Thời Sự Y Học


 

BS Nguyễn Văn Thịnh

E-Mail: bsnguyenvanthinh@khoahoc.net

28 tháng 02 năm 2008

1/ MARY EDWARDS WALKER, NỮ PHẪU THUẬT VIÊN ĐẦU TIÊN CỦA HOA KỲ

           Thế kỷ thứ XIX đã chứng kiến sự xuất hiện của một phong trào giải phóng phụ nữ và  đã thấy nhiều trong số các phụ nữ này tranh đấu để được quyền theo học và hành nghề. Có thể nói rằng những người thầy thuốc nữ đầu tiên đã là những người phụ nữ đặc biệt, không những do tình cảnh của họ mà còn do lòng quyết tâm và phẩm chất của những phụ nữ này. Một vài người phụ nữ đã đặc biệt lỗi lạc ưu tú. Đó là trường hợp của Mary Edwards Walker ở Hoa Kỳ.

           Một con tem 20 cents được phát hành ngày 10 tháng 6 năm 1982 bởi tiểu bang Nữu ước, có hình một thiếu nữ với nét mặt thanh tú, có mái tóc xoăn theo kiểu các phụ nữ người Anh và ăn mặc thanh lịch với một chiếc áo cánh được trang trí bởi một chiếc khăn ngực thêu ren. Hình ảnh lãng mạn này, như ta có thể đọc trên con tem, là của BS Mary, quân y sĩ, nhà phẫu thuật trong quân đội yankee và huy chương danh dự của Quốc Hội Hoa Kỳ  năm 1865, được trao tặng vì những phục vụ mà Mary Walker đã cống hiến cho Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh ly khai  (guerre de Sécession)

MỘT TUỔI TRẺ TRONG MỘT MỐI TRƯỜNG TỰ DO TƯ TƯỞNG VÀ CHIẾN ĐẤU.
          Mary Walker sinh năm 1832 ở Oswego trong tiểu bang Nữu Ước. Cha cô là thầy thuốc thôn quê, là nhà tư tưởng tự do và là nhà chiến đấu trong các phong trào cải cách khác nhau vừa mới xuất hiện ở Hoa Kỳ vào thế kỷ XIX, trong đó có một phong trào nhằm hủy bỏ chế độ nô lệ.

          Ông Walker là một người ủng hộ việc nam nữ bình quyền và 5 người con gái của ông đã nhận được cùng một nền tảng giáo dục như người anh trai độc nhất của các cô.

          Được dạy dỗ trong một môi trường tự do và chiến đấu như thế, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy rằng Mary nhiệt tình với các quyền của phụ nữ. Cô cũng say mê đấu tranh chống lại lối ăn mặc gò bó áp đặt vào các phụ nữ thời đó.

         Và người ta sẽ còn ít ngạc nhiên hơn khi thấy Mary quyết định trở thành thầy thuốc.

          Vào tháng 6 năm 1885, cô tốt nghiệp Syracuse Medical College, trường y chính thức duy nhất chịu chấp nhận cho các sinh viên nam và nữ vào học một cách bình đẳng. Cô là người phụ nữ độc nhất của khóa đào tạo này. Các thầy thuốc nữ vào thời kỳ đó mới còn đếm được trên đầu các ngón tay. Mary nhận được văn bằng lúc cô 21 tuổi, sau 39 tuần đào tạo.
          Vào năm 1856, cô cưới Albert Miller, cũng là một thầy thuốc.Việc toan tính mở phòng mạch chung sau đó của hai vợ chồng đã không thành công : chấp nhận được săn sóc bởi một thầy thuốc nữ vào thời đó đã chưa là một thói quen . Cuộc hôn nhân được kết thúc bởi sự ly dị năm 1869.

MARY TRÊN KHẮP CHIẾN TRẬN VÀ MỘT SỰ CÔNG NHẬN CHÍNH THỨC.

          Khi xảy ra cuộc nội chiến, Mary đi Washington và đầu quân vào quân đội với tư cách nhà phẫu thuật. Mặc dầu tốt nghiệp hợp pháp, nhưng người ta từ chối tuyển dụng cô như sĩ quan quân y. Cô chỉ được chấp nhận cho làm phụ tá thiện nguyện. Mary là nhà phẫu thuật nữ đầu tiên làm việc trong quân đội Mỹ.

         Trước hết cô hành nghề ở US Patent Office Hospital ở Washington. Nhưng chẳng bao lâu sau đó, người ta thấy cô xuất hiện trên các trận tuyến.Về tiện nghi cho công tác, cô đã được cho phép ăn mặc những bộ quần áo nam giới.  

         Cô hoạt động như nhà phẫu thuật ngoại khoa trong trận đánh Bull Run (1861), trận đánh Chattanooga, trận đánh Chickomauga (1863).

