|
1/ THOMAS HODGKIN
Lịch sử của bệnh Hodgkin bắt đầu vào năm 1666. Đó không
phải là dạng ung thư đầu tiên được khám phá, mà là dạng ung thư
đầu tiên được tìm cách chống lại bằng điều trị.Và đã thành
công.
Năm 1666, thầy thuốc và nhà giải phẫu (anatomiste)
người Ý Marcelleo Malpighi (1628- 1694) xuất bản De viscerum
structuru exercitatio anatomica.Trong công trình nghiên cứu giải
phẫu học về cấu trúc của các nội tạng này, người mà chúng ta xem
là nhà phát minh ra môn giải phẫu học vi thể (anatomie
microscopique) là người đầu tiên đã mô tả bệnh Hodgkin.Vào thời
đó ông chủ yếu chuyên tâm vào nghiên cứu các cấu trúc không thể
nhìn thấy được của cơ thể, nhờ một dụng cụ mới nguyên gốc từ Hoà
Lan : kính hiển vi. Chính nhờ vậy mà ông đã khám phá các nhú vị
giác (papilles gustatives) của lưỡi, các tế bào hắc tố
(mélanocytes) của biểu bì và các đường nối thần kinh giữa tủy
sống và các dây thần kinh.
ĐỨA CON CỦA CÁC TÍN ĐỒ GIÁO PHÁI QUAKER
100 năm sau đó, chúng ta chứng kiến sự sinh ra đời, ở
Pentoville, Middlesex, Thomas, đứa con thứ ba của John Hodgkin
và Elizabeth Rickman, hai tín đồ Thanh giáo của giáo phái
Quaker, sống trong sự tuân thủ nghiêm ngặt những giới luật của
tôn giáo này. Những người theo giáo phái Quaker, theo định
nghĩa, dành rất it thời gian cho những việc phù phiếm, vì vậy
trong suốt thời niên thiếu của mình, chàng trai Hodgkin, ngoài
những học hỏi khác ra, say mê học các tiếng nói khác. Mặc dầu
còn rất trẻ, Hodgkin đã thông thạo ít nhất là 5 thứ tiếng :
tiếng Latin, tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Đức và tiếng Tây ban
nha.Vào tháng 9 năm 1819, lúc 21 tuổi ( khá chậm vào thời đó),
ông bắt đầu học Y Khoa ở Hospices réunis de St Thomas et St Guy.
Sau khi học ở đại học Edimbourg, Hodgkin bắt đầu đi vòng quanh
châu Âu.Chúng ta đang ở năm 1821. Ở Paris, ông đã làm quen với
René Laennec, và đã đem về Anh cái ống nghe mà Laenec vừa mới
phát minh. Bài nói chuyện về dụng cụ mới này được Hodgkin trình
bày ở Londres nhưng chỉ mang lại sự hoài nghi.Tuy vậy, chẳng bao
lâu sau đó chiếc ống nghe đã được công nhận trong giới y khoa,
kể cả ở Anh.
TỪ BỆNH XÁ ĐẾN NHÀ BẢO TÀNG
Sau khi tốt nghiệp y khoa, Hodgkin trở nên hội viên của Royal
College of Physicians de Londres và được London Dispensary tuyển
mộ làm thầy thuốc thực hành. Các bệnh xá (dispensaire) thời đó
gần như tương ứng với các phòng cấp cứu ngày nay. Các bệnh nhân,
nghèo khó nhiều hơn là giàu sang, khi bị những vấn đề nghiêm
trọng về sức khoẻ, đến bệnh xá để xin được cứu chữa. Các thầy
thuốc làm việc ở các bệnh xá này chỉ lảnh một tiền lương tượng
trưng. Sau thời gian phục vụ được hơn hai năm, Hodgkin giã từ
bệnh xá. Ông trách bệnh xá chỉ tuyển dụng các thầy thuốc chỉ sẵn
lòng làm việc vì miếng ăn, hơn là những người có thể đảm bảo một
y khoa có chất lượng. Sau đó ông được giao phó chức vụ người trợ
tá (curateur) của musée de pathologie của trường y của bệnh viện
St Guy. Chính ở đây ông bắt đầu sự nghiệp nhà giải phẫu bệnh học
(anatomo-pathologiste), một hoạt động mà ông sẽ luôn luôn mải mê
hết sức nhiệt tình.Chỉ mới đảm nhận chức vụ được vài năm thế mà
ông đã công bố một danh mục thống kê và mô tả 1.677 chế phẩm của
musée. Qua đó, ông cũng chứng tỏ các hậu quả của vài căn bệnh
lên những cơ quan.Thế là từ nay, danh tiếng nhà giải phẫu bệnh
học của ông đã được xác lập.
