|
1/ SỬ DỤNG VITAMINE D
ĐỂ LÀM GIẢM TỶ LỆ TỬ VONG
Theo một phân tích méta, dùng vitamine D bổ
sung có thể làm giảm tỷ lệ tử vong toàn thể. Vấn đề cho bổ sung
vitamine D rộng rãi hơn trong quảng đại quần chúng càng ngày
càng được đặt ra.
Nhiều công trình nghiên cứu khác
nhau đã chứng tỏ rằng một nồng độ vitamine D thấp có thể liên
kết với sự gia tăng tỷ lệ tử vong do ung thư, bệnh tim mạch và
đái đường, những bệnh này chịu trách nhiệm 60 đến 70% của tỷ lệ
tử vong toàn thể trong các nước công nghiệp hoá.Trong những tình
trạng này, việc dùng vitamine D bổ sung phải chăng sẽ làm giảm
tỷ lệ tử vong ?
Đó là điều mà các BS Philippe Autier thuộc
International Agency for Research on Cancer (IARC, Lyon) và Sara
Gandini thuộc European Institute of Oncology (Milan) muốn biết.
Họ đã phân tích nguy cơ tử vong nơi những người đã tham gia vào
thực nghiệm để đánh giá tác động lên sức khỏe của việc cho bổ
sung vitamine D (ergocalciférol =vitamine D2) hoặc
cholécalciférol ( vitamin D3). Để thực hiện điều này, các nhà
nghiên cứu đã thực hiện một phân tích méta các tài liệu đã được
công bố cho đến tháng 11 năm 2006.
Các tác giả đã xác định 18 thử nghiệm
độc lập bao gồm 57.311 người. 4.777 trường hợp tử vong đã xảy ra
trong suốt một thời kỳ thử nghiệm trung bình 5,7 năm. Các liều
lượng hàng ngày của vitamine D được cho bổ sung biến thiên từ
300 đến 2000 ui vối liều lượng trung bình là 528 ui. Trong 9 thử
nghiệm, nhóm dùng vitamine D bổ sung có nồng độ
25-hydroxyvitamine D trong huyết thanh từ 1,5 đến 5,2 lần lớn
hơn so với nhóm kiểm chứng. Các nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng
những người tình nguyện dùng vitamine D bổ sung có tỷ lệ tử vong
do tất cả các nguyên nhân giảm 7% so với những người không dùng
bổ sung.
Tất cả điều này khiến các nhà nghiên
cứu đi đến kết luận như sau : dùng vitamine D bổ sung với liều
lượng thông thường tuồng như liên kết với sự giảm tỷ lê tử vong,
nhưng các mối liên hệ giữa tình trạng cơ bản của vitamine D
trong cơ thể, liều lượng cho bổ sung của vitamine này và tỷ lệ
tử vong toàn thể vẫn còn không được biết đến và sẽ phải cần được
điều tra nghiên cứu.
MỘT CHÚT MẶT TRỜI VÀ VITAMINE D
Vai trò
phòng ngừa của vitamine D càng ngày càng được xác nhận trên
nhiều bình diện khác nhau.Vào tháng 6 năm ngoái, một công trình
nghiên cứu của Hoa Kỳ chứng tỏ rằng bằng cách cải thiện tình
trạng dinh dưỡng về calcium và vitamIne D, chúng ta có thể làm
giảm một cách đáng kể nguy cơ ung thư nơi các phụ nữ trong thời
kỳ mãn kinh. Các kết quả này đã thúc đẩy Hội Ung Thư Canada
khuyên những người trưởng thành dùng vitamine D bổ sung mỗi ngày
vào mùa đông.
Vào tháng 8, các nhà nghiên cứu Hoa
Kỳ đã làm sáng tỏ mối liên hệ nghịch giữa nồng độ vitamine D
trong huyết tương và các nguy cơ mắc phải ung thư vú và trực
tràng.Trong một lãnh vực khác, một nghiên cứu của Hoa Kỳ vừa
được công bố, gợi ý rằng việc thiếu hụt vitamine D nơi người mẹ
có thể là một yếu tố nguy cơ độc lập của chứng tiền sản kinh
(pré-éclampsie). Điều này có nghĩa đặt ra vấn đề lợi ích của
việc cho vitamine D vào ngay khởi đầu của thời kỳ thai nghén.