          Sau cùng, năm 1863, Mary được tuyển mộ làm phụ tá giải phẫu ăn lương trong trung đoàn 52 bộ binh Ohio. Cô đã không do dự khi phải băng mình xuyên qua các chiến tuyến hợp bang. Mary liều lĩnh đến độ cuối cùng cô đã bị rơi vào tay quân miền Nam năm 1864 và bị giam tù ở Richmond trong 4 tháng. Sau đó cô được thả tự do cùng với các thầy thuốc khác trong dịp trao đổi tù binh. Sau khi được tự do, cô gia nhập trung đoàn 52 Ohio. Cô tham dự trận đánh Richmond, trận đánh Atlanta, luôn luôn săn sóc điều trị những người thường dân cũng như những người lính chiến.

         Trong những năm tháng cuối cùng của cuộc chiến, cô được bổ nhiệm làm thầy thuốc và phẫu thuật viên tại nhà tù dành cho phụ nữ ở Louisville và tại một cô nhi viện ở Tennessee.

        Vào cuối cuộc chiến, cô đã nhận được huân chương quân đội cao nhất của Hoa Kỳ : huân chương danh dự của Quốc Hội.


CHIẾN ĐẤU ĐẾN CÙNG TRONG TẤT CẢ CÁC LÃNH VỰC.

       Sau chiến tranh, Mary Walker chuyên tâm vào việc bảo vệ các quyền của phụ nữ (quyền bỏ phiếu, quyền được học hành, quyền được ly dị trong những điều kiện công bằng cho phụ nữ). Bà tranh đấu để cải cách ăn mặc, chống lại thời trang áp đặt lên các phụ nữ vừa “ không đạo đức và không thích ứng “. Bà tham dự vào các chiến dịch tiết độ không những chống lại việc nghiện ruợu mà còn chống nghiện thuốc lá, “ nguồn gốc của bại liệt và sức khỏe kém “. Về ăn mặc quần áo, bà đã bị bắt nhiều lần bởi vì đã ăn mặc như nam giới. Bà đã viết rất nhiều, đã xuất bản một cuốn tiểu sử và một cuốn sách “ Unmasked, or the Science of Immortality “. Bà là giám đốc của một nhà điều dưỡng (sanatorium) gần Oswego.


MỘT SỰ SĨ NHỤC ĐAU LÒNG.

         Năm 1917, bảng tuyên dương công trạng dành cho bà (nhờ đó bà được huân chương danh dự của Quốc Hội) cũng như cho 910 cựu chiến binh khác của cuộc chiến tranh ly khai đã bị hủy bỏ với lý do là vào thời đó bà đã không tham gia một trận đánh giáp lá cà chống lại quân thù nào cả ! Tuy vậy bà đã làm được nhiều chuyện hơn là chiến đấu trong cuộc chiến tranh này, bà đã cứu biết bao sinh mạng bất chấp mọi nguy hiểm đến mạng sống của mình. 

           Lòng đầy oán hận vì sự sĩ nhục này, bà đã từ chối trao trả lại huy chương và vẫn tiếp tục mang nó cho đến khi mất năm 1919. Năm 1977, tổng thống Carter đã  “ khôi phục danh dự ” cho bà : ông tuyên dương “ vẻ thanh lịch tao nhã của bà, tinh thần hy sinh, lòng yêu nước của bà, sự tận tụy và sự trung thành không lay chuyển với tổ quốc, mặc dầu bà đã bị đối xử phân biệt chỉ vì giới tính của mình ”

        Năm 1982, Hoa Kỳ đã cho phát hành một con tem có hình của Mary , và trên con tem này bà đeo huy chương đã được trao tặng. Cho mãi đến ngày nay, Mary Walker vẫn là người phụ nữ đầu tiên từng được vinh danh bởi Quốc Hội ở Hoa Kỳ.  ( SEMAINE MEDICALE 7/2/2008)

 

2/ VIÊM GAN DO SIÊU VI TRÙNG B : TIÊM CHỦNG KHÔNG GÂY NGUY CƠ CHO TRẺ EM.

            Một công trình nghiên cứu mới của Pháp nhấn mạnh rằng không có mối liên hệ giữa việc tiêm chủng chống viêm gan do siêu vi trùng B và bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques).