TRỞ THÀNH BẤT TỬ NHỜ MỘT CĂN BỆNH.
Năm 1832, Hodgkin công bố trong tạp chí của Hiệp Hội Nội và
Ngoại khoa của Luân Đôn, một bài báo về các bệnh bạch huyết
(maladies lymphatiques), On some morbid appearances of the
absorbent glands and spleens.Trong đó ông mô tả căn bệnh mà
chẳng bao lâu sau đó sẽ mang tên ông. Điều này là nhờ Samuel
Wilks, một thầy thuốc người Anh khác công bố năm 1885 một tác
phẩm quan trọng về căn bệnh này và ông ta đã dùng tên của
Hodgkin để chỉ căn bệnh đó. Sau khi được thăng chức ở bệnh viện
St Guy, Hodgkin cuối cùng rời bệnh viện này để chuyên tâm vào y
khoa xã hội (médecine sociale) và hết lòng vì sự nghiệp phục vụ
sức khỏe cho những người nghèo và những người không được ai đếm
xỉa đến. Ông rất quan tâm đến những người amérindiens và dân Mỹ
gốc châu Phi của Hoa Kỳ.Ông thành lập British and Foreign
Aborigines Protection Society, một cơ quan sau đó sẽ trở thành
Société Britanique et étrangère anti-esclavagiste.( SEMPER
12/2007)
2/ HEN PHẾ QUẢN VÀ BỆNH BÉO PHÌ
Sự thặng dư thể trọng (excès pondéral) làm gia tăng
nguy cơ nhập viện vì cơn hen phế quản nặng. Phải chăng chứng béo
phì (obésité) làm trầm trọng bệnh hen phế quản , hay đó chỉ là
một sự gia tăng các triệu chứng mà thôi ? Các tác giả đã thu
thập các dữ kiện của 426 bệnh nhân đến phòng cấp cứu vì các cơn
hen phế quản nặng. Những người bị thặng dư thể trọng hoặc béo
phì có một tỷ lệ nhập viện quan trọng hơn và lưu lại ở phòng cấp
cứu lâu hơn. 14% các bệnh nhân bị thặng dư thể trọng đã được
nhập viện so với 7% trong nhóm người có trọng lượng bình thường.
Các tác giả gợi ý rằng các bệnh nhân hen phế quân bị thặng dư
thể trọng thường có một dạng hen phế quản nặng hơn những người
có trọng lượng bình thường. Nhưng cũng có thể rằng những người
hen phế quản bị thặng dư thể trọng cảm thấy một cách mạnh mẽ hơn
các triệu chứng liên quan với khó thở. Dầu thế nào đi nữa, các
triệu chứng khó thở có khuynh hướng kéo dài nơi những người béo
phì, điều này giải thích nguy cơ nhập viện gia tăng. ( LE
JOURNAL DU MEDECIN 14/12/2007)
3/ TÌNH TRẠNG TANG CHẾ LÀM GIA TĂNG TỶ LỆ TỬ
VONG.