Tất cả những câu hỏi hợp lý này về
vị trí của vitamine D trong một chương trình phòng ngừa toàn bộ
được đặt ra trong một bối cảnh thiếu hụt lan rộng vitamine đặc
biệt này.Trong số tháng 7 vừa rồi, New England Journal of
Medicine cũng đã quan tam về vấn đề này và một lần nữa chỉ ra sự
thiếu hụt mà các người trưởng thành và trẻ em luôn luôn phải
chịu đựng. Một vài đánh giá nói rằng trên thế giới có 1 tỉ người
đang trong tình trạng thiếu hụt (dưới 20 ng/ml) hoặc không đầy
đủ (21 đến 29 ng/ml) vitamine D. Ở châu Âu và ở Hoa Kỳ, 40 đến
100% những người già ở trong tình trạng thiếu hụt vitamine D. Và
tình hình không sáng sủa gì hơn ở trẻ em, nhất là ở Châu Âu, nơi
mà ít thực phẩm được bổ sung bởi vitamine này.(LE JOURNAL DU
MEDECIN 18/9/2007)
2/ VITAMINE C KỀM HÃM UNG THƯ NHƯ THỂ NÀO ?
Một công trình của Viện John
Hopkins ở Hoa Kỳ chứng tỏ rằng vitamine C có thể làm chậm lại sự
tăng trưởng của các khối u nơi loài chuột. Cơ chế sinh lý giải
thích tuồng như rất khác với cơ chế đã chiếm ưu thế cho đến ngày
hôm nay.
Cách nay khoảng gần 30 năm Linus
Pauling đã đưa ra giả thuyết nói rằng sử dụng vitamine C bổ sung
mỗi ngày có thể ngăn ngừa ung thư. Lời giải thích làm cơ sở cho
lý thuyết này là vitamine C loại bỏ các gốc tự do (radicaux
libres) khả dĩ làm tổn hại ADN . Nói một cách khác, vitamine này
có khả năng làm ổn định vật chất di truyền và như thế ngăn ngừa
sự phát triển của các khối u. Quan niệm này đã đưa đến một công
trình nghiên cứu tiền lâm sàng to lớn và những nghiên cứu quy mô
lớn nhằm vào việc phòng ngừa ung thư nơi người.
Một công trình nghiên cứu mới đây
của Viện John Hopkins ở Hoa Kỳ khám phá ra một cơ chế tác dụng
không được biết đến của vitamine C ( và có lẽ cũng của những
chất chống oxy hóa khác) lên sự tăng trưởng của các khối u.
SỰ PHÁT SINH MẠCH MÁU (ANGIOGENESE)
Các chuyên gia ung thư học Chi Dang
và Ping Gao đã quan sát ở các con chuột trong phòng thí nghiệm
bị gây ung thư (u lympho và ung thư gan) và nhận thấy rằng
vitamine C làm chậm sự tăng trưởng của các khối u trong một môi
trường thiếu oxy. Các nhà nghiên cứu này nghĩ ngay đến cơ chế
phát sinh mạch máu (angiogenèse) và protéine gây nên bởi tình
trạng thiếu oxy, HIF-1 (hypoxia-induced factor 1). « Nếu các tế
bào thiếu oxy, HIF-1 sẽ bắt đầu hoạt động. HIF-1 giúp tế bào
khối u thiếu oxy biến đổi một lượng đầy đủ glucose thành năng
lượng. Ngoài ra, protéine này cho phép các khối u xây dựng các
huyết quản mới để đi tìm kiếm oxy. Nhưng để có thể hoạt động,
HIF-1 cần có những gốc tự do (radicaux libres). Không có các gốc
tự do thì sẽ không có HIF-1, không có tiếp vận máu và do đó
không có sự tiếp tục tăng trưởng của khối u.. Chính ở điểm này
mà các chất chống oxy hóa (antioxydant) sẽ đóng một vài trò :
bằng cách làm giảm lượng các gốc tự do, vitamine C kềm hãm hoạt
tính của HIF-1 và làm chậm sự tiến triển của các khối u ».