           Rất gần đây, việc hai đại diện của công nghiệp dược phẩm đã bị thẩm vấn trong vụ thuốc chủng chống bệnh  viêm gan B và nguy cơ mắc phải bệnh xơ cứng rải rác, đã làm phát động trở lại cuộc tranh luận về vấn đề này.Tuy vậy, vào tháng 12 vừa qua, các thầy thuốc người Pháp đã công bố trong tạp chí Archives of Pediatrics một công trình nghiên cứu mới kết luận rằng ở trẻ em không có mối liên hệ giữa sự tiêm chủng chống viêm gan do siêu vi trùng B và bệnh xơ cứng rải rác. Được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo sư Marc Tardieu thuộc bệnh viện Kremlin-Bicetre, công trình nghiên cứu có liên quan đến đại đa số các trẻ em đã từng khai báo bị bệnh xơ cứng rải rác ở Pháp từ năm 1994 ( lúc chiến dịch chủng ngừa hàng loạt được phát động bởi chính phủ của thời kỳ đó ) và năm 2003. “ Đây là lần đầu tiên loại nghiên cứu này được thực hiện ở trẻ em, Marc Tardieu đã nhấn mạnh như vậy, và kết quả là rõ ràng : trong số 143 trường hợp được liệt kê, việc chủng ngừa chống virus của bệnh viêm gan B đã không liên kết với một nguy cơ phát bệnh xơ cứng rải rác quan trọng hơn ”
           Năm 2007, nhóm nghiên cứu người Pháp đã chứng tỏ rằng việc tiêm chủng chống viêm gan B nơi các trẻ em đã bị chứng xơ cứng rải rác đã không có một tác dụng nào lên tiến triển của bệnh này cả. “ Những công trình nghiên cứu này xác nhận một chục công trình nghiên cứu khác về chủ đề này và những điều mà các chuyên gia đã nghĩ về bệnh xơ cứng rải rác ”, giáo sư thần kinh học Christian Confavreux, ủy viên của ủy ban y học và khoa học của Hiệp hội nghiên cứu chống xơ cứng rải rác đã bình luận như thế. “ Bây giờ đây, hàng chục triệu người đã được tiêm chủng chống virus trên khắp thế giới, và không còn một nước nào nêu vấn đề này nữa trừ chúng ta. Các nghiên cứu càng được tiến hành sâu thì việc chủng ngừa này càng có vẻ không có tương quan với sự phát khởi hay sự tiến triển của bệnh xơ cứng rải rác ”.


TÍNH MIỄN DỊCH RẤT LÂU DÀI

         Trong các nước đang phát triển, siêu vi trùng của viêm gan B là nguyên nhân thứ hai gây tử vong bởi ung thư, sau thuốc lá. Ở Pháp, theo những con số chính thức, virus này gây ra gần 1.500 nạn nhân mỗi năm. Năm 1994, tiếp theo những lời khuyến nghị của OMS, chính phủ Pháp đã phát động một chiến dịch chích ngừa rộng rãi các nhũ nhi và các học sinh lớp 6. Việc tiêm chủng các trẻ ở lứa tuổi thấp gây nên một tình trạng miễn dịch rất lâu dài, có lẽ suốt đời chống lại virus và cho phép tác động lên mọi tầng lớp xã hội. Sự tiêm chủng các học sinh trung học là tiêm chủng đuổi (rattrapage) nhằm hoàn tất sự che chở bằng vaccin chống lại một nhiễm trùng được lây truyền bằng đường sinh dục.
        Vào năm 1998, trong khi các mối hoài nghi vẫn còn về một tác dụng làm gia trọng của việc chủng ngừa lên bệnh xơ cứng
rải rác, bộ trưởng Y tế Bernard Kouchner, đã quyết định đình chỉ sự tiêm chủng đã được dự kiến nơi tất cả các học sinh trung học. “ Tỷ lệ tiêm chủng bảo vệ nơi các thiếu niên vào thời kỳ đó là gần 80%.” Daniel Lévy-Bruhl, trưởng phòng tiêm chủng ở Viện theo dõi y tế đã xác nhận như thế, “ điều này khiến hiện nay chúng ta quan sát thấy một sự giảm sút các trường hợp viêm gan cấp tính nơi các người trưởng thành trẻ tuổi. Tỷ lệ tiêm chủng bảo vệ nơi các thiếu niên ngày nay dưới 40% và chúng ta sẽ có khả năng thấy số các trường hợp này gia tăng trong những thế hệ mới ”.
         Và điều này càng xảy ra khi sự tiêm chủng nơi các nhũ nhi vẫn luôn luôn dậm chân dưới 30%, trong khi tại các nước láng giềng châu Âu và ở Bắc Mỹ tỷ lệ này vượt quá 90%. “ Trái với sự tiêm chủng nơi người lớn, không bao giờ có những mối nghi ngờ về tính vô hại của sự tiêm chủng nơi các nhũ nhi, Daniel Lévy-Bruhl đã kết luận như thế, và việc tiêm chủng này đã được khuyến nghị bởi phần lớn các chính quyền y tế từ năm 1995 : vậy nay đúng là lúc phải áp dụng điều đó.”  ( LE FIGARO 12/2/2008 )

 

3/ NAPOLÉON BONAPARTE KHÔNG PHẢI CHẾT VÌ BỊ ĐẦU ĐỘC BỞI ARSENIC.