Việc mất một người thân trong gia đình làm gia tăng tỷ
lệ mắc phải những vấn đề về sức khoẻ cũng như tỷ lệ tử vong, chủ
yếu trong những tuần lễ đầu tiên hay những tháng đầu tiên sau
cái chết của người thân thương này. Đó là điều mà M.Stroebe và
các cộng sự viên (Utrecht) xác nhận sau khi đã thực hiện một
duyệt xét các văn liệu để biết ảnh hưởng của tình trạng tang chế
(deuil) sau khi mất một người thân lên sức khỏe vật lý và tinh
thần của người chịu tang.Tình trạng tang chế không thể được xem
như là một căn bệnh, và hầu hết những người chịu tang đều có khả
năng đương đầu với vấn đề này mà không cần phải nhờ đến một sự
giúp đỡ tâm lý có tính chất nghề nghiệp.Tuy nhiên, sự buồn rầu
do việc mất một người thân kèm theo một nguy cơ gia tăng tỷ lệ
tử vong vì nhiều lý do, trong đó có tự tử. Nguy cơ quan trọng
nhất xảy ra trong thời kỳ tiếp theo ngay sau ngay cái chết của
thân. Nguy cơ nơi những người đàn ông mất vợ quan trọng hơn nguy
cơ nơi các bà mất chồng, và nguy cơ nơi người da trắng quan
trọng hơn nguy cơ nơi người da đen. Theo các tác giả, tình trạng
tang chế chịu trách nhiệm về một sự gia tăng các triệu chứng vật
lý cũng như tâm thần. Những người bị mất một người thân thương
thường cần đến trợ giúp về y tế hơn. Các tác giả gợi ý tăng
cường việc nghiên cứu về các hậu quả của tang chế sau khi mất
một người thân không phải là vợ hoặc chồng ( con, cha mẹ..)
( LE JOURNAL DU MEDECIN 14/12/2007)
4/ NHỮNG NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG HÔ HẤP LÀM TĂNG GẤP ĐÔI NGUY CƠ BỊ
NHỒI MÁU CƠ TIM VÀ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.
Có một liên kết chặt giữa một nhiễm trùng đường hô hấp
mới xảy ra và sự xuất hiện một sự cố tim mạch quan trọng (nhồi
máu cơ tim xảy ra lần đầu hay tai biến mạch máu não).
Những nhiễm trùng đường hô hấp có thể được liên kết
với một gia tăng nguy cơ mắc phải các tai biến tim mạch, nhồi
máu cơ tim và tai biến mạch máu não ( vả lại các biến cố tim
mạch này thường xảy ra vào mùa đông hơn ).Thật vậy người ta biết
rằng có một tỷ lệ tử vong vượt mức do bệnh động mạch vành và
tai biến mạch máu não trong những tháng mùa đông.
Các nhà nghiên cứu của London School of Hygiene and
Tropical Medicine ở Vương Quốc Anh, Tim Clayton và Tom Meade đã
thực hiện một công trình nghiên cứu lâm sàng để mô tả mối liên
hệ này. Công trình nghiên cứu đã được công bố on-line hôm 6/12
vừa qua trên site của European Heart Journal. Các nhà nghiên cứu
căn cứ trên một cơ sở các dữ kiện y khoa tổng quát, IMS Disease
nalyzer Mediplus Database, chứa khoảng 2 triệu bệnh nhân được
đăng ký và khoảng 500 thầy thuốc đa khoa, để nhận diện tất cả
các trường hợp nhồi máu cơ tim xảy ra lần đầu và tai biến mạch
máu não, và những trường hợp chứng. Họ cũng nêu lên những trường
hợp thăm khám do bệnh nhiễm trùng đường hô hấp xảy ra trong năm
trước đó.
Tính tổng cộng, có 11.155 trường hợp nhồi máu cơ tim
và 9.208 tai biến mạch máu não đã được xác nhận. Người ta đã ghi
nhận 326 trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp xảy ra trong tháng
trước khi bị nhồi máu cơ tim và 260 trường hợp nhiễm trùng đường
hô hấp xảy ra trong tháng trước khi bị tai biến mạch máu não.
Các tác giả người Anh đã phát hiện một sự gia tăng gấp
đôi nguy cơ của hai loại biến cố tim mạch này trong tuần lễ sau
khi bị một nhiễm trùng đường hô hấp.Tuy nhiên mối liên hệ này
suy sút đối với thời gian. Sau một tháng, nguy cơ chỉ còn gia
tăng một ít mà thôi. Mối quan hệ này không phụ thuộc vào tuổi
tác hay giống tính. Cũng có vài chứng cớ về mối liên hệ giữa một
nhiễm trùng đường tiểu và nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu
não xảy ra sau đó.
Đối với các tác giả, những dữ kiện này thêm vào tập
các bằng cớ liên kết những nhiễm trùng đường hô hấp với nguy cơ
bị các sự cố tim mạch về sau này.