Để cho khám phá có thêm sức mạnh, các nhà nghiên cứu đã
phải nhờ đến một mô hình chuyển di truyền (modèle transgénique)
trong đó chức năng của HIF-1 đã được biến đổi khiến protéine
không còn độc lập với sự hiện diện của các gốc tự do nữa. Trong
một mô hình như thế, việc cho các chất thu lấy các gốc tự do
(capteurs để radicaux libres) như vitamine C không còn một chút
anh hưởng nào lên sự phát triển của khối u.
Tuy vậy, các tác giả cảnh giác, việc
cho với liều lượng lớn các chất chống oxy hoá (antioxydants) như
thuốc chữa bệnh và phòng ngừa ung thư, là điều không được biện
giải : “ Các vitamine mặc dầu cốt yếu để sống trong tình trạng
sức khoẻ tốt, nhưng vẫn còn quá sớm để rút ra từ công trình
nghiên cứu này những kết luận liên quan đến dinh dưỡng . Hơn
nữa, ở người, không phải tất cả các u ung thư đều phụ thuộc vào
HIF-1 ”. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 18/9/2007)
3/ RU TRÉ VỀ PHÍA PHẢI HAY PHÍA TRÁI ?
Các công
trình nghiên cứu chứng tỏ rằng 65% đến 85% các bà mẹ ru con về
phía trái của thân mình nhưng động tác này có thể bị ảnh hưởng
bởi tính khí và tình trạng stress của bà mẹ. Ít nhất cứ mười phụ
nữ thì có một mắc phải chứng trầm cảm sau khi sinh (dépression
postnatale), do đó việc nghiên cứu các hành vi không thể hiện
bằng lời nói có thể giúp nhận diện được các bà mẹ nào cần được
giúp đỡ trước khi sự can thiệp trở nên quá muộn. « Nhiều bà mẹ
không nhận thức được rằng họ bị stress, hoặc họ không chấp nhận
là họ bị như thế. Phương cách họ tương tác với các con của họ là
chỉ dấu tốt nhất về trạng thái tâm thần của họ ». Nadja
Reissland giải thích như vậy
Trong một công trinh nghiên cứu quy mô lớn về mối tương
tác giữa bà mẹ và trẻ em, 79 bà mẹ được yêu cầu ôm con trong tay
họ (44 bé trai, 35 bé gái , tuổi trung bình 7 tháng). Phương
pháp đã xác lập rằng không có mối liên hệ giữa bên ru được ưa
thích và sự việc thuận tay phải hay tay trái.
Các kết quả chứng tỏ rằng 86% các bà mẹ không
bị stress hoặc không bị trầm cảm, đã ru con mình về phía trái và
14% về phía phải.Trái lại, số bà mẹ bị stress đã ru con về phía
phải nhiều hơn. Trong khi đó các bà mẹ chỉ bị trầm cảm không
thôi đã ru con mình về phía trái.Theo các tác giả, sự việc không
ru con về phía trái là do stress mà các bà mẹ đã chịu đựng hơn
là do tình trạng trầm cảm của họ.Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu
đánh giá rằng công trình nghiên cứu của họ chứng tỏ rằng tình
trạng tâm thần của bà mẹ có thể được suy diễn căn cứ trên phía
mà các bà mẹ ưa thích để ru con.( LE JOURNAL DU MEDECIN
18/9/2007)
4/ CHỨNG TRẦM CẢM, MỘT NGUYÊN NHÂN RẤT QUAN TRỌNG CỦA TỶ LỆ BỆNH
TẬT.
Chứng trầm cảm gây nhiều bệnh tật
hơn là một bệnh kinh niên như cơn đau thắt ngực (angor), viêm
khớp, suyển hoặc đái đường. Đó là kết luận của một công trình
nghiên cứu của Tổ Chức Y Tế Quốc Tế vừa được công bố trong The
Lancet. Sự phối hợp giữa một trong các bệnh mãn tính này với
chứng trầm cảm dẫn đến các số điểm (score) xấu nhất về mất sức
khỏe.
Chứng trầm cảm là một vấn
đề y tế công cộng rất quan trọng.Trước hết là do tỷ lệ mắc bệnh
cao (2-15%) nhưng cũng bởi vì chứng này đi đôi với một tình
trạng bệnh tật quan trọng. Nếu không được điều trị, chứng trầm
cảm có khuynh hướng trở thành mãn tính, tái phát hoặc nhiên hậu
làm gia trọng tình trạng tàn phế.