          Giả thuyết gây tranh cải về việc ám sát Napoléon đệ nhất bằng arsenic hôm qua đã bị bác bỏ bởi Viện vật lý nguyên tử Ý. Theo viện nghiên cứu này, nồng độ chất độc (arsenic) được tìm thấy trong tóc của hoàng đế không có gì là đặc biệt vào thời đó. Sau khi đã tiến hành “ một xem xét tỉ mỉ mới ” các sợi tóc của Napoléon, nhờ một lò phản ứng nhỏ, và sau khi đã so sánh với những sợi tóc của những thành viên gia đình của Napoléon và của những người “ hiện nay còn sống ”, các chuyên gia người Ý phát hiện rằng “ nồng độ arsenic trong các sợi tóc cách nay 2 thế kỷ là 100 lần mạnh hơn ” nồng độ trung bình hiện nay. Theo các nhà nghiên cứu, “ môi trường trong đó những người ở đầu thế kỷ XIX sinh sống khiến họ phải hấp thụ vào những lượng arsenic mà ngày nay chúng ta cho là nguy hiểm.” Do đó, nồng độ arsenic cao trong các sợi tóc của hoàng đế, chết lúc 51 tuổi, ngày 5 tháng năm năm 1821 trên đảo Sainte-Hélène, không phải là do bị đầu độc nhưng là do sự hấp thụ arsenic xảy ra một cách thường xuyên.” ( LE FIGARO 12/2/2008)


4/ HƯỚNG VỀ THUỐC CHỦNG BẰNG KHÍ DUNG.

           Mỗi năm, khoảng 5 triệu người chết trên thế giới vì các bệnh có thể được làm vô hiệu hóa bởi một thuốc chủng ngừa.Và những vaccin này có thể được cho bằng đường các niêm mạc, dễ thực hiện hơn nhiều so với một mũi tiêm của đường “ truyền thống ”. Theo một công trình nghiên cứu được công bố hôm nay trong tạp chí Académie américaine des Sciences (PNAS), việc cho thuốc chủng bằng đường khí dung (aérosol) dường như là “ một trong những chiến lược phòng ngừa hứa hẹn nhất đối với một chiến dịch chủng ngừa đại trà. Phương pháp này mang lại một giải pháp an toàn, dễ dàng hơn về mặt hậu cần và kinh tế hơn. Theo công trình nghiên cứu, phương pháp này ngoài ra có lợi thế là phát triển một đáp ứng miễn dịch có thể làm giảm độc lực hay hay tiêu diệt hẳn các mầm bệnh được giữ lại bởi các niêm mạc. Nói một cách khác, không những chúng ta có thể chủng ngừa các người bệnh, mà còn có thể làm chậm lại sự tiến triển qua không khí của sự lây nhiễm.

          Các nhà nghiên cứu đã thực hiện một công trình nghiên cứu tiền lâm sàng trên cơ sở hai poxvirus recombinants, NYVAC và MVA, được cho vào các chú khỉ rhésus. “ Chúng tôi đã không nhận thấy một bệnh lý nào gây nên bởi vaccin, thí dụ trong não bộ và phổi. Đáp ứng miễn dịch vẫn còn có thể phát hiện được trên 5 tháng sau khi đã cho thuốc chủng ngừa. Chính vì vậy chúng tôi ước tính rằng khí dung là một công cụ hiệu quả cho các chiến dịch phòng ngừa đại trà chống lại các tác nhân gây bệnh được truyền bởi các niêm mạc.”

         Phương cách truyền vaccin này, được đại chúng hóa bởi các máy mà các người bị bệnh suyễn đang sử dụng, rất là hữu ích trong các nước đang phát triển ; ở đây hàng ngàn nhân viên trợ tế phải  tiến hành đồng thời việc tiêm chủng để ngăn chận sự tiến triển của bệnh, như trong trường hợp chiến dịch chống bệnh đậu mùa, mà OMS đã tiệt trừ bằng cách tạo nên những vùng tiêm chủng đồng tâm. Việc sử dụng khí dung, rất đơn giản, là thích hợp với các nhân viên ít được đào tạo.Việc sử dụng khí dung tránh việc tiêm chích và sự ô nhiễm máu như trong trường hợp tái sử dụng các dụng cụ tiêm chủng, một nguy cơ thường thấy trong các nước đang phát triển.( LE SOIR 12/2/2008)


5/ MỘT MẠNG LƯỚI LÀM THUỐC GIẢ Ở TRUNG QUỐC BỊ PHÁ VỠ.