« Do đó việc làm giảm bớt số nhiễm trùng đường hô hấp, không
những bằng chủng ngừa mà cả bằng điều trị hay phòng ngừa chúng
có thể là thật sự có lợi.Tuy nhiên nguy cơ tuyệt đối xảy ra một
biến cố tim mạch như thế nơi một người bị nhiễm trùng đường hô
hấp vẫn còn thấp », các tác giả xác nhận như vậy.( LE JOURNAL DU
MEDECIN 18/12/2007)
5/ NHIỄM ĐỘC THUỐC LÁ VÀ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI
2
Những người hút thuốc lá có nguy cơ rõ rệt hơn phát
triển một bệnh đái đường loai 2, một phân tích méta nhiều công
trình nghiên cứu được công bố trên tờ JAMA gợi ý như thế.
Carole Willi và các cộng sự viên ( Thụy Sĩ và
Canada) đã chọn lọc 25 công trình nghiên cứu quy tụ 1,2 triệu
người tham dự. Các tác giả đã có thể nhận diện trong số những
người này 55.844 trường hợp đái đường suốt trong một thời gian
theo dõi từ 5 đến 30 năm.
Bệnh đái đường thường xảy ra nơi những người hút
thuốc lá hơn là những người không hút thuốc. Chính người nghiện
thuốc lá nặng ( > 20 điếu mỗi ngày) là bị nguy cơ phát triển
bệnh đái đường cao nhất. Nguy cơ nơi những người nghiện thuốc lá
nhẹ hơn là 29%. Sự liên kết kém hơn nơi những người trước đây đã
từng hút thuốc (nguy cơ gia tăng là 23%). Các tác giả mong có
những nghiên cứu bổ sung để làm sáng tỏ các cơ chế chi phối mối
liên hệ này.
Trong bài xã luận của cùng tờ tạp chí, Eric Ding nêu lên quy mô
phát triển của bệnh đái đường : theo ông , cứ 3 người Mỹ sinh
năm 2000 thì sẽ có một người sẽ phát triển vào một ngày nào đó
một bệnh đái đường. Trên quy mô thế giới, mức độ lưu hành của
bệnh được đánh giá là 150.000 triệu người, một con số sẽ tăng
gấp đôi vào năm 2025.( LE JOURNAL DU MEDECIN 18/12/2007)
6/ CHOLESTEROL TĂNG CAO VÀ CHẾT VÌ BỆNH TIM DO THIẾU MÁU CỤC BỘ.
Tăng
cholestérol-huyết được liên kết với tử vong vì bệnh tim do thiếu
máu cục bộ (maladie ischémique du cœur), ở người già cũng như ở
những người thuộc lứa tuổi trung bình, và điều này độc lập với
huyết áp. Đó là kết luận của một phân tích méta trên 61 công
trình nghiên cứu với tổng cộng 55.000 trường hợp tử vong do bệnh
huyết quản ( 34.000 vì bệnh tim do thiếu máu cục bộ, 12.000 do
tai biến mạch máu não và 10.000 do những nguyên nhân khác), chủ
yếu ở Tây Âu và Bắc Mỹ.
Các tác giả đã đi đến kết luận là cholestérol toàn thể
được liên kết một cách dương tính với tử vong vì bệnh tim do
thiếu máu cục bộ, ở đàn ông và phụ nữ, ở lứa tuổi trung bình
hoặc cao, dầu huyết áp là bao nhiêu.Tỷ số cholestérol toàn
thể/HDL dường như là chỉ dấu tiên đoán quan trọng nhất của tử
vong vì bệnh tim do thiếu máu cục bộ.Việc không có mối liên hệ
độc lập giữa cholestérol và tử vong do tai biến mạch máu não,
nhất là ở lứa tuổi cao hay ở một mức huyết áp cao, nên là đối
tượng của những nghiên cứu sâu rộng hơn, các tác giả đã đánh giá
như vậy. Dầu thế nào đi nữa, các công trình nghiên cứu gợi ý
rằng các statines không những chỉ làm giảm số các biến cố động
mạch vành mà còn làm giảm cả số tai biến mạch máu não nơi các
bệnh nhân thuộc mọi lứa tuổi có những trị số huyết áp khác
nhau.( LE JOURNAL DU MEDECIN 14/12/2009)
7/ U TUYẾN ĐẠI TRỰC TRÀNG,TRÁI CÂY VÀ
RAU
Trong chương trình nghiên cứu điều tra phát hiện ung thư PLCO (
tuyến tiền liệt, phổi, đại-trực tràng và buồng trứng ), A.Millen
và các công sự viên (Hoa Kỳ) đã nghiên cứu mối quan hệ
giữa việc tiêu thụ trái cây và rau và nguy cơ mắc phải u tuyến
đại-trực tràng ( adénomes colorectaux ).Trong thử nghiệm này,
được tiến hành từ năm 1993 đến 2001, trong một nhóm đàn ông và
phụ nữ tuổi từ 55 đến 74, các nhà nghiên cứu đã so sánh 3.057
trường hợp trong đó họ tìm thấy ít nhất một u tuyến (adénome)
trong đại tràng, với 29.413 người chứng. Nhờ một bảng câu hỏi,
họ đã định lượng được mức độ tiêu thụ trái cây và rau trong 12
tháng trước khi thử nghiệm.
