiếm của trị liệu với warfarin là hoại tử da gây nên bởi tình
trạng thiếu hụt protein C hoặc S vốn có của bệnh nhân.
Sự hoại tử là do các mạch máu nhỏ bị nghẽn bởi các huyết
khối xảy ra do tình trạng tăng đông máu tạm thời. Điều này là do
protein C bị giảm khởi đầu trước khi prothrombin, yếu tố IX và X
bị giảm sau đó.
25/ NHỮNG BỆNH NHÂN
NGHẼN MẠCH PHỐI NÀO PHẢI ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC LÀM TAN HUYẾT
KHỐI (THROMBOLYSIS) ?
- Điều trị bằng thuốc làm tan huyết khối
(thrombolytic therapy) đã được ghi nhận là làm tiêu (lysis) cục
huyết khối nhanh hơn, cải thiện chức năng tâm thất phải và có
thể làm hạ tỷ lệ tái phát, nếu so sánh với điều trị bằng
héparine đơn độc.
- Do làm tiêu nhanh cục máu đông, điều
trị bằng thuốc làm tan huyết khối cho phép cải thiện chức năng
tâm thất phải, làm hồi phục tốt hơn hệ mao mạch phổi và làm giảm
những di chứng chức năng
- tuy nhiên đến nay vẫn chưa rõ là điều
trị bằng thuốc làm tan huyết khối có làm giảm lâu dài tỷ lệ tử
vong và bệnh tật hay không ?
- Điều trị bằng thuốc làm tan huyết khối
được chỉ định ở những bệnh nhân bị nghẽn mạch phổi lớn (massive
PE) hoặc bị hạ huyết áp.
-
điều tri bằng thuốc làm tan huyết khối đã hầu như thay thế hoàn
toàn phẫu thuật lấy vật nghẽn mạch (embolectomy) để điều trị
nghẽn mạch phổi lớn với rối loạn huyết động học.
26/ NÊU NHỮNG LÝ LẼ
ỦNG HỘ VÀ CHỐNG ĐỐI ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC LÀM TAN HUYẾT KHỐI TRONG
TRƯỜNG HỢP NGHẼN MẠCH PHỔI LỚN ?
ỦNG HỘ :
- Có 3 mục tiêu chính trong điều trị
nghẽn mạch phổi :
- ngăn ngừa sự tạo thêm các cục
huyết khối
- làm tiêu nhanh các cục huyết
khối hiện có.
- ngăn
ngừa các di chứng của nghẽn mạch phối, bao gồm nghẽn mạch phổi
tái phát (recurrent emboli)
- Điều trí
bằng thuốc làm tan huyết khối làm tăng tốc độ làm tiêu cục huyết
khối và các di chứng lâu dài có thể giảm ít nhiều nơi những bệnh
nhân được điều trị bằng phương pháp này.
- do làm
tiêu nhanh cục huyết đông, điều trị bằng thuốc làm tan huyết
khối cho phép:
-
cải thiện chức năng của tâm thất phải
-
hồi phục tốt hơn hệ mao mạch phổi.
-
làm giảm các di chứng chức năng
CHỐNG ĐỐI :
- kết quả
các thử nghiệm lâm sàng rộng rãi cho thấy không có sự khác nhau
khi so sánh điều trị bằng héparine và điều trị bằng thuốc làm
tan huyết khối nơi bệnh nhân bị nghẽn mạch phổi.
- bởi vì
điều trị bằng thuốc làm tan huyết khối liên kết với một tỷ lệ
biến chứng cao hơn, nên điều trị bằng héparine được ưa thích
hơn.
27/ KHI NÀO THÌ CÓ CHỈ ĐỊNH ĐẶT HỆ THỐNG LỌC
VÀO TĨNH MẠCH CHỦ DƯỚI ( INFERIOR VENA CAVA FILTER)?
- Khi một bệnh nhân không thể điều trị
chống đông vì xuất huyết cấp tính hay chấn thương mới xảy ra
hoặc khi bệnh nhân bị nghẽn mạch phổi tái phát nhiều lần mặc dầu
được điều trị chống đông đúng quy cách.
- Những chỉ định tương đối khác:
- cục huyết khối bồng bềnh
(free-floating thrombus)
- dự trữ hô hấp kém hoặc cao huyết
áp phổi mãn tính vì nghẽn mạch phổi có thể đưa tới tử vong
- nghẽn mạch phổi nơi bệnh nhân bị
ung thư do tình trạng tăng đông máu dai dẳng
- Một hệ thống lọc( filter) được đặt ở
tĩnh mạch chủ dưới để ngăn ngừa sự lan tràn của các cục huyết
khối từ những tĩnh mạch chi dưới và chậu
28/ KHI NÀO THÌ SỐT
XẢY RA NƠI BỆNH NHÂN NGHẼN ĐỘNG MẠCH PHỔI CÂN ĐƯỢC QUAN TÂM ?
- Bệnh nhân bị nghẽn mạch phổi không
thôi có thể có nhiệt độ >39 trong giai đoạn sớm của bệnh và
nhiệt độ thấp có thể dai dẳng sau đó 4-6 ngày.Nếu nhiệt độ cao
kéo dài thì phải nghi ngờ bội nhiễm (superinfection)
- EMERGENCY MEDICINE SECRETS
- CRITICAL CARE SECRETS
BS NGUYỄN VĂN
THỊNH
( 2/1/2007)
Trở về Trang Chính
|