           Các chuyên gia của đại học Oxford và của Wellcome (Vương Quốc Anh) đã tiết lộ hôm qua trong tạp chí PloS One của Hoa Kỳ là đã cộng tác với các nhà điều tra Interpol để phá vỡ ở Trung Quốc một mạng lưới làm thuốc giả chống bệnh sốt rét. Bệnh sốt rét là mối đe dọa chết người đối với dân chúng sống ở vùng Đông Nam Á, nên việc buôn bán các viên thuốc không chứa, hoặc hầu như không có, các dẫn suất của artémisine (loại thuốc chống sốt rét mới) đã biện minh cho sự hợp đồng của các chuyên viên. Từ những mẫu nghiệm được lấy từ những thuốc giả thu lượm được ở Miến Điện, ở Lào, ở Việt Nam, Kampuchia và Thái Lan, người ta đã lần ra được tổ chức làm thuốc giả phát xuất từ Trung Quốc và đã ngăn chận. Trong những nước này, người ta ước tính từ 30 đến 50% các thuốc chống sốt rét là những thuốc giả. Thế mà những thuốc giả này làm dễ quá trình chọn lọc (sélection) và sự lan tràn của các ký sinh trùng đề kháng. Các viên thuốc đã được phân tích. Trên 321 mẫu nghiệm mang một nhãn hiệu thương mại giả của hãng dược phẩm thật Guilin Pharma của Trung Quốc, 195 mẫu nghiệm là những thuốc giả mạo. Những viên thuốc này chứa paracétamol, các kháng sinh ( không hiệu quả chống lại bệnh sốt rét ), cồn, chloroforme, hoặc ngay cả amphétamine  (chất cơ bản để chế tạo ecstasy !) Vào tháng 3 năm 2006, sau 7 năm điều tra, công an Trung Quốc cuối cùng đã bắt giữ những người đầu não của mạng lưới này.( LE FIGARO 12/2/2008)

 

6/ BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC LẠI BÙNG NỔ Ở PHÁP.

             Việc gia tăng trở lại những nhiễm trùng bởi lậu cầu, bởi chlamydia và của bệnh giang mai là hậu quả của sự tái tục các hành vi tính dục có nguy cơ (comportements sexuels à risques).

             Chính sách ngăn ngừa các bệnh nhiễm trùng được lây truyền bằng đường sinh dục ( MST : maladies sexuellement transmissibles ) đang bị nguy ngập. Tất cả các yếu tố chỉ báo cho thấy có một sự gia tăng trở lại các bệnh nhiễm trùng (lậu cầu, chlamydia, giang mai), được lây truyền lúc giao hợp (dù cho đó là giao hợp đồng tính hay dị tính). Thật vậy, bảng thông báo dịch tễ hàng tuần của Viện theo dõi y tế đã công bố tuần này các con số xác nhận về sự gia tăng các bệnh lây truyền bằng đường sinh dục ở Pháp.  Ngoài các hậu quả về mặt y tế riêng cho các nhiễm trùng này (các bệnh mãn tính nơi đàn ông, nguy cơ vô sinh nơi phụ nữ), các dữ kiện này thể hiện sự tái tục những hành vi tính dục có  nguy cơ, nói lên việc sử dụng phương tiện bảo vệ ít hơn và do đó mang lại một nguy cơ truyền virus bệnh Sida gia tăng.

           Các nhiễm trùng do lậu cầu có đặc điểm là có một thời gian tiềm phục ngắn và cho những triệu chứng “ ồn ào ” nơi đàn ông. Do đó những nhiễm trùng này là một chứng tỏ rất rõ về các hành vi tính dục  có nguy cơ ( comportements sexuels à risques ).
         Một mạng lưới 200 phòng xét nghiệm phân tích mỗi năm số giống gốc các lậu cầu được phân lập. Suốt trong 3 năm qua, sự gia tăng số trường hợp xảy ra một cách thường xuyên, với 50% được thêm vào trong năm 2006 so sánh với năm 2005. Với một sự gia tăng rất rõ rệt nơi các phụ nữ (thêm 264%) và ở tỉnh (thêm 94%). Tuổi trung bình của các bệnh nhân này là 30 tuổi đối với đàn ông và 23 tuổi đối với phụ nữ. Sau cùng phải ghi nhận một sự tiến triển của các giống gốc đề kháng với ciprofloxacine, một trong những kháng sinh chuẩn trong điều trị bệnh này.