Việc kết hợp của chứng trầm cảm với
một bệnh mãn tính khác (đái đường hoặc viên khớp) là điều đã
được biết rõ. Các nghiên cứu đã chứng tỏ rằng các bệnh nhân bị
một bệnh mãn tính có nguy cơ lớn hơn trong việc phát triển chứng
trầm cảm. Với quá trình lão hóa của dân số và với hệ lụy của nó
là sự gia tăng tỷ lệ mắc phải một loạt các bệnh mãn tính do cao
tuổi, tỷ lệ bị chứng trầm cảm sẽ tăng cao nhiều. Các chuyên
viên dự kiến rằng vào năm 2020 chứng trầm cảm sẽ trở nên nguyên
nhân thứ hai về bệnh tật sau các bệnh về tim.
TRÊN QUY MÔ THẾ GIỚI.
Để có một quan điểm tốt hơn về tác
động của chứng trầm cảm lên dân chúng, Tổ Chức Y Tế Thế Giới đã
phát động một công trình nghiên cứu được gọi là WHO World Health
Survey.Tổ chức này đã thâu thập các dữ kiện y tế của 245.404
người trên 18 tuổi từ 60 nước khác nhau trên toàn thế giới.
Chú ý được hướng về tỷ lệ mắc bệnh
trầm cảm, cơn đau thắt ngực (angor), suyễn, đái đường cũng như
điểm số trung bình về sức khỏe. Điếm số này được thiết lập trên
cơ sở của các câu trả lời cho 16 câu hỏi về những khía cạnh khác
nhau liên quan đến sức khỏe : thị lực, khả năng di động, sự đau
đớn, giấc ngủ, khả năng nhận thức.
BỆNH NHÂN MÃN TÍNH VÀ TRẦM CẢM.
Trên quy mô thế giới, tỷ lệ mắc
phải một bệnh mãn tính nói riêng là dưới 5%. Tỷ lệ mắc bệnh đái
đường nằm trong khoảng 2%.Tuy nhiên các tác giả nói rõ rằng các
con số của bệnh đái đường được căn cứ trên sự tự đánh giá của
bệnh nhân và vì vậy một sự đánh giá không đầy đủ căn bệnh này là
điều không thể không loại trừ. Chứng trầm cảm riêng lẻ xảy ra ở
vị trí thứ hai, tỷ lệ mắc bệnh là 3,2%. Sau đó là suyễn (3,3%),
viêm khớp (4,1%) và cơn đau thắt ngực (4,5%).
Một tỷ lệ đáng kể những người trả lời mắc
phải một trong những bệnh mãn tính được khảo sát cũng là những
người bị trầm cảm : đó là trường hợp của 9,3% những người bị
bệnh đái đường. Đối với những người bị bệnh viêm khớp, cơn đau
thắt ngực và suyễn, các con số lần lượt là 10,7%, 15% và
18%.Trong số 7,1% những người trả lời mắc phải hai bệnh mãn tính
hoặc nhiều hơn, thì khoảng ¼ (23%) cũng bị trầm cảm. Như chúng
ta thấy đó, chứng trầm cảm xảy ra nhiều hơn ở những bệnh nhân bị
một bệnh mãn tính.
MỘT TÁC ĐỘNG LỚN HƠN LÊN SỨC KHOẺ.
Những người trả lời không mắc phải
một bệnh mãn tính nào được nói đến trong công trình nghiên cứu
cũng như không bị trầm cảm, cảm thấy thoải mái nhất (điểm số sức
khỏe là 90,6), điều này không có gì gây ngạc nhiên. Đối với
những người mắc phải một bệnh mãn tinh riêng lẽ như suyễn, cơn
đau thắt ngực, viêm khớp hoặc đái đường, các con số lần lượt lá
80,3, 79,6, 79,3 và 78,9. Những người trả lời chỉ bị chứng trầm
cảm có một điểm số 72,9.
Những người trả lời không bị trầm
cảm nhưng mắc phải hai bệnh mãn tính hoặc hơn, có điểm số sức
khỏe trrung bình là 71,8. Điểm số thấp nhất được nhận thấy nơi
những người bị hai bệnh mãn tính hoặc hơn, phối hợp với một
chứng trầm cảm : 56,1.