Các kết quả cho thấy rằng nguy cơ mắc phải u tuyến ở
phần xa của đại tràng thấp hơn nhiều trong số những người ăn
nhiều trái cây và rau nhất ( khoảng 5,7 suất mỗi ngày). Tác
dụng bảo vệ của trái cây và rau chỉ được quan sát đối với các u
tuyến đại tràng (adénomes coliques) mà không đối với u tuyến
trực tràng (adénomes rectaux). Lượng rau được tiêu thụ không
được liên kết một cách đáng kể với việc giảm nguy cơ bị u tuyến.
Các nhà nghiên cứu cũng nhận xét rằng các chế độ ăn giàu trái
cây, rau có màu vàng đậm hay xanh sẫm, hành và tỏi được liên kết
với một sự giảm ở mức độ vừa phải nguy cơ bị ung thư đại-trực
tràng. ( LE JOURNAL DU MEDECIN 18/12/2007)
8/ VIỆC GHÉP NHỮNG TẾ BÀO GỐC ĐÚNG LÀ ĐÃ SỬA CHỮA TRÁI TIM BỊ
THƯƠNG TỔN.
Được ghép vào trong tim, phải chăng các tế bào gốc phát
xuất từ tủy xương sẽ được biến hóa thành các tế bào cơ tim ? Từ
giữa năm 1990, nhiều chục bệnh nhân trên thế giới đã thấy tình
trạng sức khỏe của mình được cải thiện nhờ các công cuộc ghép
tiền phong này… mà cơ chế vận hành đã không được làm sáng tỏ.
Nhưng các công trình của Piero Anversa của Viện bệnh học tim
phân tử ở Louisville (Hoa Kỳ) đã chứng minh rằng các tế bào gốc
được ghép đúng là đã sửa chữa thành của những trái tim bị thương
tổn ( ví dụ bởi các nhồi máu cơ tim lập đi lập lại). Cùng với
nhóm nghiên cứu, thầy thuốc khoa tim đã theo dõi hàng giờ số
phận của các tế bào được ghép trong một trái tim chuột bị thương
tổn. Bằng cách sử dụng các chỉ dấu tế bào (một loại « thẻ căn
cước » phân tử), ông đã có thể thấy được sự biến đổi này xảy ra
một cách hiện thực. Các tế bào được ghép đã bắt đầu đánh mất các
đặc điểm của tế bào gốc của chúng trong vòng 24-36 giờ sau phẫu
thuật. Sau 36 giờ, các vùng rộng lớn của tim đã được sửa chữa
nhờ sự xuất hiện cac tế bào cơ mới !
( SCIENCE ET VIE 12/2007)
9/ VIỆC CHA MẸ QUÁ CHĂM CHÚT CON CÁI LÀ YẾU
TỐ NGUY CƠ CỦA CHỨNG CHÁN ĂN ?
Các cô gái, thường là đối tượng bị phê bình bởi các
thành viên trong gia đình về thể trọng và hình dáng bên ngoài,
sẽ có nhiều nguy cơ hơn phát triển các rối loạn về ăn uống .