          Nhiễm trùng do chlamydia trachomatis thường xảy ra nhất ở phụ nữ. Nhiễm trùng này chỉ gây ít triệu chứng nhưng nếu không được điều trị, có thể gây nên những thương tổn nơi các vòi trứng, nguyên nhân của vô sinh hoặc có thai ngoài tử cung. Từ đầu những năm 2000, một sự gia tăng các nhiễm trùng do chlamydia được quan sát ở Pháp, cũng như trong tất cả các nước công nghiệp hóa khác.Thí dụ ở Anh, sự gia tăng này có thể được quy cho công tác điều tra phát hiện được thực hiện một cách có hệ thống trong chiến dịch chống vô sinh nơi những người dưới 25 tuổi. Phải nhấn mạnh rằng ở Pháp, từ năm 2003 đến 2006, số các trường hợp nhiễm trùng do chlamydia đã gia tăng 55% nơi đàn ông và 62% nơi phụ nữ. Nhưng còn cần phải biết xem một sự gia tăng như thế là do sự tiến triển của bệnh hay chỉ do sự cải thiện của công tác điều tra phát hiện và của chẩn đoán.

ĐẨY MẠNH TRỞ LẠI CÔNG TÁC PHÒNG NGỪA
          Bệnh giang mai gần như đã biến mất ở nước Pháp trong những năm 1990 để rồi lại xuất hiện trở lại vào đầu những năm 2000, hầu như chỉ xảy ra ở những người đồng tính (homosexuel) hay lưỡng tính (bisexuel), đặc biệt là ở những người bị nhiễm đồng thời bởi virus sida. Mặc dầu những chiến dịch thông tin và phòng ngừa được phát động, bệnh có tiềm năng nghiêm trọng này vẫn không tỏ dấu hiệu lùi bước.Từ năm 2000 đến 2006, có 2.305 trường hợp giang mai đã được chẩn đoán ở Pháp. Sau một đợt giảm nhẹ vào năm 2005, số các trường hợp lại tăng lên năm 2006, đặc biệt là ở Ile-de-France và trong vùng Bắc Pas-de-Calais. Số các trường hợp giang mai bắt đầu xuất hiện ở những người dị tính ( hétérosexuel) mà mãi đến nay phần lớn không bị nhiễm bệnh.

          Việc công bố những dữ kiện này hẳn phải khiến chính quyền cần phải phát động trở lại những chiến dịch phòng ngừa nhằm vào các hành vi tính dục có nguy cơ( LE FIGARO 6/2/2008)


7/ CÁC CHẤT CHỐNG OXY HÓA CÓ THỂ LÀM GIẢM NGUY CƠ BỊ BỆNH ĐỤC THỦY TINH THỂ NƠI CÁC PHỤ NỮ.

           Các chất chống oxy hoa (antioxidant) vitamine E và lutéine ( từ thực phẩm và các chất thuốc bổ sung), có thể làm giảm nguy cơ bị bệnh đục thủy tinh thể (cataracte) nơi các phụ nữ, các nhà nghiên cứu đã báo cáo như thế

            Một công trình nghiên cứu trong số tháng giêng của The Archives of Ophthalmology đã tuyển mộ hơn 35.000 phụ nữ và đã theo dõi trong khoảng 10 năm.

            Sau khi đã điều chỉnh về mặt thống kê đối với việc nghiện thuốc lá, lạm dụng rượu, chỉ số khối lượng cơ thể và những biến số khác, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng các phụ nữ càng sử dụng  nhiều vitamine E và lutéine thì họ càng ít có khả năng mắc phải bệnh đục thủy tinh thể. So sánh với 1/5 các phụ nữ đã tiêu thụ các chất chống oxy hóa ít nhất, 1/5 các phụ nữ đã tiêu thụ nhiều nhất có nguy cơ bị bệnh đục thủy tinh thể giảm 14% với vitamin E và giảm 18% với lutéine.

         Dầu thực vật, quả hạch (nut), rau xanh và thóc lúa là nguồn của vitamine E, và lutéine được tìm thấy ở nhiều loại trái cây, bắp, spinach và những loại rau khác.

         William Christen, tác giả lãnh đạo công trình và là phó giáo sư y khoa của Brigham and Women ‘s Hospital, đã nói rằng nghiên cứu này chỉ có tính chất quan sát và rằng “ không có những thử nghiệm vững chắc đối với bất cứ chất dinh dưỡng đặc hiệu nào trong việc ngăn ngừa bệnh mắt cả ”
         Tuy nhiên, Christen nói, những điều tìm thấy gợi ý rằng các chất chống oxy hóa là có  lợi ích và rằng dân chúng nên ăn nhiều trái cây và rau xanh. “ Đây là lời khuyên mà có thể quý vị đã từng nghe nói trước đây,” ông đã phát biểu như vậy. Công trình nghiên cứu được hỗ trợ bởi DSM Nutritional Products. ( INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 14/2/2008)



8/ UNG THƯ TRỞ NÊN ĐỀ KHÁNG VỚI HÓA HỌC TRỊ LIỆU.