Các tác giả kết luận rằng chứng trầm cảm có một ảnh
hưởng trên sức khỏe
lớn hơn cơn đau thắt ngực, suyễn, viêm khớp
hoặc đái đường. Họ kêu gọi các thầy thuốc cần cảnh giác hơn về
chẩn đoán và điều trị bệnh.Trong trường hợp bệnh mãn tính phối
hợp với chứng trầm cảm thì sự điều trị thường chỉ đặc biệt hướng
vào những triệu chứng thuần vật lý mà không chú ý đến những
triệu chứng trầm cảm.
« Trầm cảm phải trở nên một ưu tiên
trong săn sóc y tế, nhằm hạn chế chừng nào có thể được tỷ lệ mắc
bệnh và tàn phế liên kết với chứng bệnh này. Điều này được thực
hiện trong tinh thần theo đuổi sự cải thiện tình trạng sức khỏe
của dân chúng trên thế giới ». Các tác giả kết luận như vậy.
( LE JOURNAL DU MEDERCIN 18/9/2007)
5/ DIESEL VÀ NHỒI MÁU CƠ TIM.
Việc
tiếp xúc với sự ô nhiễm do giao thông đường xá càng ngày càng bị
quy cho là nguyên nhân của nguy cơ tim mạch, nhưng người ta
không biết được các cơ chế được vận dụng.
Một nhóm nghiên cứu
người Anh và Thụy Điển đã thực hiện một nghiên cứu bằng cách cho
bệnh nhân đau tim tiếp xúc với hơi bốc của diesel để xác định
vai trò của ô nhiễm không khí lên chức năng của cơ tim, huyết
quản và tan sợi huyết (fibrinolytique).
Nicholas
Mills (Anh) và các cộng sự viên đã tiến hành một công trình
nghiên cứu.Họ cho 20 người đã bị nhồi máu cơ tim (infarctus du
myocarde) tiếp xúc trong thời gian một giờ, hoặc với khí thải
(gaz d’échappement) diesel (300 microgramme/m3), hoặc với khí
được thanh lọc, trong lúc nghỉ ngơi và trong lúc thể dục có mức
độ. Các chức năng tan sợi huyết và vận mạch đã được đo lường 6
giờ sau khi bệnh nhân được cho tiếp xúc
Các kết quả chứng tỏ rằng sự gia tăng nhịp tim đáp
ứng với thể dục giống nhau trong hai loại tiếp xúc ( khí ô nhiễm
và khí được thanh lọc). Nếu trên điện tâm đồ sự hạ xuống của
đoạn ST gây nên bởi thể dục đều hiện diện nơi tất cả các bệnh
nhân, thì sự thiếu màu cục bộ cơ tim gia tăng trong trường hợp
tiếp xúc với diesel. Trái lại, sự tiếp xúc này không làm trầm
trọng sự loạn chức năng vận mạch (dysfonction vasomotrice) đã có
trước đây nhưng làm giảm sự phóng thích activateur tissulaire du
plasminogène.
Theo các tác giả, sự tiếp xúc ngắn
ngủi với khí thải diesel gây nên sự thiếu máu cơ tim và cản khả
năng tan sợi huyết nội tại (capacité fibrinolytique endogène)
nơi những bệnh nhân bị bệnh tim. Các cơ chế gây thiếu máu và
huyết khối được phát hiện có thể giải thích một phần quan sát
dịch tễ học, theo đó việc tiếp xúc với các phần tử do sự đốt
cháy (particules de combustion) được liên kết với các hậu quả
tim mạch khác nhau trong đó có nhồi máu cơ tim.( LE JOURNAL DU
MEDECIN 21/9/2007)
6/ NƯỚC NHO VẮT TỐT CHO TIM VÀ CÁC MẠCH MÁU
Các nhà nghiên cứu của Madrid đã yêu
cầu 15 người có sức khỏe tốt và 26 người được điều trị bằng thẩm
tách máu (hémodialysé) (là những người có nguy cơ về bệnh tim
cao hơn), uống mỗi ngày 100 ml nước nho vắt. Sau 2 tuần, tất cả
những người tình nguyện có nồng độ cholestérol LDL (cholestérol
xấu) hạ thấp và nồng độ cholestérol HDL (cholestérol tốt) tăng
cao. Nơi những bệnh nhân đang được điều trị bằng thấm tách máu,
tỷ suất giữa cholestérol toàn thể và HDL (một chỉ dấu của các
bệnh tim mạch) đã giảm một cách quan trọng (gợi ý giảm nguy cơ).