Chứng chán ăn (anorexie) chủ yếu là do
cha mẹ quá chăm chút, chứng ăn vô độ (boulimie) là do sự đòi hỏi
cao của cha mẹ . Đó là những phát biểu của Tracey Wade (Flinders
University, Adelaide, Australia) và nhóm nghiên cứu trong
International Journal of Eating Disorders.
Các nhà nghiên cứu Úc Đại Lợi đã nghiên cứu ảnh hưởng
của thái độ của cha mẹ lên sự phát triển các rối loạn về ăn uống
xảy ra nơi các con của họ. Để thực hiện điều đó, họ đã tập hợp
các dữ kiện của 622 trẻ sinh đôi thật sự và đã xác nhận rằng
những lời phê phán của gia đình về hình dáng và cách ăn uống
của các con gái của họ đã làm gia tăng nguy cơ phát triển chứng
chán ăn (anorexie) và chứng ăn vô độ (boulimie). Các thiếu nữ
mắc phải chứng ăn vô độ thường nói rằng cha mẹ của các cô đã có
những yêu cầu cao đối với các cô . Thái độ này của cha mẹ cũng
thường được nhận thấy nơi các thanh niên thiếu nữ bị chứng trầm
cảm.Trái lại, trong công trình nghiên cứu này, những người bị
chứng chán ăn (anorexiques) thường có cha mẹ quá chăm chút
(surprotecteur) và kiểm soát quá đáng lên con gái mình so với
các cô gái cùng lứa tuổi nhưng không bị rối loạn về ăn uống.
( LE JOURNAL DU MEDECIN 7/12/2007)
10/ GÀ MÁI CỤC TÁC HAY VỊT ĐỰC CẠC CẠC ?
Ai nói nhiều nhất ? Các ông hay các bà ? Các thăm dò
thường gợi ý rằng chính các bà là có năng khiếu nhất trong nghệ
thuật nói xàm.Thế mà một công trình nghiên cứu khoa học lại đi
đến kết luận ngược lại.
Campbell Leaper và Melanie Ayres của Đại Học
California đã tiến hành một công trình nghiên cứu thích đáng
bằng một phân tích méta về các khác nhau về giống có thể được
phát hiện trong thói quen nói chuyện. Công trình nghiên cứu này
được công bố trong Personality and Social Psychology Review số
tháng 11.
Mọi người đều rất ngạc nhiên vì kết quả cho thấy các ông dường
như ham nói nhiều hơn các bà, mặc dầu sự khác nhau này tuy thấp
nhưng lại có ý nghĩa về mặt thống kê. Không phải lúc nào và bất
cứ ở đâu các ông cũng thao thao bất tuyệt bởi vì về mặt đó các
bà sẽ biện bạch giỏi hơn trước mặt các con hay đồng nghiệp của
mình. Nhưng lúc phải đàm thoại với một người thứ ba hoặc lúc
phải mặt đối mặt với các bà vợ của mình, các ông sẽ trở thành sư
phụ về ăn nói.
Các tác
giả cũng chú ý đến loại và nội dung của cuộc nói chuyện. Các ông
thường có khuynh hướng muốn thuyết phục người đối thoại của mình
trong khi các bà lại có khuynh hướng chia sẻ các quan điểm với
người đối thoại hơn.
Theo Leaper và Ayres, công trình nghiên cứu này đập vỡ sự ngự
trị của khuôn mẫu sáo mòn và giản đơn về những dị biệt về giống
trong việc sử dụng ngôn từ.
“ Cảm tưởng cho rằng não bộ của các bà được tạo ra để
thống trị các ông về mặt ngôn từ là hoàn toàn bông lông. Một cảm
tưởng như thế là không hợp với sự khác nhau (mặc dầu ít) mà
chúng tôi đã quan sát được giữa đàn ông và phụ nữ và không đúng
với sự kiện rằng chính bối cảnh của cuộc chuyện trò là chủ yếu
trong việc quyết định ai sẽ là kẻ độc quyền của lời nói ”, các
nhà nghiên cứu đã bình luận như vậy.
Do đó hai tác giả của công trình nghiên cứu đã gán những
khác nhau về giống được quan sát lúc sử dụng lời nói là do các
yếu tố xã hội hơn là sinh học.(
LE JOURNAL DU MEDECIN 4/12/2007)
BS
NGUYỄN VĂN THỊNH
( 20/12/2007)
Trở về Trang Chính
|