           Mặc dầu vài khối u ung thư đầu tiên đáp ứng rất tốt với hóa học trị liệu có chất nòng cốt là platine, nhưng sự việc thường trở nên xấu đi sau đó..

           Một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ  đã tiết lộ tại sao vài bệnh nhân bị ung thư buồng trứng, với thời gian điều trị trôi qua, đã trở nên đề kháng với hóa học trị liệu mà chất nòng cốt là platine, theo tạp chí Anh Nature.
            Các gènes BRCA1 và BRCa2, vốn có khả năng tu sửa ADN và bảo vệ các tế bào chống lại các tác nhân tấn công, đặc biệt là các chất gây ung thư. Có thể chính cac gènes này trong trường hợp biến dị di truyền, đã mở đường cho sự phát triển của các ung thư vú và buồng trứng. Những « sai lầm » di truyền như thế là nguồn gốc của khoảng 10% các ung thư buồng trứng, theo các tác giả. Như vậy, nếu các ung thư buồng trứng lúc khởi đầu đáp ứng rất tốt với hóa học trị liệu mà chất căn bản là platine, thì 70 đến 80% những bệnh nhân được điều trị này nhiên hậu sẽ phát triển một sức đề kháng với các dược chất này, theo công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu về ung thư Fred Hutchinson, ở Seattle (Washington).

           Trên thực tế, theo nhóm nghiên cứu của Toshiyasu Taniguchi, khi được tiếp xúc với cisplatine, vài tế bào của ung thư buồng trứng phát triển những biến dị thứ phát của gène BRCA2, cho gène này lại khả năng tu sửa DNA và như thế cho phép  khối u trở thành đề kháng với các tấn công của hoá học trị liệu.


« CHƯA BAO GIỜ THẤY »

           Elizabeth Swischer, nữ giám đốc của chương trình phòng ngừa ung thư vú và buồng trứng ở đại học Washington, đã gọi là “ chưa từng thấy ” cơ chế đề kháng hóa học trị liệu này. Theo bà, cơ chế này có thể giúp “ tìm ra những phương tiện mới nhằm mang lại tính nhạy cảm với hóa học trị liệu nơi các khối u ung thư ”   

          Các nhà nghiên cứu hy vọng có thể giải thích, nhờ khám phá này, sự đề kháng với những điều trị của một số trường hợp những ung thư, trong đó có ung thư vú, tuyến tiền liệt và tụy tạng. 
           Nature đã xuất bản song hành những công trình của nhóm nghiên cứu của giáo sư Alan Ashworth (Viện Nghiên Cứu Ung Thư, Luân Đôn) về ung thư vú và gène bị biến đổi BRCA2. Các công trình này cũng mô tả cơ chế thích nghi này (phục hồi các khả năng tu sửa của ADN) của những tế bào ung thư để chúng đề kháng và do do  sống sót với hoá học trị liệu. Khoảng 5% tất cả những trường hợp ung thư vú là do các bất thường gène di truyền mở đường cho sự phát triển của căn bệnh, theo nhóm nghiên cứu này.

        Khám phá này “ hẳn phải giúp tìm ra những phương tiện để chống lại vấn đề đề kháng này ”, Giáo sư Ashworth đã đánh giá như vậy. Ông nhấn mạnh rằng      “ việc đề kháng với thuốc là một vấn đề chung cho tất cả các loại ung thư ”  ( LE SOIR 11/2/2008)  

                                                                              
 
9/ TẠI SAO HÚT THUỐC LÁ LÀM TĂNG NHANH SỰ LÃO HÓA CỦA DA  

          Một công trình nghiên cứu trên hai chị em sinh đôi, một hút thuốc, còn người kia thì không, xác nhận những tác hại của thuốc lá.

          Những người hút thuốc kinh niên chối điều đó, nhưng chính những lời cảnh cáo trên những gói thuốc lá lại xác nhận điều này : thuốc lá góp phần một cách rõ ràng vào sự lão hóa của da. Mãi đến ngày nay, không có nhiều công trình khoa học hổ trợ cho lời xác nhận này. Các thầy thuốc chuyên khoa da của bệnh viện đại học Ohio, vừa công bố một bài báo mang lại một bằng chứng khá rõ ràng về những tác dụng tai hại của thuốc lá lên da. Công trình này, được công bố tháng 12 năm 2007 trong tạp chí Archives of Dermatology, có thể góp phần vào việc làm cho các phụ nữ ghê tởm về sự nghiện ngập thuốc lá của họ. Nếu nguy cơ bị ung thư phổi đối với họ có vẻ như xa vời và không thực, thì sự biến đổi của làn da là một lý lẽ mà những ông hay bà hút thuốc lá sẽ nhạy cảm.