Các nhà khoa học đã tìm kiếm nơi những bệnh nhân thấm tách máu
những nồng độ protéine MCP-1 (một chỉ dấu của phản ứng viêm liên
kết với các bệnh tim mạch). Sau 3 tuần uống nước nho vắt, các
protéines này đã giảm 56%. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng
tỏ rằng nước nho vắt giúp giãn các huyết quản bằng cách làm dễ
sự phóng thích monoxyde d’azote.(
SCIENCES ET AVENIR 9/2007)
7/ ĐẬU NÀNH VÀ CHỨNG MÃN KINH.
45% các cơn
bừng mặt (bouffées de chaleur) sẽ bớt đi với đậu nành (soja)...
Một công trình
nghiên cứu của Hoa Kỳ chứng tỏ rằng đậu nành làm giảm những
triệu chứng khó chịu gây nên bởi thời kỳ mãn kinh. Số cơn bừng
mặt giảm 45% trong trường hợp tiêu thụ thức ăn giàu đậu nành.
Trong các nước phương Tây, 60 đến 90% các phụ nữ trong thời kỳ
mãn kinh bị những cơn bừng mặt. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều nơi các
đàn bà châu Á : chỉ 10-25% các phụ nữ châu Á bị những cơn bừng
mặt trong thời kỳ mãn kinh. Các kết quả của một công trình
nghiên cứu của Hoa Kỳ mới đây xác nhận giả thuyết cho rằng sự
tiêu thụ nhiều đậu nành trong các nước châu Á đóng một vai trò
quan trọng trong việc làm giảm tỷ lệ này.
60 phụ nữ từ 48 đến 65 tuổi đã theo đuổi một chế độ ăn
uống có lợi về mặt tim mạch, trong 2 thời kỳ ( mỗi thời kỳ kéo
dài 8 tuần).Trong thời kỳ 8 tuần đầu tiên, một phần protéine của
chế độ ăn uống được thay thế bởi các quả đậu nành (noix để soja)
chứa isoflavone và những protéines của đậu nành (25 g/ngày).
Trong thời kỳ 8 tuần thứ hai, cùng chế độ ăn uống nhưng lần này
không có sự thay thế protéines bởi các quả đậu nành. Các phụ nữ
tham dự công trình phải ghi nhận số lần cơn bừng mặt mỗi ngày.
Cuối mỗi thời kỳ họ được yêu cầu điền một bảng câu hỏi về chất
lượng đời sống của họ.
Các kết quả của công trình nghiên cứu
chứng tỏ rằng một chế độ ăn uống giàu đậu nành đã làm giảm hầu
như một nửa số lần các cơn bừng mặt mà các phụ nữ mãn kinh phải
chịu đựng.. Ngoài ra bảng câu hỏi xác
nhận rằng sự tiêu thụ đậu nành cải thiện đáng kể chất lượng của
cuộc sống.( LE JOURNAL DU MEDECIN 21/9/2007)
8/ THUỐC LÀ LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ SA SÚT TRÍ
TUỆ
Những người
hút thuốc lá gia tăng nguy cơ phát triển chứng sa sút trí tuệ.
Hiệu quả này kém rõ rệt hơn nơi những người có allèle APOE4. Đây
là kết quả của công trình nghiên cứu Rotterdam. Monique Breteler
(Erasmus Medical Center, Rotterdam) và nhóm nghiên cứu đã theo
dõi 6868 đàn ông và phụ nữ tuổi 55 hoặc hơn ( tuổi trung bình là
69,5).Vào lúc khởi đầu công trình nghiên cứu, không có ai có
những dấu hiệu của chứng sa sút trí tuệ (démence). Các tác giả
tìm kiếm mối liên hệ giữa nghiện thuốc lá và sự phát triển chứng
sa sút trí tuệ trong tập thể được khảo sát này.Vào lúc công
trình nghiên cứu bắt đầu, 26,6% những người tham dự là những
người nghiện thuốc tích cực, và 41,6% là những người trước đây
đã nghiện thuốc lá. Suốt trong một thời kỳ theo dõi trung bình
7,1 năm, 10,3% những người tham dự đã phát triển chứng sa sút
trí tuệ. Trong ¾ các trường hợp đó là bệnh Alzheimer. Sau khi đã
điều chỉnh về tuổi và giới tính, các tác giả đã ghi nhận nơi
những người hút thuốc lá một gia tăng đáng kể nguy cơ phát triển
chứng sa sút trí tuệ, so với những người đã không bao giờ hút
thuốc. Các nhà nghiên cứu cũng đã nhận xét rằng các tác dụng của
thuốc lá được quan sát đặc biệt ở những người không mang allèle
APOE4.(
LE JOURNAL DU MEDECIN 14/9/2007)
9/ NHẠC LÀM BỚT TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Sự kích
thích thính giác làm gia tăng tốc độ trung bình của lưu lượng
máu trong động mạch não trung (artère cérébrale moyenne). Một
nhóm nghiên cứu của bệnh viện đại học Zagreb (Croatie) đã theo
dõi những biến đổi này nơi những bệnh nhân là nạn nhân của tai
biến mạch máu não do thiếu máu cấp tính (accident vasculaire
cérébral ischémique aigu).
Công trình nghiên cứu bao gồm 113
người (trong đó 52 bệnh nhân không được điều trị bằng cho thuốc
tan huyết khối ), được nhập viện trong 24 giờ sau tai biến mạch
máu não do thiếu máu cục bộ, và 61 người dùng làm chứng có sức
khỏe tốt.Tốc độ trung bình của lưu lượng máu của động mạch não
trung được ghi bởi Doppler transcranien. Nơi những người bị tai
biến mạch máu não, chỉ có động mạch phía bị thương tổn là được
thăm khám, trong khi đó nơi những người chứng, cả hai động mach
đều được ghi. Sau đó, các tốc độ trung bình của lưu lượng máu đã
được theo dõi trong khi bệnh nhân được cho nghe nhạc thư giãn
trong 2 phút.
Khởi đầu,
các bệnh nhân bị tai biến mạch máu não có tốc độ trung bình của
lưu lượng máu trong động mạch não trung thấp hơn so với những
người chứng. Trong 2 nhóm, người ta ghi nhận tốc độ trung bình
tăng cao, đáp ứng lúc nghe nhạc.Thời gian cần thiết để có được
sự gia tăng này trong nhóm tai biến mạch máu não cao hơn nhiều
so với nhóm kiểm chứng.
Kết luận : Mặc dầu các bệnh nhân (là
nạn nhân của một tắc nghẽn của động mạch não trung) có lưu lượng
màu bị giảm trong động mạch bị thương tổn, nhạc vẫn là một kích
thích thính giác có hiệu quả.Tuy nhiên, thời gian đáp ứng với âm
nhạc của những bệnh nhân này dài hơn so với những bệnh nhân lành
mạnh.( GENERALISTE 20/9/2007)
10/ TẬP THỂ DỤC CHỐNG SA SÚT TRÍ TUỆ
Chứng sa sút trí tuệ là một rối loạn
tước đi dần dần khả năng nhớ, hiểu và kiểm soát những năng lực
vận động của bệnh nhân. Một nhóm nghiên cứu của Creutzfeldt-
Institut ở Kiel (Đức) đã theo dõi từ năm 2001 những bệnh nhân bị
hoặc là sa sút trí tuệ do nguyên nhân huyết quản (démence
vasculaire) hoặc là sa sút trí tuệ Alzheimer, nhằm xác định xem
tập thể dục có làm cải thiện khả năng nhận thức và trí tuệ của
họ hay không. Kết luận của nhóm nghiên cứu là quả đúng như
vậy.Hai buổi thể dục mỗi tuần có hiệu quả hơn là một buổi. Khả
năng nhận thức chỉ được cải thiện nếu như thể dục diễn ra đều
đặn ít nhất là trong 6 tuần.(GENERALISTE 20/9/2007)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(24/9/2007)
Trở về Trang Chính
|