          Các thầy thuốc bệnh ngoài da của Cleveland đã có cơ hội cùng thăm khám hai chị em sinh đôi. Hai người sinh đôi thật sự. Nhưng một người đã không bao giờ hút thuốc trong khi người kia thì trái lại, từ năm 20 tuổi đã hút một bao thuốc mỗi ngày. Hai  chị em sinh đôi này năm nay 52 tuổi và vẫn luôn luôn sống trong cùng một vùng ở miền nam Hoa Kỳ từ thuở ấu thơ, cả hai đã có cùng một hoạt động nghề nghiệp.
          Theo các câu trả lời của hai chị em sinh đôi này cho một bảng câu hỏi rất chính xác, họ có một thể trọng tương đương, có một chế độ ăn uống tương tự và tiếp xúc với ánh nắng mặt trời một cách tương đương trong suốt cuộc đời họ.

Tuy vậy, các thầy thuốc đã có thể chứng nhận, nơi bệnh nhân đã hút thuốc đều đặn, một sự gia tăng rõ rệt kích thước và độ sâu của các vết nhăn so với cô em đã không bao giờ hút thuốc. Nếu chúng ta chấp nhận sự kiện là điểm dị biệt duy nhất giữa hai chị em về lối sống là việc nghiện thuốc lá, thì phải xác nhận rằng sự nghiện ngập này có thể giải thích sự lão hóa gia tăng của người sinh đôi này so sánh với người kia.
         Kết luận, các tác giả của nghiên cứu được công bố này cho rằng sự khác nhau trong quá trình lão hóa của da, chỉ có thể được giải thích ở đây là do việc nghiện thuốc lá, có thể được sử dụng như một lý do thêm nữa trong việc khuyên những người hút thuốc bỏ thuốc.

        Bây giờ người ta biết nhiều yếu tố giải thích sự lão hóa của da. Trước hết là tuổi : với thời gian, sự đổi mới của các tế bào không còn đủ hoạt động nữa. Kế đó là mặt trời. Những người tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, hoặc lúc vui chơi hoặc lúc hoạt động nghề nghiệp, sẽ có một sự lão hóa sớm, với các vết nhăn, những vết đốm và những thương tổn tiền ung thư. Sau cùng, thuốc lá từ nay chắc chắn phải ngồi trên ghế các bị cáo( LE FIGARO 14/2/2008)


10/ ĐIỆU NHẢY TANGO CÓ THẾ HỮU ÍCH CHO CÁC BỆNH NHÂN PARKINSON.

          Khi ban nhạc trổi lên một bài hát điệu tango, những người bị bệnh Parkinson muốn tiến vào sàn nhảy.

          Đó là bài học từ một nghiên cứu mới báo cáo rằng khi bệnh nhân bị bệnh Parkinson theo các lớp dạy nhảy Tango, thì sự thăng bằng trong tư thế và dáng đi của họ được cải thiện.

         Những vấn đề về bước đi và sự thăng bằng trong tư thế là thường xảy ra trong số những người bị bệnh Parkinson, và thường dẫn đến té ngã. Các nhà nghiên cứu nói rằng trong số những khó khăn của người bệnh là việc lê bước và việc xoay trở mình trong khi bước. Các bệnh nhân có thể cảm thấy một “ sự đông cứng ” đột ngột cơ thể làm chậm lại bước đi hoặc làm họ phải dừng bước hoàn toàn. Họ cũng có thể có rối loạn bước trong khi thực hiện một hoạt động khác cùng lúc.
          Công trình nghiên cứu được công bố trong số tháng 12 của The Journal of Neurologic Physical Therapy.Tác giả lãnh đạo công trình là Madeleine Hackney của Washington University School of Medicine ở St Louis, Missouri.

         Các nhà nghiên cứu đã mô tả những gì đã xảy ra khi 19 bệnh nhân bị bệnh Parkinson đã theo học hoặc 20 buổi học nhảy tango hoặc 20 buổi tập thể dục.

Buổi tập thể dục gồm một giờ vận động , phần lớn ngồi trên ghế hoặc dùng các ghế để hỗ trợ. Buổi học nhảy tango thì khí lực hơn, và tập trung vào động tác duỗi, thăng bằng, động tác đôi chân và sự phối hợp thời gian

        Cả hai nhóm đã cho thấy sự cải thiện toàn bộ, nhưng chỉ có những người học nhảy tango là có vẻ được cải thiện tốt hơn về sự thăng bằng. Sự cải thiện này là khá giới hạn, và các nhà nghiên cứu nói rằng cần phải có nhiều nghiên cứu hơn nữa. ( INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 14/2/2008) 

                             
BS NGUYỄN VĂN THỊNH
                                          ( 22/2/2008 )

  
                                                                                                                                 

Trở về Trang Chính